Phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững tại tỉnh Tuyên Quang

CT&PT - Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững, lấy tỉnh Tuyên Quang làm trường hợp nghiên cứu điển hình. Đồng thời, chỉ ra những khó khăn, hạn chế chủ yếu về nguồn lực, thể chế, nhận thức và tổ chức thực hiện. Từ yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản địa theo hướng bền vững, góp phần định hướng mô hình phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và môi trường ở địa phương.

Hiện nay, kinh tế tuần hoàn đã trở thành một mô hình phát triển tất yếu. Mục tiêu cốt lõi của kinh tế tuần hoàn là tối ưu hóa giá trị của vật liệu và tài nguyên, bảo đảm chúng được sử dụng càng lâu càng tốt, hướng tới xây dựng một nền kinh tế xanh, ít chất thải, carbon thấp và phát triển bền vững. Tỉnh Tuyên Quang1 với đặc thù là tỉnh miền núi biên giới phía bắc, có địa hình hiểm trở, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tài nguyên thiên nhiên phong phú và là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với những nét văn hóa bản địa độc đáo. Đối mặt với những thách thức trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu cấp thiết đối với Tuyên Quang là phải phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa và phát triển bền vững.

1. Một số vấn đề chung về phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững
1.1. Kinh tế tuần hoàn và nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn
Bản chất của kinh tế tuần hoàn là đóng kín các vòng lặp vật chất và năng lượng, tạo ra một hệ thống kinh tế có khả năng phục hồi, ít phụ thuộc vào nguồn tài nguyên hữu hạn. Khái niệm kinh tế tuần hoàn (Circular Economy - CE) bắt đầu xuất hiện và được định hình rõ nét từ những năm 1990, nhằm phản ứng lại những tác động tiêu cực của mô hình kinh tế tuyến tính đến sức khỏe con người, hệ sinh thái và sự phát triển bền vững. Mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau, kinh tế tuần hoàn đều xoay quanh mục tiêu cốt lõi là tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm thiểu chất thải. Kinh tế tuần hoàn được hiểu là một mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ được tổ chức nhằm kéo dài tuổi thọ của vật chất, loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường và giảm thiểu tổn hại đến chất lượng cuộc sống. Điều này được thực hiện thông qua các giải pháp như tái chế chất thải, sử dụng nguyên liệu tái chế làm nguyên liệu đầu vào và quản lý hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo. Nguyên tắc chủ đạo là các vật liệu và tài nguyên được sử dụng càng lâu thì giá trị thu được từ chúng càng nhiều, tối ưu hóa việc quay vòng vật chất và năng lượng. Nền kinh tế tuần hoàn hoạt động dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: (1) Bảo toàn và cải thiện nguồn lực tự nhiên; kiểm soát chặt chẽ các nguồn tài nguyên có hạn và cân bằng các dòng tài nguyên tái tạo, giảm thiểu khai thác nguyên sinh. (2) Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên; duy trì sản phẩm, các thành phần của sản phẩm và nguyên vật liệu ở mức giá trị và tiện ích cao nhất trong suốt vòng đời kỹ thuật và sinh học, thông qua tái sử dụng, sửa chữa, tái sản xuất và tái chế. (3) Thúc đẩy tính hiệu quả của hệ thống; phát hiện và loại bỏ những tác động tiêu cực từ bên ngoài của hoạt động kinh tế, như ô nhiễm, phát thải khí nhà kính và suy thoái hệ sinh thái.

