Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành xuất bản theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư

CT&PT - Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới đã đặt nền móng chính trị quan trọng cho ngành xuất bản nói chung và công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành xuất bản nói riêng. Trên cơ sở làm rõ vai trò then chốt của nguồn nhân lực chất lượng cao, bài viết phân tích định hướng và đề xuất các trụ cột chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực ngành xuất bản hiện nay.

1. Định hướng của Chỉ thị số 04-CT/TW đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành xuất bản

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011), Đảng nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một đột phá chiến lược, là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng với khoa học, công nghệ và tri thức đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước2. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, quan điểm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được Đảng đặc biệt nhấn mạnh: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao”3; đồng thời coi đây là một bước đột phá chiến lược, thể hiện quyết tâm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ của nguồn nhân lực.

Về tiêu chuẩn của nguồn nhân lực chất lượng cao, kế thừa quan điểm từ các kỳ đại hội trước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021) của Đảng chỉ rõ: “Đào tạo những con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”4. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”5. Quan điểm này khá tương đồng với quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về nguồn lực chất lượng cao6. Theo đó, nguồn lực này đặc trưng bởi các yếu tố chính như trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực đổi mới, sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa văn hóa, đa quốc gia. 
Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới là bước cụ thể hóa quan điểm về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực xuất bản. Chỉ thị khẳng định: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạt động xuất bản là nhiệm vụ cấp bách. Cần đổi mới căn bản chương trình đào tạo, phương pháp quản trị nguồn nhân lực; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo; bảo đảm cho ngành xuất bản có đội ngũ cán bộ, biên tập viên, chuyên gia công nghệ, nhà quản trị giỏi đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới”7. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để xác lập yêu cầu mới đối với phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ của ngành xuất bản. 

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị, tư tưởng và sứ mệnh văn hóa của ngành xuất bản. Yêu cầu này mang tính nền tảng, bảo đảm xuất bản luôn là hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa sáng tạo, truyền bá các giá trị văn hóa tinh thần, vừa xây dựng, bồi đắp nền tảng tri thức quốc gia, tạo lập giá trị xã hội, định hướng thẩm mỹ, nâng cao dân trí, bảo vệ giá trị, phát triển văn hóa. 

Thứ hai, phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với chuyển đổi số và phát triển ngành xuất bản theo hướng kinh tế - công nghệ hiện đại. Xuất bản không chỉ là hoạt động văn hóa - tư tưởng, mà còn là một ngành kinh tế - công nghệ. Do đó, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò lực lượng sản xuất, giữ vai trò hạt nhân trong hệ sinh thái kiến tạo các giá trị, phục vụ tốt hơn nhu cầu học tập, trải nghiệm và hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. Đội ngũ này cần có năng lực chuyên môn, kỹ thuật cao để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số của ngành xuất bản.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần gắn với chiến lược phát triển văn hóa đọc và xây dựng xã hội học tập, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực quốc gia và lan tỏa giá trị văn hóa trong cộng đồng. Tri thức là sức mạnh của tư duy, tâm điểm của năng lực tự học và tư duy phản biện, vốn là những yếu tố cốt lõi của văn hóa đọc và xã hội học tập. Trong chuỗi giá trị này, nguồn nhân lực chất lượng cao là “chiến sĩ tiên phong” góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, hình thành chuỗi giá trị nội dung số, tài sản số, tiếp thu văn hóa nhân loại và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. 

Thứ tư, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn với thay đổi căn bản, mạnh mẽ chương trình đào tạo theo hướng tích hợp và mở, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Nguồn nhân lực chất lượng cao chính là nguồn lực ưu tú nhất, hội tụ tri thức chuyên môn, năng lực công nghệ, tư duy đổi mới sáng tạo, cùng phẩm chất nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới. 

