1. Chính sách phát triển công nghiệp văn hóa của Đảng, Nhà nước và của thành phố Hà Nội
Từ cuối thập niên 80, 90 của thế kỉ XX, ngành công nghiệp văn hóa đã được chú trọng và mang lại nguồn thu lớn cho tổng sản phẩm GDP của các quốc gia phát triển. Tại Việt Nam, cụm từ "công nghiệp văn hóa" xuất hiện lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam là vào năm 2014, cụ thể là Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Theo đó, phát triển công nghiệp văn hóa được coi là một trong năm mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước. Nghị quyết nhấn mạnh: “Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khai thác và phát huy những tiền năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa. Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực xã hội phát triển. Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hóa và công nghiệp văn hóa”; mục tiêu, yêu cầu là: “Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa của Việt Nam”.
Tại Nghị quyết số 38-NQ/TW ngày 12/01/2015 Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Đảng ta đã kết luận những điểm mới trong nhận thức của Đảng về vấn đề gắn kết giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa. Trong đó khẳng định các hoạt động văn hóa không chỉ mang tính chất sự nghiệp, mà còn mang tính kinh doanh với sự tham gia của các doanh nghiệp văn hóa; thị trường văn hóa bước đầu được thừa nhận với những sản phẩm văn hóa được lưu thông theo cơ chế thị trường. Thuật ngữ “doanh nghiệp văn hóa” được đưa ra và nhấn mạnh giải pháp phát triển các doanh nghiệp văn hóa đủ khả năng đứng vững trong cơ chế thị trường, đạt được hiệu quả văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng phục vụ.
Ngày 08/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong đó khẳng định: “Các ngành công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa”.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu ra 8 nhiệm vụ trong đó có nhiệm vụ thứ 6 là “phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa1. Đây là một bước tiến lớn trong nhận thức của Đảng về đổi mới tư duy về văn hóa gắn với đổi mới tư duy về kinh tế và được hiện thực hóa thành chủ trương phát triển, hành động.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định “lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”2 đất nước, là “tài nguyên”, “sức mạnh mềm của quốc gia”. Đồng thời, Đảng ta đã đề cập đến những nhiệm vụ mới trong phát triển văn hóa để phù hợp với sự vận động, phát triển của chính lĩnh vực văn hóa, trong đó nhấn mạnh đến nội dung phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng thương hiệu quốc gia. Đại hội xác định rõ nhiệm vụ: “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”3.
Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu 6 nhiệm vụ lớn, trong đó có nhiệm vụ khẩn trương phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.
Thực hiện các nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chỉ đạo của Tổng Bí thư và Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 của Chính phủ, ngày 22/12/2023 Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam được tổ chức. Sự kiện này được coi “là Hội nghị Diên Hồng” về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Hội nghị đã tập trung đánh giá thực trạng phát triển của công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cụ thể, khả thi, đột phá.
Như vậy, sau Đại hội XIII của Đảng, về cơ bản Việt Nam đã thừa nhận có thị trường văn hóa phẩm và công nhận sản phẩm văn hóa như là hàng hóa được lưu thông trên thị trường. Liên tục trong suốt hơn 20 năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp phát triển văn hóa nói chung, đến sự phát triển của công nghiệp văn hóa và sáng tạo nói riêng. Từ nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ đã trực tiếp đưa ra những chỉ đạo quyết liệt; Chính phủ đã ban hành các Chiến lược phát triển cụ thể. Có thể nói hiếm có quốc gia - dân tộc nào quan tâm đến lĩnh vực văn hóa và công nghiệp văn hóa ở tầm mức như vậy.
Từ sự thống nhất chung trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các địa phương trên cả nước cũng tích cực triển khai các văn bản pháp luật về phát triển công nghiệp văn hóa và đề xuất các cơ chế, chính sách, lộ trình phát triển phù hợp với thực tế của từng địa phương.
Hà Nội là địa phương đi đầu và rất quan tâm đến vấn đề bảo tồn, phát triển văn hóa, bảo vệ phát huy di sản văn hóa và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Thủ đô. Điều 21, Luật Thủ đô về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch quy định: “1. Việc bảo vệ và phát triển văn hóa Thủ đô phải xứng tầm với truyền thống nghìn năm Thăng Long - Hà Nội; xây dựng Hà Nội là trung tâm hội tụ, kết tinh văn hóa của cả nước; xây dựng văn hóa người Hà Nội hào hoa, thanh lịch, nghĩa tình, văn minh, tiêu biểu cho văn hóa, lương tri và phẩm giá con người Việt Nam. 2. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định các biện pháp ưu tiên nguồn lực cho bảo vệ và phát triển văn hóa Thủ đô; việc đầu tư các nguồn lực nhằm quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả đáp ứng yêu cầu bảo vệ, phát triển văn hóa Thủ đô và hội nhập quốc tế;… 7. Thành phố Hà Nội được xây dựng trung tâm công nghiệp văn hóa tại bãi sông, bãi nổi sông Hồng và khu vực khác có lợi thế về vị trí không gian văn hóa phù hợp với quy hoạch. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chi tiết thẩm quyền thành lập; trình tự, thủ tục thành lập; việc tổ chức, hoạt động, biện pháp quản lý đối với trung tâm công nghiệp văn hóa và các chính sách ưu đãi đối với trung tâm công nghiệp văn hóa sử dụng nguồn lực của Thành phố…”.
Ngày 18/10/2011, Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình số 04-CTV/TV về Phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh giai đoạn 2011 - 2015 đã xác định nhiệm vụ bảo vệ và phát huy di sản văn hóa Thủ đô đến năm 2015 là “Bảo tồn, tôn tạo, phát huy các giá trị di sản văn hóa tiêu biểu của Thủ đô; phục hồi, phát huy có chọn lọc các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng tiêu biểu, một số lễ hội truyền thống, các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian; hoàn thành dự án điều tra, thống kê, phân loại, đánh giá hệ thống di sản Thủ đô. Xây dựng cơ chế tạo nguồn lực phục vụ tôn tạo, tu bổ hệ thống di tích đang xuống cấp”.
Nghị quyết số 06-TQ/TV ngày 26/6/2016 của Ban Thường vụ Thành ủy về “Phát triển du lịch Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020 và những năm tiếp theo” nhận định hướng đi chủ yếu để phát triển công nghiệp du lịch văn hóa ở Thủ đô Hà Nội là kết hợp phát triển du lịch với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lịch sử của Thủ đô và của dân tộc, với bảo vệ thiên nhiên và môi trường, bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội của Thủ đô theo hướng bền vững, xây dựng Hà Nội là điểm đến: “An toàn - Thân thiện - Chất lượng - Hấp dẫn”, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô.
Trong giai đoạn từ 2016 đến 2022, ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp được 1,49 tỷ USD vào tổng sản phẩm của thành phố Hà Nội, chiếm tỷ trọng 3,7% GDP (năm 2018). Nhận thức được tầm quan trọng của công nghiệp văn hóa, ngày 22/02/2022, Thành ủy Hà Nội ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU về Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết 09 của Thành ủy Hà Nội ra đời được đánh giá là dấu mốc quan trọng đối với lĩnh vực công nghiệp văn hóa thủ đô. Đồng thời, Hà Nội cũng là địa phương đầu tiên của cả nước có một Nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp văn hóa. Điều này cho thấy quyết tâm lớn của cả hệ thống chính trị thành phố nhằm tạo bước phát triển toàn diện ngành công nghiệp văn hóa, cả về quy mô, chất lượng, dịch vụ và thị trường, bảo đảm phát triển bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng, giá trị gia tăng cao.
Ngày 12/08/2022, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cũng ban hành Kế hoạch 217/KH-UBND ngày 12/8/2022 về việc thực hiện Nghị quyết 09/NQ-TƯ ngày 22/02/2022 của Thành ủy Hà Nội về Phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Qua đó, Thành phố đề xuất điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nâng cao hiệu quả việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và các quyền liên quan, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường; các chính sách ưu đãi về vốn, thuế, đất đai, chế độ khuyến khích sáng tạo đối với văn nghệ sĩ, các doanh nghiệp khởi nghiệp.
Ngày 25/4/2024, Thành ủy Hà Nội tiếp tục ban hành Kế hoạch Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhiệm vụ đến 2025. Theo đó, Hà Nội triển khai bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng quy chế phối hợp hoạt động giữa các Sở, ngành, thành phố, các quận, huyện trong việc quản lý, tổ chức các hoạt động, sự kiện phát triển công nghiệp văn hóa.
Ngày 10/7/2025, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội tiếp tục ban hành Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND nhằm tạo bước phát triển toàn diện các ngành công nghiệp văn hóa của Thủ đô cả về quy mô, chất lượng sản phẩm, dịch vụ và thị trường, bảo đảm phát triển bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ, tỷ trọng, giá trị gia tăng cao; hoạt động có tính chuyên nghiệp, với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại: dịch vụ, sản phẩm văn hóa đa dạng, có chất lượng, có thương hiệu, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ của người dân trong nước, thúc đẩy phát triển du lịch và xuất khẩu.
Như vậy, có thể thấy, công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế mũi nhọn, được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền của Thành phố Hà Nội đặc biệt quan tâm. Các chủ trương chính sách đó đã góp phần quan trọng tạo hành lang pháp lý rõ ràng: cụ thể, giúp đầu tư cho công nghiệp văn hóa một cách hiệu quả và đúng hướng. Đồng thời góp phần giảm thiểu sự chồng chéo, mâu thuẫn trong quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án văn hóa nói chung.
2. Thực trạng ảnh hưởng của chính sách phát triển công nghiệp văn hóa đến sự phát triển văn hóa, con người Hà Nội
Thủ đô Hà Nội ban hành và thực thi chính sách phát triển công nghiệp văn hóa bên cạnh các chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác. Chính vì vậy, không tránh khỏi sự chồng chéo giữa các chính sách và đặt ra những bài toán vô cùng khó khăn cho hài hòa giữa chính sách và phát triển văn hóa, con người mới.
Thực tiễn triển khai một số hoạt động xây dựng và điều chỉnh chính sách của Hà Nội từ các đại dự án cũng đã chỉ ra những bài học quý cho phát triển công nghiệp văn hóa hướng đến phát triển văn hóa, con người Hà Nội thanh lịch, văn minh hiện nay. Hoạt động khai quật khảo cổ học ở tại số 18 phố Hoàng Diệu là một ví dụ. Việc khai quật ban đầu đầu chỉ nhằm mục đích giải phóng mặt bằng để xây dựng 2 công trình là Trung tâm Hội nghị quốc gia và Tòa nhà Quốc hội. Tuy nhiên, khi khai quật khu A, khu B, một phần khu D (với diện tích khoảng 10.000m2) thì tầng tầng lớp lớp di tích Hoàng thành Thăng Long xưa đã được phát lộ. Với một kho báu di sản đặc biệt như vậy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã quyết định chuyển địa điểm xây dựng Trung tâm Hội nghị quốc gia về Mỹ Đình và chỉ sử dụng 9.000 m² thuộc khu vực 18 Hoàng Diệu cho việc xây dựng Nhà Quốc hội. Còn lại các diện tích khu A và khu B được dành hoàn toàn cho việc triển khai công tác bảo tồn di tích khu vực Hoàng thành Thăng Long. Thông điệp từ lòng đất, tiếng vọng của lịch sử nhắc nhở chính những người ban hành, thực thi chính sách phải ứng xử đúng. Chính vì thế, khi triển khai xây dựng các hạng mục phục vụ cho phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô, Hà Nội đã chủ động điều chuyển xây dựng các công trình lớn ra vùng ven, các đô thị vệ tinh như Trung tâm Hội chợ triển lãm Đông Anh; hay gần đây nhất là vào ngày 01/10/2025, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 270/KH-UBND để triển khai Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND ngày 10/7/2025 của Hội đồng nhân dân Thành phố quy định về tổ chức và hoạt động của trung tâm công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội, đồng thời đã triển khai tập huấn, tổ chức cho các cơ quan, đơn vị có liên quan thảo luận các vấn đề cốt lõi để triển khai trong thực tiễn.
Thực tế phát triển ngành công nghiệp văn hóa của Thủ đô cho phép khẳng định Hà Nội là địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển công nghiệp văn hóa. Các sản phẩm công nghiệp văn hóa và sáng tạo được triển khai ở các di tích với nhiều loại hình và mô hình khác nhau và bước đầu đã tạo được hiệu ứng, thu hút được sự quan tâm của một bộ phận cư dân trong xã hội, nhất là cư dân sinh sống trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Hà Nội là Thủ đô của cả nước, có một “mỏ” di tích lịch sử văn hóa dày đặc phân bố trên khắp các địa bàn của thành phố. Trên cơ sở các chủ trương quyết sách phát triển công nghiệp văn hóa, Hà Nội cũng đã triển khai nghiên cứu, khai thác nguồn lực “mỏ” di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Thủ đô để phát triển một số sản phẩm công nghiệp văn hóa và sáng tạo áp dụng ở nhiều địa điểm di tích như Đền Ngọc Sơn, Nhà tù Hỏa Lò, di tích lịch sử Nhà số 48 Hàng Ngang, Cột cờ Hà Nội, Văn Miếu Quóc Tử Giám… Một số sản phẩm điện ảnh sử dụng chất liệu từ các di tích lịch sử cách mạng và nhiều hình ảnh của Thủ đô đã tạo ra các sản phẩm công nghiệp văn hóa thu hút được sự quan tâm của xã hội ngoài mong đợi. Chẳng hạn như bộ phim Bản hùng ca Hà Nội Điện Biên Phủ trên không (công chiếu năm 2022) hay Đào, Phở và Piano (công chiếu năm 2024) và Mưa đỏ (công chiếu năm 2025) đều là những bộ phim có thành công vang dội, thu hút được lượng người xem lớn và lợi nhuận phòng vé cao chưa từng thấy. Điều đó cho thấy sự chủ động và “cởi mở” của Hà Nội trong khai thác các chất liệu văn hóa, lịch sử của Thủ đô trong phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo.
Tuy nhiên, sự phát triển ngành công nghiệp văn hóa của Thủ đô chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Thủ đô, một số chính sách được ban hành bị chòng chéo dẫn đến những hệ lụy không nhỏ cho sự phát triển của ngành này nói riêng, sự phát triển văn hóa, con người Thủ đô nói chung. Đặc biệt các mô hình, giải pháp phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa vẫn chưa mang tính bền vững, chưa phát huy được hết giá trị của các nguồn vốn cho sự phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo của Thủ đô. Đối tượng thụ hưởng các sản phẩm công nghiệp văn hóa chưa được xác định rõ ràng, nhất là chưa xác định được nhóm đối tượng thụ hưởng cốt yếu và tính giáo dục, định hướng nhân cách của sản phẩm công nghiệp văn hóa là gì. Chính vì vậy cần có các mô hình đột phá và hệ thống các cơ chế chính sách vượt trội để thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển một cách bền vững; hướng đến phát triển văn hóa, con người Hà Nội văn minh, thanh lịch trong kỷ nguyên mới.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách phát triển công nghiệp văn hóa nhằm thúc đẩy phát triển văn hóa, con người Hà Nội trong kỷ nguyên mới
Thực tiễn cho thấy, Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, đồng thời từng bước hoàn thiện cơ chế, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp văn hóa. Những nỗ lực đó không chỉ thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và xây dựng con người Hà Nội trong thời kỳ mới. Để các chính sách phát huy hiệu quả sâu rộng, tạo động lực phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, văn hóa phải soi rọi mọi quyết sách về chính trị và kinh tế. Mỗi quyết sách về kinh tế được đưa ra nếu được văn hóa soi rọi, cảnh báo và điều chỉnh để từ đó có sự hài hòa giữa các chính sách. Chỉ khi văn hóa được đặt ngang hàng với kinh tế thì khi đó mỗi quyết định đưa ra mới có thể hài hòa với sự phát triển con người. Đối với các chính sách về văn hóa thì cũng cần chấm dứt tình trạng coi văn hóa chỉ là để giải trí, thậm chí hạ thấp văn hóa, coi văn hóa chỉ là chuyện “cờ đèn kèn trống”. Những lệch lạc đó đã và sẽ dẫn tới những hệ lụy trong ban hành chính sách và để lại nhiều hệ quả khó khắc phục.
Hai là, để hài hòa giữa chính sách phát triển nói chung, chính sách phát triển văn hóa, con người trong kỷ nguyên mới, Hà Nội cần dứt khoát thực hiện quy hoạch, coi quy hoạch là pháp lệnh, là mệnh lệnh không lời để phát triển không gian đô thị Hà Nội một cách bền vững và đi đúng hướng. Bởi lẽ, sự phát triển không gian đô thị Hà Nội là tất yếu nhưng phát triển như nào cho hài hòa và bền vững thì rất cần phải thực hiện quy hoạch một cách khoa học.
Ba là, về mặt nhận thức, các nhà lãnh đạo, quản lý của Thủ đô phải luôn có nhận thức rằng di sản văn hóa chính là một tiềm năng quan trọng và to lớn của Hà Nội để phát triển ngành công nghiệp văn hóa hiện đại. Từ đó, muốn khai thác và phát triển thì cần có chính sách liên quan đến phát triển con người, cụ thể là chính sách phát triển các tài năng có thể biến những di sản đó thành những sản phẩm du lịch văn hóa thu hút người xem và để nó trở thành một sản phẩm văn hóa cao cấp đem lại giá trị kinh tế cho Hà Nội. Mặt khác, Hà Nội cũng là nơi tập trung đông những tài năng trên mọi lĩnh vực công nghệ, văn hóa, nghệ thuật,… nên việc có các chính sách đầu tư phát triển con người phù hợp với khả năng là điều vô cùng quan trọng. Vai trò cá nhân trong sáng tạo văn hóa nghệ thuật và sáng tạo là vô cùng quan trọng và cần có chính sách phát triển phù hợp nhất.
Bốn là, cần có chính sách tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp tư nhân để khuyến khích họ đầu tư vào phát triển ngành công nghiệp văn hóa. Đồng thời có chính sách tuyên truyền, nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của các tập đoàn, các doanh nghiệp tư nhân để họ đầu tư vào các lĩnh vực của ngành công nghiệp văn hóa.
Năm là, Hà Nội có lợi thế là Thủ đô, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Hơn nữa, Hà Nội còn kết nghĩa với nhiều đô thị lớn trên thế giới, nhiều thành phố lớn và nhiều tổ chức văn hóa muốn đem văn hóa của họ vào giao lưu. Vì vậy, Hà Nội cũng cần cụ thể hóa các cơ chế, chính sách liên quan đến hợp tác quốc tế để tận dụng các lợi thế, nhanh chóng nắm bắt và khai thác các cơ hội cho phát triển ngành công nghiệp văn hóa của Thủ đô.
Sáu là, để làm tốt được những vấn đề đặt ra như trên, Hà Nội cần quy hoạch lại đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở để phân loại và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công việc. Trong bối cảnh xóa bỏ cấp quận huyện và sáp nhập các phường/xã như hiện nay thì hiểu biết của người làm văn hóa ở cơ sở càng quan trọng hơn bao giờ hết. Cần đào tạo và đào tạo lại đội ngũ làm công tác văn hóa để giúp họ trở thành những người có tri thức, có chuyên môn nghiệp vụ và quan tâm đến công nghiệp văn hóa.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 130.
2,3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 216, 145.