1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên
1.1. Vai trò của đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên
Một là, đạo đức cách mạng là nguồn gốc, là nền tảng của cán bộ, đảng viên
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải là thứ đạo đức cũ kỹ, bảo thủ, mà là một hệ giá trị đạo đức mới, cao đẹp và tiến bộ. Người khẳng định: “đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”1.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, là nguồn cội và nền tảng của nhân cách con người, đồng thời là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển lành mạnh của xã hội. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, đạo đức cách mạng càng có ý nghĩa quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”2. Thực tiễn cho thấy, con người và xã hội nếu thiếu nền tảng đạo đức thì khó có thể phát triển bền vững. Đối với người cán bộ, đảng viên, nếu không giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng thì sẽ khó thuyết phục và tập hợp quần chúng, không tạo được niềm tin của nhân dân, từ đó khó hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhân dân giao phó. Vì vậy, việc thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là yêu cầu có tính nguyên tắc đối với mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng hướng tới mục tiêu cao nhất là đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình yên cho nhân dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cán bộ, đảng viên là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng nhân dân, là những người trực tiếp tuyên truyền, giải thích để nhân dân hiểu rõ và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng và của Chính phủ. Đồng thời, cán bộ cũng là người phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, để thực hiện tốt vai trò đó, người cán bộ, đảng viên trước hết phải có đạo đức cách mạng. Người nói: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính… Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”3.
Bên cạnh đó, Người cũng nhiều lần cảnh báo về nguy cơ suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh rằng không phải cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là được nhân dân kính trọng và yêu mến, dân chỉ quý trọng những người có tư cách đạo đức, biết đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.
Hai là, đạo đức cách mạng có sức mạnh tinh thần to lớn
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không chỉ là nền tảng của nhân cách người cán bộ, đảng viên mà còn là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp họ vững vàng trước mọi thử thách: Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục4.
Người chỉ rõ: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”5. “Sức có mạnh” ở đây là sức mạnh tinh thần, là bản lĩnh vượt mọi khổ ải để làm tròn nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và Nhân dân giao phó.
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ rõ những phẩm chất cơ bản của một người cách mạng trong ba mối quan hệ: Tự mình phải: “Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất”6; Với người phải: “Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người”7; Làm việc phải: “Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”8.
Khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm đến vấn đề đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”9. Lời dặn đó không chỉ thể hiện yêu cầu về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên mà còn phản ánh nhận thức sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những nguy cơ nảy sinh khi Đảng nắm quyền lãnh đạo. Khi có quyền lực trong tay, nếu thiếu sự tu dưỡng đạo đức, cán bộ rất dễ rơi vào tình trạng lạm quyền, quan liêu, hách dịch, vụ lợi cá nhân, từ đó làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Từ những quan điểm trên có thể thấy, đạo đức cách mạng là giá trị cốt lõi tạo nên nhân cách của người cán bộ, đảng viên. Đây không chỉ là tiêu chí để đánh giá người cán bộ, đảng viên chân chính, mẫu mực, mà còn là tiêu chuẩn, thước đo quan trọng để đánh giá phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hoạt động thực tiễn. Đồng thời, đạo đức cách mạng cũng là tiêu chí phản ánh trình độ văn minh, tiến bộ của xã hội và con người. Người có đạo đức là người cao thượng, xã hội có đạo đức là xã hội văn minh và phát triển bền vững.
1.2. Chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên
Một là, “trung với nước, hiếu với dân” - phẩm chất đạo đức quan trọng hàng đầu của người cán bộ, đảng viên
Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, “trung” và “hiếu” là hai phạm trù đạo đức - chính trị quan trọng. “Trung” thể hiện sự phục tùng tuyệt đối của bề tôi với vua. “Hiếu” thể hiện nghĩa vụ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, đặc biệt là việc chăm sóc, phụng dưỡng khi cha mẹ tuổi già, ốm đau và thực hiện các nghi lễ thờ cúng khi cha mẹ qua đời.
Tiếp thu những yếu tố tích cực của tư tưởng truyền thống, đồng thời vượt lên những hạn chế của quan niệm cũ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển quan điểm về “trung”, “hiếu” ở một tầm cao mới. Người gạt bỏ nội dung tuyệt đối trung thành với vua của Nho giáo và đưa vào đó nội dung mới là “trung với nước”, tức là tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc và nhân dân, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia - dân tộc. Nếu trong xã hội phong kiến, nước gắn với quyền lực của vua và giai cấp thống trị thì trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nước là của toàn thể nhân dân, chứ không của riêng một ai, hay giai cấp, tổ chức nào, nhân dân là người làm chủ đất nước.
Tương tự, chữ “hiếu” trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng được mở rộng về nội dung và phạm vi: không bị bó hẹp trong phạm vi đạo làm con, làm cháu đối với ông bà, cha mẹ, tình nghĩa anh em trong mối quan hệ gia đình mà còn được nâng lên thành “hiếu với dân”. Đó là yêu thương, tôn trọng và hết lòng phục vụ nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Hiếu với dân, theo Hồ Chí Minh, không dừng lại ở tình cảm thương dân mang tính ban phát hay bảo trợ, mà là sự gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng nhân dân và học hỏi từ nhân dân. Hiếu với dân là phải nắm rõ dân tình, hiểu rõ dân tâm, nâng cao dân trí, để nhân dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước. Hiếu với dân là quan tâm, chăm lo đời sống nhân dân, lấy dân làm gốc. Người chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”10.
Như vậy, “trung với nước, hiếu với dân” trở thành chuẩn mực đạo đức cơ bản của người cán bộ, đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải suốt đời phấn đấu và hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng và vì lợi ích của nhân dân. Chỉ khi thực hiện được điều đó, người cán bộ, đảng viên mới xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là minh chứng sinh động cho phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”11; “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”12.
Hai là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức không thể thiếu của người cán bộ, đảng viên
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là những chuẩn mực đạo đức cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên. Người cho rằng bốn đức này là nền tảng hình thành nhân cách con người: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”13.
Cần, kiệm, liêm, chính vừa là tiêu chí đạo đức cơ bản, vừa là thước đo bản lĩnh của người cán bộ, đảng viên trước mọi thử thách, cám dỗ. Người chỉ rõ: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”14. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”15. Như vậy, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu trong việc không ngừng tu dưỡng và thực hành nghiêm cần, kiệm, liêm, chính với phương châm đảng viên đi trước, làng nước theo sau.
Về chí công vô tư, theo Người, đó là đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc lên trên, lên trước lợi ích cá nhân, đặt việc công lên trên hết, trước hết, hết lòng, hết sức vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc và phải khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Theo Người, cần, kiệm, liêm, chính và chí công vô tư có mối quan hệ biện chứng với nhau, một người có cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư; và ngược lại một người có chí công vô tư thì sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.
Để xứng đáng là người cán bộ, đảng viên chính trực, liêm khiết, một lòng một dạ vì nước, vì dân, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân, thì cán bộ, đảng viên cần tiên phong đi đầu trong việc: quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm đấu tranh loại bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí. Theo Người, cần, kiêm, liêm, chính còn là nền tảng, thước đo văn minh, tiến bộ của một xã hội: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”16.
Ba là, gắn bó mật thiết với nhân dân
Nhân dân có sức mạnh vô cùng to lớn, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, công cuộc xây dựng, phát triển đất nước là của nhân dân, nhân dân là người làm nên lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên không được xa rời nhân dân, không được lên mặt “quan cách mạng” với dân, bởi cán bộ, đảng viên cũng từ nhân dân mà ra, xa rời nhân dân là thất bại, phải gắn bó chặt chẽ với nhân dân, phục vụ nhân dân hết lòng, vì: “Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”17. Người chỉ rõ: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”18.
Cán bộ, đảng viên gắn bó chặt chẽ với nhân dân là phải gần dân, học hỏi ở nhân dân, quan tâm chăm lo đến cuộc sống của nhân dân, mọi chính sách, đường lối của Đảng đều vì mục đích nâng cao đời sống của nhân dân, Người chỉ rõ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi… Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”19.
Đất nước đã giành được độc lập, thì nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ, của cán bộ, đảng viên là làm cho dân có ăn, có mặc, được học hành, ngày càng ấm no, hạnh phúc: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”20.
Bốn là, yêu thương con người và có tinh thần quốc tế trong sáng
Yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là khái niệm chung chung, trừu tượng, mà rất cụ thể, đó là yêu thương những người dân lao động nghèo khổ, người dân thuộc địa, phụ thuộc, bị áp bức, bị chà đạp, mất tự do trên toàn thế giới. Và Người đã dấn thân vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân không chỉ của dân tộc mình mà còn của các dân tộc bị áp bức và phụ thuộc trên thế giới.
Theo Người, yêu thương con người là phải xuất phát từ sự tôn trọng con người, lấy con người làm điểm xuất phát và mục đích cuối cùng cũng là hướng đến con người, đó là đem lại hạnh phúc, tự do cho con người. Vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Yêu thương con người còn là biết khơi dậy, phát huy những mặt tốt của mỗi người và hạn chế những mặt xấu của họ, vì: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”21.
Tinh thần quốc tế trong sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu nhân dân mình đồng thời lại biết yêu nhân dân các dân tộc bị áp bức, giải phóng cho dân tộc mình nhưng cũng phải ủng hộ, giải phóng cho các dân tộc khác, hơn nữa, giúp bạn là tự giúp mình, đấu tranh vì một nền hòa bình thế giới. Tinh thần quốc tế trong sáng chống lại thói vị kỷ dân tộc, sự xâm lược, bành trướng nước lớn, hướng vào mục tiêu hòa bình, hữu nghị, dân chủ, tiến bộ xã hội. Tinh thần quốc tế trong sáng là phẩm chất đạo đức không thể thiếu của người cán bộ, đảng viên văn minh, đạo đức.
2. Thực trạng và giải pháp xây dựng đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên hiện nay
2.1. Thực trạng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển và ngày càng hội nhập sâu rộng, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ và ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực để sớm đưa nước ta trở thành nước phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, thì ngoài những mặt thuận lợi, còn rất nhiều khó khăn. Đặc biệt là mặt trái của kinh tế thị trường, của hội nhập, của giao thoa giữa các nền kinh tế dễ làm cho cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên giữ vững bản lĩnh chính trị, tư tưởng, đạo đức và tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tận tụy phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, trung thành với lý tưởng và lợi ích của Đảng, của dân tộc; không ngừng phấn đấu vươn lên và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
Song bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, đau thương của nhân dân. Có những quyết định, việc làm gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên môi trường. Đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, dùng người không phù hợp với việc, không tiết kiệm thời gian lao động. Thao túng trong công tác cán bộ, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội. Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân, gia đình hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền, độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng gia tăng. Đã có không ít cán bộ, đảng viên đã bị kỷ luật, truy tố, xét xử, trong đó có cả những cán bộ, quản lý cấp cao, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và vị thế của Đảng và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước thực trạng đó, vấn đề tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh càng trở nên thiết thực hơn bao giờ hết.
2.2. Giải pháp xây dựng đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Một là, nói phải đi đôi với làm, thực hiện nêu gương đạo đức
Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức là đặc trưng, bản chất của tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Nói đi đôi với làm đối lập hoàn toàn với thói đạo đức giả của giai cấp bóc lột, nói một đằng làm một nẻo, thậm chí nói mà không làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chỉ ra những biểu hiện của thói đạo đức giả, nói mà không làm, bệnh quan liêu, coi thường quần chúng, “miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”22. Vì vậy, đã làm tổn hại đến uy tín của Đảng và Chính phủ trước nhân dân. Muốn nói đi đôi với làm có hiệu quả thì cùng với tấm lòng trung thực, còn phải biết kết hợp giữa chủ trương, biện pháp đúng đắn và sự quyết tâm. Không chỉ vậy, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, còn phải thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương, cán bộ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.
Trong giáo dục đạo đức cách mạng, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy, phát huy và nêu gương người tốt, việc tốt, lấy cái tích cực, cái tiến bộ đẩy lùi cái tiêu cực. Trong xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên càng đặc biệt chú trọng nêu gương, làm gương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”23. Phải chú ý phát hiện và xây dựng những tấm gương người tốt, việc tốt trong đời sống hằng ngày, trong lao động sản xuất, trong học tập, nghiên cứu… Một nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng chỉ có thể được xây dựng trên một nền tảng vững chắc, rộng lớn, khi những chuẩn mực đạo đức trở thành hành vi đạo đức hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên.
Hai là, xây dựng đạo đức cách mạng phải đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân
Muốn xây dựng đạo đức cách mạng, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chống những biểu hiện tiêu cực, thói đạo đức giả. Cùng với việc giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, những phẩm chất tốt đẹp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, phải đồng thời chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi do cá nhân chủ nghĩa mà không ít cán bộ, đảng viên đã tham danh, trục lợi, suy thoái đạo đức, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng, để xứng đáng là người cán bộ, đảng viên cách mạng chân chính.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vạch rõ nguồn gốc, bản chất xấu xa của chủ nghĩa cá nhân, mà còn chỉ ra chủ nghĩa cá nhân là “bệnh chính, bệnh mẹ” sinh ra nhiều thứ bệnh nguy hiểm khác: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền… làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân… do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”24. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với đạo đức cách mạng, vì chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo và xảo quyệt, nó khéo dỗ dành ta đi vào con đường suy thoái, tha hóa. Người cán bộ, đảng viên cách mạng phải tiêu diệt nó.
Ba là, phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời
Tu dưỡng đạo đức cách mạng là để phát triển bản thân, để trở thành người có ích cho dân, cho nước, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng việc tự rèn luyện, tự tu dưỡng đạo đức cách mạng của mỗi người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, tiên phong trong việc kiên trì rèn luyện đạo đức cách mạng, Người nói: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”25.
Vì thế, Đảng phải thường xuyên giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mặt khác, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức hằng ngày, đặc biệt ở thời điểm có tính bước ngoặt của cách mạng như giai đoạn hiện nay, đất nước tiến hành đổi mới, phát triển toàn diện.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên là “kim chỉ nam” cho công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tấm gương đạo đức vĩ đại của Người là bức tượng đài bất tử để cán bộ, đảng viên và các thế hệ người Việt Nam tự soi, tự sửa, học tập và noi theo. Trong thực tiễn cách mạng, Người đã đào tạo ra một thế hệ đội ngũ cán bộ, đảng viên cách mạng không chỉ có trí tuệ, bản lĩnh, kiên trung, dũng cảm, mà còn một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên, lên trước. Trong thời gian tới, cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, tích cực phát động phong trào học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp, văn minh, thịnh vượng.
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 5, tr. 292.
3, 10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 354.
4, 15, 22. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 50, 220, 176.
5, 25. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 601, 612.
6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 280.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 281.
9, 24. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 622, 547.
11, 12, 18, 20. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 272, 187, 51, 175.
13, 16, 17. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 117, 128, 232.
14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 122.
19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 518.
21, 23. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672.