2. Các trụ cột chiến lược phát triển nguồn lực chất lượng cao cho ngành xuất bản

Tái cấu trúc nguồn nhân lực là nhiệm vụ của ngành xuất bản, trên cơ sở giữ vững bản chất chính trị, tư tưởng và văn hóa phù hợp với bối cảnh cách mạng công nghệ, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao cần được phát triển một cách cân bằng giữa tâm lực và trí lực, trên nền tảng chính trị, văn hóa, đặc thù của ngành xuất bản theo định hướng của Đảng và tiêu chuẩn quốc tế về nhân lực chất lượng cao. Đó là sự hài hòa giữa bản lĩnh chính trị, nền tảng văn hóa và đạo đức nghề nghiệp, kết hợp với năng lực số, khả năng tư duy sáng tạo và thích ứng với sự biến động của môi trường. Dựa trên yêu cầu trên, phát triển nguồn lực chất lượng cao cho ngành xuất bản dựa trên các trụ cột chiến lược sau: 

Một là, củng cố nền tảng tư tưởng, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp.

Trụ cột tư tưởng là nền tảng của tâm lực, giữ vai trò định hướng trong hoạt động xuất bản, bảo đảm kiên định mục tiêu chính trị. Trụ cột tư tưởng được tạo lập dựa trên các yếu tố cơ bản như:

(i) Kiên định tuyệt đối về lập trường chính trị: Cán bộ, biên tập viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, hiểu biết và trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là yếu tố tiên quyết bảo đảm hoạt động xuất bản đi đúng định hướng, góp phần củng cố niềm tin, lý tưởng cách mạng, nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

(ii) Nhạy bén chính trị: Nhạy bén chính trị thể hiện năng lực nhận thức, phân tích và phản ứng nhanh, chính xác trước các vấn đề có tính chính trị, tư tưởng nảy sinh trong hoạt động nghề nghiệp, giúp cán bộ, biên tập viên phát hiện, hiểu và xử lý đúng đắn những yếu tố liên quan đến quan điểm của Đảng và Nhà nước. Nhạy bén chính trị là thước đo của trí tuệ, bản lĩnh của người làm công tác xuất bản, bảo đảm tính chính thống, chuẩn mực cho mọi ấn phẩm xuất bản.

(iii) Đạo đức nghề nghiệp: Đạo đức nghề nghiệp không chỉ là sứ mệnh cá nhân, mà còn là năng lực nghề nghiệp mang tính hệ thống, điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi nghề nghiệp của cán bộ, biên tập viên. Đạo đức nghề nghiệp mang tính chính trị, tư tưởng đặc thù, quy định trách nhiệm chính trị đối với tư tưởng, nhận thức và hình thành niềm tin chính trị của xã hội. 

Hai là, xây dựng nền tảng văn hóa, coi đó là cốt lõi của sức mạnh mềm. 

Nền tảng văn hóa điều tiết hành vi và tư duy của con người. Văn hóa là “màng lọc tự nhiên” thúc đẩy quá trình thẩm thấu và chuyển hóa tinh hoa văn hóa nhân loại vào dòng chảy văn hóa dân tộc. Trụ cột văn hóa được tạo dựng bởi các yếu tố cơ bản như:

(i) Ý thức bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là yếu tố nền tảng, định vị người làm nghề xuất bản trong dòng chảy văn hóa toàn cầu. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chỉ rõ: “Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, trở thành những nét đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng nước, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đầu óc thực tế, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống8. Bản sắc văn hóa không tĩnh tại, bất động mà luôn vận động không ngừng, chuyển hóa qua nhiều thế hệ. Bản sắc văn hóa cần được làm sống động để dễ thẩm thấu, đi sâu vào khối óc, trái tim độc giả, nhất là độc giả trẻ.

(ii) Trí tuệ văn hóa: Trí tuệ văn hóa là cơ sở để cá nhân thích nghi, hoạt động hiệu quả trong môi trường đa văn hóa. Khác với trí tuệ cảm xúc và trí tuệ xã hội, trí tuệ văn hóa nhấn mạnh yếu tố văn hóa trong hành vi. Trong môi trường văn hóa toàn cầu, nhân lực ngành xuất bản cần rèn luyện trí tuệ văn hóa để thích nghi với môi trường mới, hiểu và sáng tạo nội dung phù hợp với hệ giá trị văn hóa.

(iii) Vốn văn hóa: Vốn văn hóa là những giá trị văn hóa kết tinh, tổng hợp trong quá trình sáng tạo và tiếp thu từ bên ngoài. Vốn văn hóa là quyền lực mềm đưa người làm xuất bản từ “người gác cổng” trở thành “người kiến tạo” văn hóa. Vốn văn hóa thể hiện ở sự am hiểu đa lĩnh vực, nhãn quan thẩm mỹ và nhạy cảm tri thức. Mỗi cuốn sách chính là tấm gương soi văn hóa của người làm ra chúng. Sách nên là di sản tri thức có sức sống lâu bền trong xã hội hơn là tập giấy chỉ đọc một lần rồi lãng quên. 