1.2. Phát triển kinh tế tuần hoàn là cơ sở để vận hành mô hình kinh tế chuyển đổi xanh, ít chất thải, carbon thấp 

Phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm mức độ khai thác tài nguyên, giảm tác động tiêu cực đến môi trường chính là cơ sở để vận hành mô hình kinh tế chuyển đổi xanh, ít chất thải, carbon thấp. Kinh tế tuần hoàn là một công cụ mạnh mẽ và là trụ cột chính của quá trình chuyển đổi xanh, dịch chuyểnkinh tế và xã hội hướng tới các hoạt động bền vững hơn, giảm thiểu tác động đến môi trường. Bằng cách sử dụng nhiên liệu sạch, giảm nhu cầu về nguyên vật liệu mới, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm chất thải, kinh tế tuần hoàn trực tiếp góp phần vào các mục tiêu của chuyển đổi xanh. Kinh tế tuần hoàn tập trung vào việc giữ vật liệu trong vòng lặp kinh tế thông qua tái sử dụng, tái chế và phục hồi năng lượng từ chất thải, giảm đáng kể lượng rác thải ra môi trường và áp lực lên các bãi chôn lấp. Do vậy, kinh tế tuần hoàn bảo đảm cho sự vận hành của nền kinh tế ít chất thải, bền vững. Bằng cách chú trọng sử dụng nhiên liệu sạch, giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch, giảm khai thác nguyên liệu thô, sản xuất ít sản phẩm mới, và tối ưu hóa quy trình sản xuất dẫn đến giảm đáng kể lượng năng lượng tiêu thụ và giảm phát thải khí nhà kính. Ngoài ra, việc giảm chất thải chôn lấp cũng góp phần hạn chế phát thải khí metan (CH4). Do đó, chỉ có vận hành mô hình kinh tế tuần hoàn thì mới bảo đảm định hình một nền công nghiệp carbon thấp, bảo vệ môi trường bền vững. Việc tích hợp mô hình kinh tế tuần hoàn vào chiến lược phát triển ở Tuyên Quang góp phần giúp Việt Nam thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu (như cam kết Net Zero vào năm 2050) và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development GoalsSDGs) liên quan đến sản xuất và tiêu dùng bền vững, hành động vì khí hậu và bảo vệ tài nguyên.

1.3. Phát triển kinh tế tuần hoàn là cơ sở để bảo tồn văn hóa bản địa tỉnh Tuyên Quang                                       

Một trong những đặc điểm nổi bật của vùng miền núi biên giới như tỉnh Tuyên Quang là cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, giàu có giá trị văn hóa bản địa của đồng bào các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ở những vùng miền này lại đặc biệt khó khăn; giá trị văn hóa bản địa đứng trước nguy cơ bị mai một do những hạn chế, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là khai thác tài nguyên thiếu bền vững. Tuyên Quang là vùng đất có hơn 20 đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trải qua lịch sử, đồng bào các dân tộc nơi đây đã tạo dựng nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu, mang đậm tính bản địa. Những di sản văn hóa đó bao gồm hệ thống tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và năng lực, thói quen của cư dân. Đây không chỉ là di sản mà còn là nền tảng của đời sống, động lực phát triển kinh tế - xã hội. Các tri thức truyền thống về canh tác, sử dụng tài nguyên, quản lý rừng, và các nghi lễ liên quan đến tự nhiên hàm chứa những nguyên tắc bền vững, hài hòa với môi trường. Nói cách khác, những giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang gắn bó mật thiết với môi trường tự nhiên. Đối với tỉnh Tuyên Quang, phát triển kinh tế tuần hoàn, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ là cơ sở quan trọng bảo đảm sự bền vững của môi trường sống và nâng cao chất lượng đời sống kinh tế - xã hội. Do vậy, những tri thức bản địa về sử dụng cây thuốc, canh tác nông nghiệp tự nhiên, thủ công mỹ nghệ sử dụng vật liệu địa phương... là những hình thức của kinh tế tuần hoàn đã tồn tại từ lâu, tiếp tục có điều kiện phát triển. Việc phát triển kinh tế - xã hội dựa trên bảo tồn và vận dụng tri thức này góp phần giảm thiểu chất thải, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên. Văn hóa bản địa của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang luôn gắn bó mật thiết với sinh hoạt kinh tế - xã hội và môi trường tự nhiên. Do vậy, phát triển kinh tế tuần hoàn góp phần quan trọng thúc đẩy ý thức bảo vệ môi trường. Trong đó, nổi bật là các giá trị văn hóa như: tôn trọng thiên nhiên, tinh thần cộng đồng và trách nhiệm với thế hệ tương lai, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Việc phát triển kinh tế tuần hoàn dựa trên các sản phẩm văn hóa (thủ công mĩ nghệ, ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật) không chỉ giúp đa dạng hóa sinh kế, giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên mà còn tăng cường sự tự chủ của cộng đồng, góp phần bảo đảm sinh kế bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa bản địa là tài nguyên vô giá để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa, mang lại thu nhập cho người dân địa phương đồng thời bảo tồn giá trị truyền thống. Phát triển kinh tế tuần hoàn cũng là động lực thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường và tối ưu hóa tài nguyên, mà còn giữ gìn bản sắc, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, hướng tới mô hình phát triển bền vững và toàn diện. Nói cách khác, đối với Tuyên Quang, việc phát triển kinh tế tuần hoàn không thể tách rời vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa bởi đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, hài hòa, cân bằng giữa con người, thiên nhiên và bản sắc văn hóa.
2. Thực trạng phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững tỉnh Tuyên Quang
2.1. Vài nét về tỉnh Tuyên Quang

Tỉnh Tuyên Quang mới (sáp nhập từ hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang cũ) là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, có diện tích 13.795,50 km² và dân số 1.865.270 người2. Tuyên Quang là địa bàn sinh sống của hơn 20 dân tộc thiểu số (chiếm hơn 50% dân số của tỉnh). Trong đó, bao gồm đồng bào dân tộc Tày (chiếm số lượng lớn nhất trong các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang), Dao, Sán Chay (Cao Lan), Mông, Nùng, Sán Dìu, Pà Thẻn, La Chỉ, Phù Lá, Pu Péo, Lô Lô, Mường, Thái... Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang có những đặc trưng riêng về văn hóa, được bảo tồn lâu dài, cùng góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu, thống nhất trong đa dạng, mang đậm tính bản địa. Trong những năm qua, trước khi sáp nhập tỉnh, Tuyên Quang và Hà Giang đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp (chủ yếu khai khoáng), dịch vụ và thương mại. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, an sinh xã hội, giáo dục đào tạo, y tế được quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Tuy nhiên, xét về mặt bằng chung, Tuyên Quang vẫn nằm trong nhóm các tỉnh còn nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội. Theo kết quả thống kê quy mô kinh tế các địa phương dựa trên tổng GRDP năm 2024, sau khi sáp nhập, tổng GRDP của Tuyên Quang là 86.247 tỷ đồng, đứng thứ 28/34 tỉnh, thành phố của cả nước. Năm 2022, GRDP bình quân đầu người của Tuyên Quang là 51,16 triệu đồng/người/năm (đứng thứ 53/63 tỉnh, thành phố), của Hà Giang là 33,54 triệu đồng/người/năm (đứng thứ 63/63 tỉnh, thành phố). Tuyên Quang đặc biệt có thế mạnh trong phát triển công nghiệp khai khoáng với nhiều mỏ khoáng sản, có trữ lượng lớn chưa được đầu tư khai thác; phát triển du lịch với nguồn tài nguyên phong phú về địa hình, địa vật và lịch sử, văn hóa. Cao nguyên đá Đồng Văn trở thành di sản, nguồn tài nguyên du lịch quan trọng. Bên cạnh đó, những di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng là lợi thế lớn. Hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và văn hóa đã trở thành điểm đến, địa chỉ đỏ thu hút đông đảo khách du lịch quốc tế và trong nước. Tuyên Quang đặc biệt có thế mạnh trong phát triển nông nghiệp xanh, nhất là cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày như chè3. Thủy điện, khai thác, chế biến lâm sản cũng là những lợi thế mà Tuyên Quang có thể phát huy để phát triển kinh tế theo hướng bền vững.
2.2. Một số kết quả đạt được trong phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững tại Tuyên Quang
Trước khi sáp nhập thành một tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang đã có nhiều chủ trương, triển khai nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, chú trọng xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển xanh, công nghiệp sinh thái, thông minh; phát triển hệ thống dịch vụ đa dạng, hiện đại; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và kết nối; thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa, nhất là du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng. Các địa phương đã tập trung nhiều nỗ lực giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn văn hóa bản địa và bảo vệ môi trường, hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn. Những kết quả đạt được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Một là, bước đầu giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Tuyên Quang là địa phương phải đối mặt với thách thức không nhỏ trong việc cân bằng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, nhất là trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, sản xuất thủ công gây ô nhiễm, tư duy canh tác lạc hậu, phát triển du lịch nóng, thiếu bền vững. Để khắc phục, cấp ủy và chính quyền tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp trong tuyên truyền, giáo dục người dân nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển bền vững, nhằm thay đổi thói quen tư duy và hành động trong sản xuất và đời sống, giảm thiểu tác động tiêu cực đến văn hóa và môi trường. Chiến lược phát triển của tỉnh Tuyên Quang trước và sau sáp nhập đã chú trọng lồng ghép những chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường, trong đó đặc biệt nhấn mạnh xây dựng văn hóa trong kinh tế, trong đội ngũ doanh nhân, văn hóa trong ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường sống và trong sản xuất kinh doanh. Chính quyền đã chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc triển khai các nhiệm vụ, mục tiêu, dự án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường. Qua đó, kịp thời điều chỉnh, xử lý nghiêm các hiện tượng vi phạm, đi ngược lại với chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền.
Hai là, thúc đẩy phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng ít chất thải, carbon thấp và tuần hoàn. Lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang hiện nay đã có nhiều nỗ lực, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cơ cấu lại ngành kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến theo chuỗi giá trị bền vững, đa dạng hóa sản phẩm, và ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng, đồng thời giảm thiểu tác động môi trường. Tiêu biểu như các dự án phát triển cây chè (ở Hà Giang) và cây ăn quả, cây chè (ở Tuyên Quang) theo tiêu chuẩn VietGAP đã mang lại động lực mới cho sự phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững4. Xu hướng đa dạng hóa cây trồng tiếp tục được triển khai. Tuyên Quang hiện nay tập trung định hướng phát triển các cây trồng mới cho giá trị kinh tế cao như: chanh tứ quý, thanh long ruột đỏ, nhãn, bưởi, táo, dưa lưới, dưa chuột, dưa hấu, măng tây, góp phần đa dạng hóa sinh kế và tối ưu hóa sử dụng đất nông nghiệp. Tại Tuyên Quang, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng xanh và bền vững, chính quyền chỉ đạo đẩy mạnh triển khai chương trình OCOP với hàng trăm sản phẩm. Các hợp tác xã được đầu tư phát triển, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị (cam, chè, trâu, bò, dê, gà thiến, cá chiên, cây dược liệu, mật ong). Mô hình OCOP và chuỗi giá trị đã thúc đẩy sản xuất khép kín, giảm lãng phí và tăng giá trị sản phẩm. Phát huy thế mạnh của mình, chính quyền và nhân dân tỉnh Tuyên Quang chú trọng đầu tư phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, đa mục đích. Chính quyền hỗ trợ người dân đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, hỗ trợ cây giống chất lượng cao. Thúc đẩy sản xuất theo chứng chỉ FSC, bảo đảm sự phát triển bền vững của rừng, cân bằng giữa các yếu tố môi trường, xã hội và kinh tế với hàng trăm ha rừng được cấp chứng nhận FSC. Đây là minh chứng cho việc quản lý rừng bền vững, có trách nhiệm với môi trường và xã hội, góp phần vào mục tiêu carbon thấp thông qua hấp thụ CO2 và khai thác, chế biến lâm sản hiệu quả5.
Ba là, chú trọng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ theo hướng bền vững. Tuyên Quang chú trọng khắc phục những tác động của của lĩnh vực khai khoáng tới môi trường, thúc đẩy sản xuất công nghiệp sạch theo hướng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, kiểm soát tác động môi trường. Một trong những hướng đi được địa phương chú trọng là đầu tư, thúc đẩy phát triển nghề thủ công truyền thống gắn với phát triển du lịch. Việc duy trì các nghề truyền thống gắn với việc sử dụng nguyên liệu tự nhiên, tái sử dụng phế liệu và tạo ra sản phẩm bền vững. Triển khai các ứng dụng, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp (ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt). Điều này góp phần giảm thiểu sử dụng giấy tờ và tối ưu hóa quy trình.
Bốn là, thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa bền vững gắn với bảo tồn bản sắc dân tộc. Chính quyền, đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang xác định cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch. Chính quyền có nhiều chính sách hộ trợ các địa phương bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, duy trì những hoạt động văn hóa, văn nghệ truyền thống của các dân tộc thiểu số như hát Sình ca (dân tộc Cao Lan), hát Páo Dung (dân tộc Dao đỏ), múa khèn (dân tộc Mông), hát Then, Cọi, đánh Pam, đánh Yến (dân tộc Tày). Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Đầu tư phục dựng lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, mở rộng nguồn tài nguyên du lịch. Tuyên Quang đã chú trọng và đạt nhiều kết quả trong phát triển du lịch trải nghiệm cảnh quan thiên nhiên, du lịch cộng đồng (homestay), du lịch về nguồn... Trong đó, chú trọng bảo tồn và khai thác bền vững cao nguyên đá Đồng Văn, các làng văn hóa, những di sản văn hóa ẩm thực, di tích lịch sử, văn hóa hướng tới khai thác và phát triển bền vững.
2.3. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù có nhiều lợi thế và đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng việc phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững tại Tuyên Quang vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế, đó là: Tuyên Quang vẫn là tỉnh có tiềm lực kinh tế hạn chế, nguồn lực của tỉnh và nguồn đầu tư bên ngoài còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Cơ sở hạ tầng giao thông, công nghệ còn nhiều yếu kém. Chính sách đầu tư, phát triển còn thiếu tính chiến lược, chưa nhất quán; trình độ dân trí còn thấp, nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu trầm trọng, điều này đã ảnh hưởng nhiều tới việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển của tỉnh. Đối mặt với những khó khăn, hiệu quả sản xuất chưa bền vững. Trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, liên kết chuỗi giá trị gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm còn chậm, thiếu ổn định, quy mô nhỏ, thị trường hẹp, tốc độ chuyển đổi chậm, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế; có biểu hiện lạm dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất. Lĩnh vực du lịch và công nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Công nghiệp còn yếu, cơ cấu thiếu bền vững, nặng về khai khoáng; nguồn lực đầu tư cho thiết chế văn hóa, bảo vệ môi trường và các chương trình an sinh xã hội, giáo dục còn hạn chế. Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập về mặt thiết chế. Việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về văn hóa, xã hội và xây dựng con người thiếu đồng bộ, nhiều nơi còn hình thức, chưa thực sự chú ý tới mối quan hệ gắn bó giữa văn hóa với kinh tế và chính trị. Một số chương trình, dự án phát triển kinh tế còn nặng về lợi ích kinh tế, chưa chú trọng đến yếu tố văn hóa và môi trường. Việc bảo vệ, giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của các dân tộc thiểu số (tiếng nói, trang phục, phong tục tập quán, dân ca, dân vũ, nghề truyền thống) chưa được quan tâm, đầu tư thỏa đáng, tương xứng với bản sắc văn hóa các dân tộc. Những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đứng trước nguy cơ suy giảm, mai một nghiêm trọng. Việc xác định và phát triển ngành công nghiệp văn hóa phù hợp với tiềm năng, lợi thế của địa phương bước đầu còn lúng túng, mới được quan tâm triển khai quyết liệt gần đây. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư còn hạn chế, vẫn còn hiện tượng chưa thực hiện nghiêm các quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; bình xét danh hiệu văn hóa ở một số cơ sở còn chưa phản ánh đúng thực chất. Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh còn nhiều thử thách. Tình trạng phai nhạt lý tưởng, suy thoái đạo đức, lối sống, tệ nạn xã hội và tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt ở giới trẻ. Một số cán bộ, đảng viên còn nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân. Việc suy giảm diện tích rừng, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động rõ rệt tới Tuyên Quang. Công tác quy hoạch, quản lý khai thác khoáng sản còn nhiều bất cập, tác động mạnh tới môi trường, cảnh quan. Một bộ phận người dân sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, chế biến nông, lâm sản chưa chấp hành nghiêm quy định về bảo vệ môi trường; lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật; thói quen sử dụng túi nilon, đồ nhựa gây ô nhiễm môi trường. Hiện tượng hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất đai, cháy rừng diễn biến ngày càng phức tạp. Những hạn chế nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Một số cấp ủy, chính quyền, tổ chức, cơ quan, đơn vị, đặc biệt người đứng đầu, chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của việc xây dựng văn hóa, con người và việc gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế tuần hoàn với phát triển văn hóa bản địa hướng đến sự phát triển bền vững. Còn nặng về lợi ích kinh tế, chưa chú trọng nhiều đến yếu tố văn hóa và môi trường. Quá trình thực hiện, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có lúc, có nơi chưa quán triệt sâu rộng và thực hiện nghiêm túc các quan điểm chỉ đạo, các nhiệm vụ phát triển bền vững. Việc tổ chức thực hiện còn thiếu tập trung, chưa đồng bộ, chưa kiên quyết. Công tác cán bộ, đầu tư phát triển nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và giáo dục thanh niên, học sinh còn hạn chế về nội dung, phương pháp. Ngân sách đầu tư cho phát triển kinh tế, văn hóa, môi trường tuy có tăng nhưng vẫn còn hạn chế, đặc biệt với văn hóa và môi trường chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Chính sách đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa đồng bộ và còn hạn chế, nhất là công tác sưu tầm, bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và các âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống của một bộ phận giới trẻ, làm xói mòn những giá trị đạo đức tốt đẹp. Lợi ích về kinh tế, vật chất khiến một bộ phận người dân chưa quan tâm nhiều đến việc bảo vệ môi trường.
3. Một số giải pháp phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững tỉnh Tuyên Quang
Để khắc phục những khó khăn, hạn chế nêu trên và đẩy mạnh phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển bền vững tại tỉnh Tuyên Quang, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:                                             

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và hoàn thiện chính sách. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục sâu rộng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa, bảo vệ môi trường. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là người đứng đầu các cấp, người dân địa phương về tầm quan trọng của việc gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa bản địa và bảo vệ môi trường. Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý thông qua việc ban hành các chính sách, quy định cụ thể nhằm khuyến khích doanh nghiệp và người dân áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn như: ưu đãi thuế, tín dụng xanh, trợ cấp cho công nghệ sạch,... Xây dựng cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) cho các sản phẩm cuối vòng đời.
Thứ hai, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tuần hoàn và carbon thấp, phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa bền vững. Đẩy mạnh phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa giá trị gia tăng cao, ứng dụng khoa học - công nghệ cao vào sản xuất. Phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, tiếp tục duy trì và mở rộng các sản phẩm OCOP, xây dựng thương hiệu. Thúc đẩy mô hình nông nghiệp tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi... Duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 65% và khuyến khích cấp chứng chỉ rừng bền vững (FSC). Phát triển công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp sạch. Khuyến khích đầu tư vào công nghệ chế biến nông, lâm sản thân thiện với môi trường. Hỗ trợ các làng nghề truyền thống chuyển đổi sang quy trình sản xuất ít chất thải, sử dụng vật liệu tái tạo và thân thiện môi trường, gắn với du lịch. Phát triển du lịch xanh và văn hóa bền vững. Khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế về du lịch cảnh quan, du lịch về nguồn, mô hình homestay gắn với du lịch văn hóa, du lịch tâm linh. Tăng cường quảng bá hình ảnh của tỉnh, xây dựng các tour du lịch dựa trên nguyên tắc tuần hoàn như giảm rác thải nhựa trong du lịch, sử dụng sản phẩm địa phương...
Thứ ba, đầu tư mạnh mẽ và có chiến lược dài hạn trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản địa. Tập trung nguồn lực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số, cảnh quan thiên nhiên, giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc trên địa bàn (tiếng nói, trang phục, phong tục tập quán, các làn điệu dân ca, dân vũ, nghề truyền thống). Xác định và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa phù hợp với tiềm năng, lợi thế của địa phương, biến văn hóa thành sản phẩm du lịch và kinh tế có giá trị. Tiếp tục triển khai hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đẩy mạnh xây dựng đô thị và nông thôn mới, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, đẩy lùi hủ tục lạc hậu và các tệ nạn xã hội.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và huy động nguồn lực. Tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, kiểm soát chặt chẽ việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên (đất, nước, khoáng sản, rừng, thủy sản), cũng như kiểm soát chặt chẽ việc nhập và sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y. Giải quyết triệt để các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Làm tốt hơn nữa công tác xã hội hóa, huy động đa dạng nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế cho các chương trình bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển văn hóa. Tăng cường nguồn lực đầu tư, ưu tiên bố trí ngân sách hợp lý cho các lĩnh vực văn hóa và môi trường, đặc biệt là các dự án sưu tầm, bảo tồn giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, cũng như các dự án ứng phó biến đổi khí hậu và xây dựng hạ tầng tuần hoàn.
Tóm lại, phát triển toàn diện và bền vững, bảo đảm gắn kết giữa phát triển kinh tế tuần hoàn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa bản địa là một yêu cầu tất yếu và đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang. Thực tế hiện nay, vấn đề mai một giá trị văn hóa bản địa, tình trạng ô nhiễm môi trường sống, môi trường văn hóa, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, bất ổn về an ninh chính trị, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước là những hệ quả của một thời gian dài địa phương chạy theo giá trị tăng trưởng kinh tế mà xem nhẹ các yếu tố văn hóa và môi trường. Quán triệt và vận dụng đúng quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, thực hiện đồng bộ các giải pháp đã nêu là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi người dân. Chỉ khi đó, Tuyên Quang mới có thể hiện thực hóa mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững, góp phần cùng cả nước đạt được mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.


1. Theo Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang.
2. Hải Chung - Đức Thắng: “Tuyên Quang công bố nghị quyết, quyết định về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 30/6/2025, https://nhandan.vn/tuyen-quangcong-bo-nghi-quyet-quyet-dinh-ve-sap-nhap-don-vi-hanh-chinh-cap-tinh-cap-xa-post890669.html.
3. Năm 2022, tỉnh Hà Giang trở thành địa phương sản xuất chè đứng thứ 3 của cả nước với diện tích đạt trên 20.300 ha, sản lượng trên 91.600 tấn.
4. Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang 2023, Nxb. Thống kê, 2024, tr.161.
5. Theo thống kê, năm 2023, diện tích rừng của Tuyên Quang và Hà Giang cộng lại khoảng 893.143 ha (chiếm trên 6% tổng diện tích rừng của cả nước).

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin