1. Nội dung vấn đề "tự chủ chiến lược" ở Việt Nam hiện nay
1.1. Khái niệm và yêu cầu củng cố "tự chủ chiến lược"
"Tự chủ chiến lược" được hiểu là năng lực của quốc gia trong việc chủ động quyết định, tổ chức và kiểm soát những điều kiện cốt lõi của phát triển nhằm giữ vững quyền tự quyết, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc và duy trì thế chủ động trong một môi trường quốc tế nhiều biến động. "Tự chủ chiến lược" là một bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo, cầm quyền và quản trị đất nước của Đảng qua 40 năm đổi mới (1986 - 2026). Trong lịch sử dân tộc, tư tưởng "độc lập, tự chủ" được xem là nội dung xuyên suốt. Trong cách hiểu truyền thống, tư tưởng độc lập, tự chủ chủ yếu nhấn mạnh yêu cầu không lệ thuộc và giữ vững chủ quyền quốc gia. Đây là cơ sở để tiếp tục phát triển thành tư duy "tự chủ chiến lược". Quan điểm chỉ đạo của Đảng là: "phát huy tự chủ chiến lược, xác lập mô hình phát triển mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững; nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”1. "Tự chủ chiến lược" biểu thị một nấc thang cao hơn của tư duy phát triển, ở đó quyền tự quyết được đặt trong quan hệ trực tiếp với khả năng làm chủ đường hướng phát triển, nền tảng kinh tế, khoa học, công nghệ, dữ liệu, hạ tầng chiến lược, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Theo nghĩa đó, tự chủ chiến lược không dừng ở bảo toàn vị thế độc lập, mà hướng tới năng lực chủ động kiến tạo thế và lực phát triển, mở rộng không gian phát triển và nâng cao sức chống chịu của quốc gia trước các tác động bất lợi từ bên ngoài.
Yêu cầu củng cố "tự chủ chiến lược" ở Việt Nam hiện nay trước hết được đặt ra từ chính yêu cầu nội tại của đất nước trong kỷ nguyên mới. Khi mục tiêu đặt ra là vươn lên phát triển nhanh, bền vững, nâng cao vị thế quốc gia và tạo lập những tiền đề vững chắc cho các chặng đường đến năm 2030 và năm 2045, thì tự chủ không thể chỉ được hiểu là trạng thái không lệ thuộc, mà phải được nâng lên thành năng lực tổ chức và bảo đảm các điều kiện cốt lõi của phát triển. Yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết bởi "môi trường chính trị, kinh tế, an ninh thế giới liên tục bất ổn, diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo"2. Sự bất định của thời đại và bất định của thời cuộc đặt Việt Nam trước sức ép vừa phải mở rộng quan hệ để tranh thủ nguồn lực, vừa phải giữ vững năng lực tự quyết để không bị cuốn vào lệ thuộc hoặc bị động trước các biến động bên ngoài. Bên cạnh đó, những yếu tố mới của thời đại như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ chiến lược, an ninh mạng, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và các hình thái cạnh tranh mới không chỉ làm thay đổi phương thức phát triển, mà còn làm thay đổi điều kiện bảo đảm sự tồn tại và vươn lên của quốc gia. "Tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ Đại hội XIV là: Tự chủ chiến lược, nắm chắc thời cơ, chung sức đồng lòng, vượt qua mọi thách thức, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển; biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả3. Do đó, củng cố tự chủ chiến lược trở thành yêu cầu khách quan để Việt Nam vừa tăng cường nội lực, nâng cao sức chống chịu và năng lực tự quyết, vừa khẳng định vị thế, vai trò, bản lĩnh dân tộc.
1.2. Vấn đề cơ bản của việc củng cố "tự chủ chiến lược ở" Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, củng cố tự chủ trong lựa chọn đường hướng phát triển đất nước.
Quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam là kết tinh của lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước, nhất là trong thời đại Hồ Chí Minh. Quyền tự quyết là giá trị, di sản thiêng liêng của một dân tộc và là biểu hiện trước hết của tinh thần "tự chủ, tự lực, tự cường". Vì vậy, củng cố tự chủ trong lựa chọn đường hướng phát triển đất nước trước hết là giữ vững quyền tự quyết của quốc gia đối với mục tiêu, mô hình và bước đi phát triển trong toàn bộ tiến trình phát triển. Con đường đó của Việt Nam là "kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội". Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và các sức ép từ bên ngoài có thể tác động trực tiếp đến lựa chọn phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề đặt ra không chỉ là phát triển như thế nào, mà còn là phát triển theo định hướng nào, trên cơ sở lợi ích nào và vì mục tiêu nào. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: "tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh vào kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc"4. Ngày nay, những yếu tố mới của thời đại, như toàn cầu hóa sâu rộng, khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, chính trị toàn cầu. Điều đó đòi hỏi các quốc gia không chỉ ứng phó, mà còn phải thích ứng, chủ động tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn đất nước. Bên cạnh việc bảo đảm độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tinh thần tự chủ chiến lược còn được thể hiện trong việc tự quyết định mô hình, lộ trình, phương thức phát triển phù hợp. Để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần "tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"5. Chính vì vậy, tự chủ trong lựa chọn đường hướng phát triển là một phương diện nền tảng của tự chủ chiến lược, bởi nó quyết định khả năng để đất nước không bị cuốn theo những quỹ đạo phát triển do bên ngoài áp đặt, đồng thời giữ vững được sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển, lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu của thời đại. Ở nghĩa đó, củng cố tự chủ chiến lược trong lựa chọn đường hướng phát triển là củng cố năng lực tự quyết về tương lai của đất nước.
Thứ hai, củng cố tự chủ kinh tế gắn với việc nâng cao nội lực của nền kinh tế.
Kinh tế là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định: "tích cực phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ"6. Từ Đại hội XII đến nay, Đảng ta xác định phát triển kinh tế là trọng tâm. Củng cố tự chủ kinh tế gắn với nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế là củng cố nền tảng vật chất của tự chủ chiến lược. Trong điều kiện liên kết kinh tế quốc tế ngày càng phát triển sâu rộng, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động thị trường, tài chính, tiền tệ và công nghệ ngày càng lớn. Một nền kinh tế muốn giữ được thế chủ động không thể chỉ dựa vào độ mở hay khả năng huy động nguồn lực từ bên ngoài, mà phải được nâng đỡ bằng sức mạnh nội sinh, khả năng tự điều chỉnh và sức chống chịu trước các tác động bất lợi. "Phát huy tự chủ chiến lược, xác lập mô hình phát triển mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững"7. Củng cố tự chủ kinh tế là làm cho nền kinh tế có đủ năng lực tự đứng vững, tự thích ứng và tự phát triển trong hội nhập. Ở đó, năng lực nội sinh không được đo đơn thuần bằng quy mô nguồn lực, mà được đo bằng chất lượng tăng trưởng, hiệu quả của các cân đối lớn, sức mạnh của khu vực kinh tế trong nước và khả năng làm chủ những lĩnh vực có ý nghĩa nền tảng đối với phát triển lâu dài. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu: "tăng trưởng phải dựa chủ yếu vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo; giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ… nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và chuỗi cung ứng trong những lĩnh vực trọng yếu"8. Tự chủ về kinh tế là điều kiện, tiền đề quan trọng, nền tảng để củng cố tự chủ chiến lược trong tình hình mới.
Thứ ba, củng cố tự chủ về khoa học, công nghệ, dữ liệu và hạ tầng chiến lược.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động sâu sắc đến năng lực nội tại và chiến lược phát triển của các quốc gia. Qua đó đặt ra yêu cầu phải thích ứng nhanh, ứng phó linh hoạt và chủ động chuyển đổi mô hình phát triển. Củng cố tự chủ về khoa học, công nghệ, dữ liệu và hạ tầng chiến lược thực chất là củng cố khả năng làm chủ những điều kiện hiện đại có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển dài hạn và quyền tự quyết của quốc gia. Phát triển tư duy tự chủ về chính trị, kinh tế, đối ngoại trong giai đoạn trước đây, "tự chủ chiến lược" yêu cầu gắn bó mật thiết, chặt chẽ với những yếu tố mới của thời đại. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, hạ tầng chiến lược… là những yếu tố mới, ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp quyết định vị thế phát triển, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của đất nước. “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới”9. Điều đó có nghĩa một quốc gia khó có thể giữ vững vị thế chủ động nếu phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ lõi, hạ tầng số, khả năng kiểm soát dữ liệu hoặc các nền tảng kỹ thuật do bên ngoài chi phối. Vì vậy, củng cố tự chủ trên phương diện này thực chất là củng cố khả năng làm chủ những điều kiện mới của phát triển, qua đó bảo đảm cho đất nước không chỉ có thêm động lực tăng trưởng, mà còn có thêm năng lực tự quyết trong thế giới đang chuyển động mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ và dữ liệu. "Tập trung thúc đẩy công nghệ chiến lược. Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, trước hết là hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng, phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số; tạo môi trường thử nghiệm, khuyến khích đổi mới và bảo vệ sáng tạo"10.
Thứ tư, củng cố tự chủ trong quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo vệ không gian phát triển.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gia tăng, các thách thức truyền thống và phi truyền thống đan xen, phát triển bền vững và an ninh ngày càng gắn bó chặt chẽ. Theo đó, năng lực tự chủ của quốc gia phải được đặt trên nền tảng quốc phòng đủ mạnh, an ninh đủ vững, đối ngoại đủ linh hoạt và khả năng chủ động bảo vệ không gian phát triển. Củng cố tự chủ trong quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo vệ không gian phát triển là giữ vững thế chủ động chiến lược của đất nước trước các rủi ro và thách thức từ bên ngoài. "Quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia"11. Vì vậy, củng cố tự chủ trên phương diện này là củng cố khả năng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, không để những biến động từ bên ngoài làm suy giảm năng lực tự quyết, nội lực của đất nước. Ở đó, cần có sự "kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế"12. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo vệ không gian phát triển không phải là những lĩnh vực tách rời, mà là phương diện gắn bó chặt chẽ trong yêu cầu giữ thế chủ động chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Một số giải pháp góp phần củng cố "tự chủ chiến lược" ở Việt Nam hiện nay
Một là, nâng cao chất lượng kinh tế và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Đây là giải pháp nền tảng nhằm bảo đảm Việt Nam giữ được sức chống chịu, khả năng thích ứng và quyền tự quyết trong hội nhập quốc tế. Ngày nay, những biến đổi trong đời sống kinh tế và chính trị toàn cầu khiến nền kinh tế Việt Nam vốn có độ mở lớn tiềm ẩn nguy cơ lệ thuộc và tổn thương trước các tranh chấp kinh tế và chính trị quốc tế. Một nền kinh tế muốn giữ được thế chủ động không thể chỉ dựa vào tốc độ tăng trưởng hay độ mở của thị trường, mà phải được nâng đỡ bởi chất lượng phát triển, sức chống chịu nội tại và khả năng tự điều chỉnh trước biến động từ bên ngoài. Cần "xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập quốc tế; tập trung nâng cao năng lực sản xuất một số ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự lực, tự chủ, tự cường về khoa học, công nghệ"13. Nâng cao chất lượng nền kinh tế, làm cho nền kinh tế đủ mạnh về nội lực, đủ vững về cấu trúc và đủ linh hoạt trong điều hành để giữ vững các cân đối lớn, năng lực tự chủ và bảo vệ được lợi ích phát triển lâu dài của đất nước trong mọi tình huống.
Hai là, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng chuyển mạnh sang trình độ công nghệ, năng lực sáng tạo và chất lượng nhân lực, một quốc gia muốn giữ vững năng lực tự chủ buộc phải làm chủ các nhân tố quyết định của thời đại mới. Điều đó đòi hỏi phải phát triển mạnh hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và khả năng làm chủ công nghệ mới. Đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là giải pháp để chuyển tự chủ chiến lược từ quan điểm phát triển thành năng lực phát triển thực tế. Đảng ta xác định: "Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính", "đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế" và "phát triển nguồn nhân lực chất lượng số"14. Chỉ trên nền tảng đó, đất nước mới có thể tạo ra các động lực tăng trưởng mới, giảm dần sự lệ thuộc vào lợi thế chi phí thấp và từng bước hình thành năng lực phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và chất lượng con người.
Ba là, hoàn thiện thể chế phát triển và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.
Đây là giải pháp nhằm bảo đảm tự chủ chiến lược được tổ chức, vận hành và hiện thực hóa trong thực tiễn phát triển đất nước. Trong điều kiện phát triển mới, tự chủ chiến lược không chỉ phụ thuộc vào quy mô nguồn lực hay tiềm lực kinh tế, mà còn phụ thuộc vào năng lực của nhà nước trong việc định hướng phát triển, điều phối các nguồn lực, xử lý các điểm nghẽn và phản ứng kịp thời trước những biến động phức tạp từ môi trường trong nước và quốc tế. "Hoàn thiện thể chế phát triển... Lấy thực thi làm thước đo", "Thể chế là "điểm nghẽn của điểm nghẽn" nhưng cũng là "đột phá của đột phá". Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới"15. Vấn đề không dừng ở việc hoàn thiện chính sách theo nghĩa kỹ thuật, mà là xây dựng thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, linh hoạt và nền quản trị quốc gia có đủ năng lực dự báo, điều hành, kiến tạo phát triển và quản trị rủi ro. Có như vậy, tự chủ chiến lược mới được chuyển hóa từ định hướng thành năng lực tổ chức thực tế của quốc gia.
Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa củng cố nội lực với tranh thủ ngoại lực, giữa tự chủ chiến lược với hội nhập quốc tế.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, nguy cơ lệ thuộc vào bên ngoài cũng gia tăng. Không một quốc gia nào có thể phát triển nhanh, bền vững nếu tự khép mình, song cũng không khó có thể giữ vững tự chủ khi phụ thuộc kéo dài vào ngoại lực. Vì vậy, việc kết hợp hài hòa, có nguyên tắc giữa nội lực và ngoại lực trở thành yêu cầu quan trọng trong hoạch định và tổ chức thực hiện các quyết sách chính trị. Theo đó, cần "Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực khác từng bước mở rộng; nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng, thực hiện các chuẩn mực chung bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc"16. Vấn đề đặt ra không phải là thiên về nội lực hay ngoại lực, mà là giải quyết đúng đắn, hài hòa mối quan hệ giữa hai phương diện đó trên nền tảng giữ vững tự chủ chiến lược. Sau 40 năm đổi mới (1986 - 2026), Đảng ta "đã nhận thức sâu sắc hơn yêu cầu giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia"17. Điều này đòi hỏi lấy nội lực làm nền tảng quyết định, đồng thời chủ động tranh thủ ngoại lực như một nguồn lực quan trọng để nâng cao nội lực, mở rộng không gian phát triển và củng cố năng lực tự quyết của đất nước.
Năm là, tăng cường quốc phòng, an ninh, an ninh dữ liệu và năng lực ứng phó từ sớm, từ xa với các rủi ro chiến lược.
Thực hiện giải pháp này nhằm bảo vệ các điều kiện cốt lõi của phát triển và giữ vững thế chủ động chiến lược của quốc gia. Trong bối cảnh các thách thức truyền thống và phi truyền thống đan xen, các rủi ro an ninh, công nghệ, dữ liệu và địa chính trị có thể tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển, tự chủ chiến lược chỉ có thể được củng cố khi đất nước có đủ năng lực bảo vệ môi trường ổn định, bảo vệ các nền tảng an ninh mới và chủ động nhận diện, phòng ngừa, xử lý các nguy cơ ngay từ sớm, từ xa. "Tăng cường nguồn lực và các thể chế đầu tư đặc thù cho quốc phòng, an ninh, đối ngoại để nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của đất nước trên nguyên tắc bảo đảm và ưu tiên cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc"18. Điều đó đòi hỏi phải gắn chặt hơn quốc phòng, an ninh, dữ liệu, công nghệ, đối ngoại và phát triển trong tư duy quản trị rủi ro chiến lược. Chỉ có như vậy, Việt Nam mới có thể giữ vững thế chủ động trong một thế giới bất định và bảo vệ được không gian phát triển trong dài hạn.
1, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2026, t.1, tr. 26.
2, 3, 18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 12, 397, 233.
4, 5, 8, 11, 12, 13, 15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 25, 81, 30, 33, 33-34, 158, 28.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 21.
9, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 31.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 158, 163.
16, 17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 86.