Ba là, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực tư duy và kỹ năng thực hành nghề nghiệp.

Quá trình chuyển đổi số và hội nhập tri thức toàn cầu đòi hỏi cán bộ, biên tập viên không chỉ vững vàng về lập trường chính trị, mà còn phải có năng lực tư duy, trình độ chuyên môn và khả năng sáng tạo học thuật để thích ứng và dẫn dắt tư tưởng xã hội. Trụ cột chuyên môn là sự tổng hòa giữa tri thức chuyên môn, năng lực tư duy và khả năng sáng tạo. Đây là động lực phát triển và đổi mới nguồn nhân lực xuất bản, được cấu thành từ các yếu tố như:

(i) Năng lực chuyên môn sâu: Năng lực này được hình thành và củng cố dựa trên nhận thức chính trị và tư tưởng, cùng với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ xuất bản. Năng lực thể hiện ở việc hiểu và nắm vững hệ thống tri thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các vấn đề chính trị, xã hội đương đại. Đây là nền tảng lý luận cơ bản, làm cơ sở để đánh giá, lựa chọn và kiến tạo nội dung chính trị có tính định hướng và giá trị học thuật.

(ii) Tư duy phản biện khoa học: Tư duy phản biện là giai đoạn cao của nhận thức, là sự chuyển hóa tri thức thành công cụ tư duy. Năng lực này thể hiện ở khả năng nhận biết, phân tích, đánh giá và vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn hoạt động xuất bản ở mỗi giai đoạn.

(iii) Năng lực vận dụng sáng tạo: Cán bộ, biên tập viên không chỉ cần giỏi về kỹ năng biên tập, mà còn phải có năng lực kiến tạo nội dung có giá trị và định hướng xã hội. Năng lực kiến tạo thể hiện qua quá trình tái cấu trúc tri thức lý luận bằng phương pháp hiện đại, nhằm chuyển đổi tri thức từ tĩnh sang động, từ truyền thụ sang tương tác. Năng lực này chỉ có thể hình thành khi hội tụ đủ bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại. 

Bốn là, nâng cao năng lực số và tư duy thích ứng.

Đây là nội dung có tính đột phá, kết nối giữa chính trị, tri thức và công nghệ để hình thành mô hình “người xuất bản” mới. Công nghệ số đóng vai trò then chốt trong quá trình tái cấu trúc nguồn nhân lực, cấu trúc lại không gian truyền tải tri thức. UNESCO định nghĩa năng lực số là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp, thông qua công nghệ số để phục vụ các công việc từ đơn giản đến phức tạp9. Năng lực số không chỉ đơn thuần là kỹ thuật, mà còn là năng lực tổng hợp, không tách rời tư duy và đạo đức. Trên cơ sở khung năng lực quốc tế, có thể khái quát năng lực số cho nhân lực xuất bản gồm các nhóm năng lực chính như sau10:

(i) Vận hành thiết bị và phần mềm: thể hiện ở khả năng lựa chọn và sử dụng các thiết bị phần cứng và phần mềm để giải quyết vấn đề trong quá trình biên tập, xuất bản.

(ii) Khai thác thông tin và dữ liệu: bảo đảm tính chính xác và tính thời sự của ấn phẩm, thể hiện ở khả năng tìm kiếm, lọc và kiểm định thông tin, quản lý và sử dụng thông tin phù hợp với định hướng, quan điểm.

(iii) Giao tiếp và cộng tác trong môi trường số: bảo đảm quy trình làm việc hiệu quả, có sự kết nối giữa các cá nhân tham gia quy trình xuất bản.

(iv) Sáng tạo nội dung số: thúc đẩy sự đổi mới, giúp nội dung trở nên hấp dẫn và dễ tiếp cận trong kỷ nguyên số.

(v) Giải quyết vấn đề: hướng tới sự chủ động của cán bộ, biên tập viên trong việc sử dụng công nghệ sáng tạo để giải quyết các vấn đề nghề nghiệp. 

Năm là, xây dựng năng lực hợp tác, hội nhập tri thức toàn cầu. 

Năng lực hợp tác, hội nhập được hiểu là khả năng kết nối, cộng tác và tiếp thu tri thức sáng tạo trên cơ sở giữ vững bản sắc và chủ quyền chính trị, văn hóa của quốc gia, dân tộc. Hợp tác, hội nhập tri thức là điều kiện để mỗi quốc gia, dân tộc vừa học hỏi tinh hoa văn hóa thế giới, vừa khẳng định bản sắc văn hóa riêng. Đối với xuất bản, năng lực hợp tác, hội nhập tri thức toàn cầu giúp định vị giá trị chính trị trên trường quốc tế, đồng thời bảo vệ giá trị tư tưởng, văn hóa đặc sắc của quốc gia. Vì vậy, năng lực này cần được phát triển đồng bộ trên các mặt, không chỉ dừng lại ở năng lực ngôn ngữ, mà còn phải chú trọng năng lực phản biện, khả năng chuyển hóa tri thức toàn cầu thành giá trị phù hợp với định hướng tư tưởng của Việt Nam. Năng lực này cần được định hình với nội dung cốt lõi như sau:

(i) Khả năng sử dụng ngoại ngữ: Ngoại ngữ là công cụ giao tiếp, nền tảng để tiếp cận và lan tỏa tri thức chính trị trong môi trường quốc tế. Người làm công tác xuất bản cần có khả năng đọc, hiểu và biên tập ấn phẩm dịch thuật hoặc ấn phẩm song ngữ, nhằm bảo đảm sự chính xác về văn hóa học thuật.

(ii) Hiểu biết về văn hóa và luật pháp quốc tế: Toàn bộ hoạt động xuất bản, từ biên tập, dịch thuật, phát hành đến giao dịch bản quyền… đều diễn ra trong môi trường đa văn hóa và khung pháp lý quốc tế phức tạp. Do đó, hiểu biết về văn hóa học thuật và pháp luật quốc tế là cơ sở để bảo vệ quyền lợi chính đáng của Việt Nam trong hợp tác xuất bản, đồng thời giữ vững giá trị tư tưởng quốc gia.

(iii) Tiếp thu, chọn lọc tri thức phù hợp với điều kiện. Năng lực này không chỉ thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và khả năng tự chủ học thuật của nhân lực ngành xuất bản, mà còn thể hiện khả năng phân tích, lựa chọn tri thức quốc tế từ góc nhìn chính trị, tư tưởng Việt Nam, bảo đảm phù hợp với nền tảng tư tưởng, loại bỏ yếu tố lệch chuẩn, phản giá trị, đồng thời tái cấu trúc tri thức gắn với phát triển văn hóa. 

Năm trụ cột chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ mật thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành xuất bản trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng. Năm trụ cột này hướng tới mục tiêu hình thành nguồn nhân lực toàn diện, hiện đại, tự chủ, là sự tổng hòa giữa bản lĩnh chính trị, văn hóa, đạo đức, cùng năng lực chuyên môn, khả năng làm chủ công nghệ và hội nhập quốc tế. Đây là lực lượng nòng cốt của công cuộc đổi mới toàn diện ngành xuất bản, bảo đảm vừa giữ vững vai trò là công cụ tư tưởng sắc bén của Đảng, vừa là chủ thể dẫn dắt tri thức trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 130.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 90.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 388.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 232-233.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.II, tr. 378.
6. Nguyễn Thị Hương: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập”, Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước và lao động, ngày 02/4/2026, https://tcnnld.vn/news/detail/71662/Phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-o-Viet-Nam-dap-ung-yeu-cau-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-va-hoi-nhap.html.
7. Chỉ thị 04-CT/TW, ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới.
8. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 
9. Trần Nguyên Hào: “Khung năng lực số theo quan điểm của UNESCO”, Cổng thông tin điện tử Khoa Chính trị - Luật, Trường Đại học Hà Tĩnh, ngày 17/12/2023, https://poi.htu.edu.vn/nghien-cuu/425-khung-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-s%E1%BB%91-theo-quan-%C4%91i%E1%BB%83m-c%E1%BB%A7a-unesco.  
10. UNESCO: A Global Framework of Reference on Digital Literacy Skills for Indicator 4.4.2, Canada, 2018. 
 

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin