Trong lịch sử phát triển của mỗi dân tộc, khát vọng vươn lên không chỉ phản ánh mong muốn về một tương lai tốt đẹp, mà còn trở thành nguồn lực tinh thần đặc biệt quan trọng, định hướng mục tiêu, quy tụ ý chí, khơi dậy tiềm năng và thúc đẩy hành động của quốc gia - dân tộc. Đối với dân tộc Việt Nam, khát vọng độc lập, tự do, tự cường và phát triển đã được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đến thời đại Hồ Chí Minh, khát vọng đó được nâng lên tầm cao mới, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc với giải phóng con người, độc lập với tự do và hạnh phúc của nhân dân, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm riêng mang tên "khát vọng phát triển đất nước", song hoạt động lý luận và thực tiễn của Người luôn nhất quán một hoài bão lớn: làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày càng phát triển và có vị thế xứng đáng trên thế giới. Khi trả lời các nhà báo nước ngoài năm 1946, Người nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành"1. Điều đó cho thấy khát vọng Hồ Chí Minh vượt khỏi giới hạn mục tiêu giành chính quyền, trở thành khát vọng kiến tạo một quốc gia độc lập, phát triển và xây dựng một xã hội bảo đảm ngày càng tốt hơn cuộc sống của con người.
Khát vọng đó có sự gặp gỡ sâu sắc với yêu cầu phát triển của đất nước hiện nay. Đại hội XIV của Đảng xác định những mục tiêu phát triển lớn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, đổi mới mô hình phát triển và khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước. Tinh thần xuyên suốt được nhấn mạnh là biến ý chí, khát vọng thành hành động và kết quả phát triển cụ thể. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước không chỉ nhằm khẳng định giá trị lịch sử của một di sản tư tưởng, mà quan trọng hơn là làm rõ những giá trị có khả năng định hướng cho việc giải quyết các vấn đề phát triển của Việt Nam hiện nay. Đó không phải là sự sao chép những giải pháp của một thời kỳ lịch sử, mà là kế thừa những nguyên tắc có tính nền tảng về mục tiêu phát triển, chủ thể phát triển, nguồn lực phát triển, phương thức phát triển và điều kiện bảo đảm cho phát triển.
1. Khát vọng phát triển đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1. Khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa
Điểm xuất phát của khát vọng phát triển đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh là giành lại quyền sống, quyền độc lập và quyền tự quyết của dân tộc. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến khi trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, vấn đề xuyên suốt trong tư duy và hành động của Người là tìm ra con đường, nhằm đưa dân tộc thoát khỏi thân phận thuộc địa, trở thành một quốc gia độc lập, có quyền quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Tuy nhiên, độc lập trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải mục tiêu khép kín, mà là tạo tiền đề cho một sự phát triển cao hơn, trong đó quyền làm chủ của nhân dân được xác lập, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được nâng cao. Bởi vậy, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người chỉ rõ: "Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"2. Điều đó thể hiện bước phát triển có ý nghĩa đặc biệt trong tư duy của Người về mục tiêu dân tộc: độc lập là điều kiện tiên quyết của sự phát triển dân tộc, nhưng phát triển vì con người lại là thước đo giá trị của độc lập. Theo logic đó, giành chính quyền chưa phải là kết thúc cách mạng; xây dựng một xã hội mới đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân mới là mục tiêu lâu dài. Vì vậy, sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh không tách rời khát vọng phát triển dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh sự thống nhất giữa yêu cầu giải phóng dân tộc với yêu cầu phát triển đất nước; giữa quyền tự quyết quốc gia với quyền làm chủ và hạnh phúc của con người; giữa mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài. Đó chính là nền tảng chính trị, tư tưởng của khát vọng phát triển đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.2. Khát vọng xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc
Nếu độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thì xây dựng một đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân là nội dung trung tâm của khát vọng phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam mới, Người đã gắn giá trị của tự do, độc lập với khả năng giải quyết những nhu cầu thiết thực của nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân chỉ cảm nhận đầy đủ giá trị của độc lập khi đời sống được bảo đảm, trước hết là những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, học tập. Người chỉ rõ: "Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập"3.
Quan niệm phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng nhất phát triển với tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trong tư tưởng của Người, phát triển là quá trình nâng cao đời sống vật chất và tinh thần; phát triển kinh tế gắn với văn hóa, giáo dục, đạo đức, dân chủ, công bằng; lợi ích quốc gia gắn với lợi ích thiết thực của mỗi người dân và lợi ích của cả cộng đồng. Do đó, khát vọng phát triển luôn mang bản chất nhân văn sâu sắc. Trong những năm tháng đất nước chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng tầm nhìn đến tương lai kiến thiết nước nhà. Người tin tưởng rằng sau thắng lợi, nhân dân Việt Nam sẽ xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Đây không chỉ là niềm tin vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, độc lập phải được chuyển hóa thành sức mạnh kiến thiết, chiến thắng phải được tiếp nối bằng phát triển.
1.3. Khát vọng phát triển con người, lấy con người làm mục tiêu và động lực chủ yếu
Một đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh là khát vọng phát triển đất nước luôn gắn chặt với khát vọng phát triển con người. Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả của phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ mới. Ngay trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 9/1945), Người đặt triển vọng tương lai của dân tộc và khả năng sánh vai với các cường quốc năm châu trong mối quan hệ trực tiếp với học tập, giáo dục và sự trưởng thành của thế hệ trẻ. Người viết: "Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em"4. Qua đó có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguồn lực quyết định cho sự phát triển lâu dài không chỉ là tài nguyên thiên nhiên hay nguồn lực vật chất, mà trước hết là con người. Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đạo đức, ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động và khát vọng cống hiến chính là tạo dựng nguồn lực nội sinh cho phát triển quốc gia. Đồng thời, sự phát triển con người không chỉ được đo bằng tri thức hay năng lực chuyên môn, mà còn bằng nhân cách, đạo đức và trách nhiệm xã hội. Con người mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng tới là con người có lý tưởng, có tri thức, có đạo đức, có sức khỏe, có tinh thần làm chủ và ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Do đó, phát triển đất nước và phát triển con người là hai quá trình thống nhất, quy định và thúc đẩy lẫn nhau.
1.4. Khát vọng tự lực, tự cường gắn với phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại
Khát vọng chỉ có thể trở thành hiện thực khi được bảo đảm bằng nguồn lực và sức mạnh thực tế của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, coi đây là phẩm chất cần thiết của một dân tộc muốn tự quyết định tương lai, vận mệnh của mình. Từ hành trình tìm đường cứu nước đến lãnh đạo cách mạng, Người nhất quán tinh thần dựa vào sức mình là chính, phát huy cao nhất nguồn lực của nhân dân và dân tộc. Tuy nhiên, tự lực, tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với khép kín hay biệt lập. Người luôn chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và thành tựu tiến bộ của nhân loại; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Chính sự thống nhất giữa nội lực và ngoại lực, độc lập tự chủ và hợp tác quốc tế tạo nên phương thức huy động nguồn lực đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ở bình diện trong nước, đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh quyết định. Khát vọng phát triển không thể chỉ là ý chí của một cá nhân, một tổ chức hay một bộ phận xã hội, mà phải trở thành ý chí, niềm tin và hành động của đông đảo quần chúng nhân dân. Do đó, quy tụ được lòng dân, phát huy quyền làm chủ, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và sức sáng tạo của nhân dân là điều kiện để biến khát vọng thành sức mạnh vật chất.
1.5. Khát vọng xây dựng Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ đủ năng lực tổ chức phát triển
Một khát vọng lớn của dân tộc cần có lực lượng đủ khả năng định hướng, lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Vì thế, xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh; xây dựng Nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có phẩm chất, vừa có năng lực là bộ phận không thể tách rời trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước. Điểm cốt lõi trong quan niệm của Người là quyền lực phải phục vụ nhân dân. Chính quyền không phải là thiết chế đứng trên nhân dân, mà là công cụ để tổ chức cuộc sống mới, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực vì lợi ích chung. Do đó, năng lực quản trị quốc gia, đạo đức công vụ, trách nhiệm của cán bộ và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước.
Có thể khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước tạo thành một chỉnh thể tương đối thống nhất: độc lập, tự chủ là tiền đề; chủ nghĩa xã hội là định hướng; phồn vinh và hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu; con người là trung tâm và chủ thể; tự lực, tự cường và đại đoàn kết là nguồn sức mạnh nội sinh; kết hợp sức mạnh thời đại là phương thức gia tăng nguồn lực; Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ là những nhân tố tổ chức và bảo đảm thực hiện.
2. Giá trị định hướng cho con đường phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế được nâng lên sau 40 năm đổi mới, đồng thời phải đối diện với những biến đổi nhanh, phức tạp của môi trường quốc tế. Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước có giá trị to lớn, định hướng cho sự phát triển bền vững đất nước.
2.1. Định hướng kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược phát triển
Giá trị định hướng trước hết của tư tưởng Hồ Chí Minh là khẳng định mọi chiến lược phát triển phải đặt trên nền tảng độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong điều kiện mới, độc lập quốc gia không chỉ thể hiện ở chủ quyền lãnh thổ và quyền tự quyết về chính trị, mà ngày càng gắn với năng lực tự chủ về kinh tế, công nghệ, năng lượng, dữ liệu, chuỗi cung ứng, nguồn nhân lực và khả năng chống chịu trước những biến động từ bên ngoài. Vì vậy, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc, mà còn phải chuyển hóa nguyên tắc đó thành năng lực tự chủ của sự phát triển trong tương lai.
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, phát huy tự lực, tự cường và chủ động nắm bắt thời cơ. Đây là sự phát triển phù hợp với logic trong tư tưởng Hồ Chí Minh: chỉ một dân tộc có khả năng phát huy sức mạnh của chính mình mới có thể hợp tác bình đẳng, tận dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài và giữ quyền chủ động trong quá trình phát triển. Kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội còn định hướng cho việc xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng và tiến bộ xã hội, giữa hiệu quả kinh tế và công bằng, giữa phát triển thị trường với bảo đảm định hướng xã hội, giữa lợi ích trước mắt với mục tiêu phát triển lâu dài. Điều đó bảo đảm quá trình hiện đại hóa đất nước không xa rời mục tiêu vì con người và hạnh phúc của nhân dân.
2.2. Định hướng xây dựng mô hình phát triển lấy nhân dân và con người làm trung tâm, phồn vinh và hạnh phúc làm mục tiêu cao nhất
Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa độc lập với hạnh phúc của nhân dân có thể rút ra một nguyên tắc có giá trị bền vững: thành quả cuối cùng của phát triển phải được đo bằng sự phát triển con người và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng khi đất nước chuyển từ yêu cầu thoát nghèo, vượt qua tình trạng kém phát triển sang yêu cầu phát triển chất lượng cao. Khi trình độ phát triển càng cao, thước đo thành công càng không thể chỉ giới hạn ở tốc độ tăng trưởng GDP, mà cần được phản ánh trong thu nhập thực tế, cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, chất lượng môi trường sống, an sinh xã hội, khả năng tham gia quản trị xã hội, mức độ an toàn và triển vọng phát triển của mỗi người.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh phát triển đất nước gắn với nâng cao đời sống nhân dân, khơi dậy khát vọng phát triển và phát huy nhân tố con người. Điều này cho thấy giá trị sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh: phát triển không phải là mục tiêu tự thân, mà phải hướng tới cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời, việc đặt con người ở trung tâm không có nghĩa chỉ coi con người là đối tượng được thụ hưởng. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể sáng tạo của phát triển. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy chăm lo cho dân sang kết hợp chăm lo và tạo điều kiện để người dân làm chủ quá trình sáng tạo, khởi nghiệp, học tập suốt đời và tham gia vào quá trình kiến tạo tương lai đất nước.
2.3. Định hướng phát huy sức mạnh nội sinh, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực đột phá
Tư tưởng tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh phát triển ngày nay. Tự lực, tự cường trong kỷ nguyên mới không thể chỉ được hiểu là tinh thần chịu khó hay huy động sức người theo nghĩa truyền thống; nội hàm của nó phải được phát triển thành năng lực sáng tạo, năng lực khoa học, công nghệ, năng lực quản trị và năng lực tự chủ trong những lĩnh vực chiến lược. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của các quốc gia và là đột phá quan trọng trong phát triển đất nước. Yêu cầu đó có thể được nhìn nhận như sự phát triển mới của tinh thần tự lực, tự cường Hồ Chí Minh trong điều kiện nền kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp mới.
Muốn vậy, trước hết phải đầu tư mạnh mẽ cho con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và bồi dưỡng thế hệ trẻ cho thấy tầm nhìn chiến lược: vị thế tương lai của đất nước phụ thuộc rất lớn vào chất lượng con người. Trong kỷ nguyên số, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi lợi thế phát triển chuyển ngày càng mạnh từ tài nguyên hữu hình sang tri thức, dữ liệu, công nghệ và khả năng sáng tạo. Theo đó, phát huy khát vọng phát triển phải gắn với xây dựng một xã hội khuyến khích sáng tạo; trọng dụng nhân tài; bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; tạo môi trường để các nguồn lực xã hội được giải phóng; đồng thời xây dựng năng lực làm chủ những công nghệ cốt lõi. Tự lực, tự cường trong thời đại mới không phải là làm mọi thứ một mình, mà là có đủ năng lực lựa chọn, tiếp nhận, làm chủ, sáng tạo và hợp tác bình đẳng.
2.4. Định hướng kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với chủ động hội nhập quốc tế
Một trong những giá trị nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh là giải quyết hài hòa quan hệ giữa phát huy sức mạnh bên trong với tranh thủ sức mạnh bên ngoài. Trong điều kiện phát triển hiện nay, đại đoàn kết toàn dân tộc trước hết phải được chuyển hóa thành sự đồng thuận đối với mục tiêu phát triển, niềm tin vào tương lai đất nước và ý thức trách nhiệm của từng chủ thể xã hội. Một chiến lược phát triển dù đúng đắn, song khó đạt kết quả nếu khát vọng quốc gia không trở thành khát vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, người Việt Nam ở nước ngoài và các lực lượng xã hội khác.
Đồng thời, sức mạnh dân tộc cần được kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại. Trong một thế giới liên kết sâu rộng, nguồn lực phục vụ phát triển không chỉ nằm trong biên giới quốc gia. Tri thức, công nghệ, vốn, thị trường, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới hợp tác quốc tế đều có thể trở thành nguồn lực phát triển nếu quốc gia có năng lực hấp thụ và sử dụng hiệu quả. Do đó, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải giải quyết tốt quan hệ giữa tự chủ và hội nhập: hội nhập để phát triển nhưng không phụ thuộc; mở cửa để tiếp nhận tinh hoa nhưng giữ vững bản sắc và lợi ích quốc gia - dân tộc; hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng duy trì khả năng tự quyết chiến lược. Đây là một nội dung quan trọng của năng lực tự chủ quốc gia trong kỷ nguyên mới.
2.5. Định hướng tiếp tục xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, kiến tạo phát triển
Khát vọng phát triển chỉ có thể trở thành hiện thực khi có hệ thống tổ chức đủ năng lực chuyển hóa mục tiêu chiến lược thành chính sách, nguồn lực và kết quả cụ thể. Trong điều kiện mới, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo, mà còn phải nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, dự báo, tổ chức thực hiện và dẫn dắt phát triển. Xây dựng Nhà nước phải hướng mạnh tới Nhà nước pháp quyền, quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Đội ngũ cán bộ không chỉ cần bản lĩnh chính trị và đạo đức, mà còn phải có năng lực đổi mới, tư duy chiến lược, trình độ số, khả năng tổ chức và tinh thần dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thực tiễn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục đặt yêu cầu xây dựng thể chế vững mạnh, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đồng thời tạo cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Điều đó càng làm rõ giá trị phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh: cán bộ và bộ máy không phải mục đích tự thân mà phải được đánh giá bằng khả năng phục vụ Nhân dân và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
3. Giải pháp phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước hiện nay
Để giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển, vấn đề đặt ra không chỉ là tuyên truyền về khát vọng, mà phải chuyển hóa khát vọng thành năng lực và hành động phát triển.
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước, khắc phục cách tiếp cận phân tán từng luận điểm riêng lẻ. Khát vọng phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nhận thức như một chỉnh thể bao gồm mục tiêu, con đường, động lực, chủ thể và phương thức thực hiện. Cách tiếp cận này giúp làm rõ hơn chiều sâu phát triển trong di sản Hồ Chí Minh và tạo cơ sở lý luận cho vận dụng trong điều kiện mới.
Thứ hai, việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước cần hướng tới khơi dậy trách nhiệm cá nhân và tinh thần hành động. Khát vọng quốc gia chỉ có sức sống khi được cụ thể hóa thành khát vọng học tập, lao động, sáng tạo và cống hiến của mỗi người; thành tinh thần đổi mới của doanh nghiệp; trách nhiệm công vụ của cán bộ; ý thức làm chủ của nhân dân.
Thứ ba, gắn khơi dậy khát vọng với tạo dựng các điều kiện thể chế để khát vọng có thể trở thành hiện thực. Một xã hội khuyến khích sáng tạo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, trọng dụng người có tài, đề cao trách nhiệm, bảo đảm cơ hội phát triển và xử lý nghiêm những hành vi cản trở lợi ích chung chính là môi trường cần thiết để giải phóng tiềm năng xã hội.
Thứ tư, kết hợp giáo dục ý chí tự lực, tự cường với nâng cao năng lực thực chất của nền kinh tế và quốc gia. Tinh thần tự cường chỉ trở thành sức mạnh khi được cụ thể hóa bằng năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học, công nghệ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, khả năng quản trị và năng lực làm chủ các lĩnh vực then chốt.
Thứ năm, thường xuyên củng cố niềm tin xã hội và sự đồng thuận quốc gia. Khát vọng phát triển mạnh nhất khi nhân dân nhìn thấy mối liên hệ rõ ràng giữa mục tiêu lớn của đất nước với lợi ích, cơ hội và tương lai của chính mình. Vì vậy, mọi chính sách phát triển cuối cùng đều phải hướng đến nhân dân, dựa vào nhân dân và được kiểm nghiệm bằng chất lượng cuộc sống của nhân dân.
*
* *
Khát vọng phát triển đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tinh thần nhân văn và tầm nhìn phát triển tiến bộ của thời đại. Đó là khát vọng đưa dân tộc từ mất nước đến độc lập, từ nghèo nàn, lạc hậu đến giàu mạnh, từ thân phận bị áp bức đến tự do, làm chủ; xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc và đất nước có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.
Giá trị sâu sắc trong tư tưởng đó của Người đối với Việt Nam trong kỷ nguyên mới không nằm ở việc cung cấp một mô hình phát triển cố định, mà trước hết ở hệ giá trị và phương pháp luận định hướng phát triển: kiên định độc lập, tự chủ và con đường xã hội chủ nghĩa; lấy nhân dân và con người làm trung tâm; phát huy sức mạnh nội sinh và ý chí tự lực, tự cường; coi trọng tri thức, giáo dục và năng lực sáng tạo; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; xây dựng Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ đủ năng lực kiến tạo phát triển; kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội XIV của Đảng đã đặt đất nước trước những mục tiêu phát triển cao hơn, yêu cầu tự chủ chiến lược mạnh hơn và tinh thần hành động quyết liệt hơn, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045. Trong hành trình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển đất nước tiếp tục là nguồn lực tinh thần, cơ sở giá trị và định hướng phương pháp luận quan trọng để quy tụ sức mạnh toàn dân tộc, biến khát vọng thành ý chí, ý chí thành hành động và hành động thành những thành tựu phát triển cụ thể, đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, t. 15, tr. 627.
2, 3, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64, 175, 35.