Mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội XIV: Nội hàm và định hướng chuyển đổi 

CT&PT - Đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là yêu cầu mang tính chiến lược, nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Trong những thập kỷ gần đây, nền kinh tế thế giới chứng kiến sự chuyển dịch mang tính cấu trúc, từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, tích lũy vốn và lao động giá rẻ sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Sự chuyển dịch này phản ánh những giới hạn của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, đồng thời cho thấy yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gia tăng, nguồn lực tự nhiên suy giảm và các vấn đề môi trường, xã hội trở nên cấp bách.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chủ yếu của mô hình phát triển mới. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức về con đường phát triển đất nước, hướng tới tăng trưởng nhanh và bền vững, dựa trên nền tảng tri thức và công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức như: hạn chế về thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học, công nghệ, hạ tầng số và hiệu quả quản trị quốc gia. Những “điểm nghẽn” này đang ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tận dụng cơ hội của kỷ nguyên số.
Trong bối cảnh đó, việc làm rõ nội hàm mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng chuyển đổi phù hợp với yêu cầu của Đại hội XIV, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định và thực thi chính sách phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
1. Nội hàm mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội XIV 
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định nội dung trung tâm của mô hình tăng trưởng là: Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực. Theo đó, mục tiêu của mô hình là “nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về đổi mới mô hình phát triển đất nước, thể hiện rõ sự kế thừa có chọn lọc và nâng tầm nhận thức từ các kỳ Đại hội trước. Đồng thời, định hướng này cũng phản ánh sự thích ứng chủ động của Việt Nam trước bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hướng tới xây dựng nền kinh tế hiện đại, tự chủ, sáng tạo và phát triển bền vững.

mo-hinh-tang-truong-moi-theo-tinh-than-dai-hoi-xiv-noi-ham-va-dinh-huong-chuyen-doi-1771918000.png

Thứ nhất, nguồn lực
Vốn

Mục tiêu nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên trên 40% GDP không chỉ nhằm gia tăng quy mô nguồn lực mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả phân bổ, tập trung vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Mô hình tăng trưởng mới đòi hỏi đa dạng hóa kênh huy động vốn, phát triển tài chính xanh, trái phiếu công nghệ và các quỹ đầu tư mạo hiểm cho đổi mới sáng tạo, đồng thời duy trì hệ số ICOR ở mức hợp lý (khoảng 4,5) để bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn.
Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, ổn định vĩ mô và phát triển hạ tầng chiến lược. Trong bối cảnh nhiều bất ổn, cần nâng cao chất lượng giải ngân và hiệu quả đầu tư. Đồng thời, đổi mới tư duy thu hút FDI theo hướng ưu tiên chất lượng, công nghệ cao, liên kết chuỗi cung ứng trong nước và bảo đảm phát triển xanh, bền vững.
Lao động
Một chỉ tiêu then chốt của mô hình tăng trưởng mới là nâng tốc độ tăng năng suất lao động bình quân lên khoảng 8,5%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 5 - 6% trước đây. Mục tiêu này thể hiện sự chuyển đổi chiến lược từ tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ sang mô hình dựa vào năng suất, tri thức và vốn con người.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuyển đổi số, thị trường lao động đang thay đổi mạnh mẽ về yêu cầu kỹ năng và phương thức tổ chức. Việt Nam cần phát huy lợi thế dân số vàng, đồng thời đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, nâng cao kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại. Đây là điều kiện then chốt để nâng cao năng suất và hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới.
Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)
Trong mô hình tăng trưởng mới, TFP được coi là động lực trung tâm của tăng trưởng chất lượng cao. Khi đóng góp của TFP gia tăng, nghĩa là nền kinh tế giảm phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào truyền thống (vốn và lao động), thay vào đó là dựa vào các yếu tố vô hình như: năng suất, tri thức, công nghệ, quản trị và thể chế... Việt Nam đã đạt được những bước tiến tích cực khi đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP tăng từ khoảng 34,75% (giai đoạn 2011 - 2015) lên 46,04% (giai đoạn 2016 - 2020) và duy trì mức khoảng 40% trong giai đoạn 2021 - 2025 (Tổng cục Thống kê, 2024). Xu hướng này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch dần sang mô hình tăng trưởng dựa trên nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đổi mới công nghệ và cải thiện năng suất tổng thể. Để thúc đẩy gia tăng TFP, Đại hội XIV đặt ưu tiên tăng cường đổi mới sáng tạo, thúc đẩy R&D, cải thiện quản trị doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực giữa vùng, ngành, lĩnh vực.
Thứ hai, cơ chế vận hành
Đại hội XIV khẳng định tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời nhấn mạnh những đổi mới cơ bản trong cơ chế vận hành. Điểm mới nổi bật là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với tiêu chuẩn, quy chuẩn và tăng cường kiểm tra, giám sát; điều này nhằm giảm rào cản hành chính, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thúc đẩy giải phóng sức sản xuất. Vai trò của Nhà nước được tái cấu trúc: từ can thiệp trực tiếp sang kiến tạo thể chế, tạo công cụ điều tiết để thị trường huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực, đồng thời bảo đảm các cân đối vĩ mô và mục tiêu công bằng xã hội, bền vững.
Thứ ba, chủ thể
Đại hội XIV làm rõ tư duy đa chủ thể trong nền kinh tế với yêu cầu phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Điểm mới là xác lập vị thế chủ đạo nhưng hiệu quả hơn của kinh tế nhà nước, không chỉ quản lý mà phải dẫn dắt cân đối lớn, định hướng chiến lược; đồng thời công nhận và thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Chính sách chuyển từ “thừa nhận” sang “bảo vệ, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển” cho khu vực tư nhân; đồng thời mở rộng không gian hoạt động cho kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể và vốn đầu tư nước ngoài. Về mặt quản trị xã hội, Đại hội XIV đề cao phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng cơ chế thuận lợi để nhân dân tham gia vào hoạch định chính sách và giám sát thực thi, gia tăng tính trách nhiệm giải trình của các cơ quan của Đảng, Nhà nước. Như vậy, mô hình mới không chỉ đa dạng hóa chủ thể kinh tế mà còn kết hợp chặt chẽ quyền lực, trách nhiệm và cơ chế minh bạch giữa Nhà nước - thị trường - xã hội.
Thứ tư, động lực tăng trưởng mới 
Các động lực tăng trưởng mới giữ vai trò khơi thông, nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, qua đó chuyển hóa tiềm năng thành kết quả phát triển kinh tế - xã hội cụ thể. Trong giai đoạn 2024 - 2025, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều Nghị quyết chiến lược về đổi mới thể chế, khoa học - công nghệ, kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế và đầu tư cho con người. Qua đó, tạo thành chuỗi động lực phát triển đồng bộ cho việc hình thành mô hình tăng trưởng mới. 
Thứ nhất, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực quản trị và tăng cường pháp quyền. Việc xây dựng khung pháp lý cho kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính và các mô hình kinh tế mới không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn tạo môi trường minh bạch, ổn định, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ hai, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh phát triển kinh tế số, nâng cao đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và thúc đẩy hình thành các ngành kinh tế mới. Định hướng này phản ánh sự chuyển dịch từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên tri thức và công nghệ hiện đại, tạo nền tảng cho công nghiệp hóa trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thứ ba, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Sự chuyển biến trong tư duy chính sách từ thừa nhận sang bảo vệ, khuyến khích và thúc đẩy, tạo điều kiện để khu vực này phát huy tinh thần doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh, đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng và tạo việc làm.
Thứ tư, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhấn mạnh yêu cầu gắn hội nhập với tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời nâng cao năng lực thực thi cam kết quốc tế. Cách tiếp cận này hướng tới xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ nhưng chủ động và hiệu quả trong bối cảnh hội nhập.
Thứ năm,
Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạoNghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và bảo đảm sức khỏe cộng đồng - những yếu tố quyết định năng suất và tính bền vững của tăng trưởng.
2. Một số định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến 2045
Đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình toàn diện và dài hạn, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về tư duy, thể chế, nguồn lực và phương thức quản trị. Vì vậy, hệ thống giải pháp cần được xây dựng theo cách tiếp cận tổng thể, bảo đảm tính liên thông, nhất quán và khả thi trong tổ chức thực hiện.
Nhóm giải pháp thứ nhất: Hoàn thiện thể chế - nền tảng của chuyển đổi mô hình
Hoàn thiện thể chế là giải pháp mang tính quyết định trong quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thể chế không chỉ tạo khuôn khổ pháp lý cho các chủ thể kinh tế - xã hội mà còn định hình động lực, phương thức và hiệu quả của đổi mới. Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh, nếu thể chế chậm thích ứng sẽ trở thành “điểm nghẽn”, làm gia tăng chi phí tuân thủ và hạn chế khả năng nắm bắt cơ hội phát triển. Ngược lại, thể chế hiện đại, đầy đủ và vận hành hiệu quả sẽ là nền tảng quan trọng để quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng diễn ra bền vững, bao trùm và phù hợp với định hướng phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, minh bạch và ổn định. Trọng tâm là rà soát, sửa đổi các quy định chồng chéo, chưa theo kịp thực tiễn, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số. Thể chế phải tạo động lực khuyến khích đầu tư cho đổi mới sáng tạo, đồng thời giảm thiểu rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp khoa học - công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp.
Thứ hai, đổi mới phương thức xây dựng và thực thi chính sách theo hướng chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, lấy hiệu quả và tác động thực tiễn làm thước đo. Trong điều kiện công nghệ và mô hình kinh doanh mới liên tục xuất hiện, cách tiếp cận quản lý cứng nhắc có thể làm suy giảm động lực sáng tạo. Vì vậy, cần mở rộng cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) đối với công nghệ và mô hình mới, tạo không gian linh hoạt cho đổi mới, đồng thời giúp Nhà nước kịp thời đánh giá, điều chỉnh chính sách trên cơ sở bằng chứng.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với phát triển kinh tế số và kinh tế tri thức. Cần bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, quyền tài sản đối với dữ liệu và kết quả đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ chế khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu an toàn, hiệu quả. Đồng thời, hoàn thiện chính sách thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số và tăng cường quản lý các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro liên quan đến công nghệ, dữ liệu và an ninh mạng.
Nhóm giải pháp thứ hai: Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi thành công mô hình phát triển. Trong bối cảnh chu kỳ công nghệ rút ngắn và cạnh tranh ngày càng dựa vào tri thức, lợi thế quốc gia phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ, đầu tư cho con người vừa là mục tiêu, vừa là yếu tố quyết định khả năng hiện thực hóa mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng số và khả năng thích ứng với biến động của thị trường lao động. Nội dung và phương pháp đào tạo cần được cập nhật theo hướng hiện đại, liên ngành và gắn với thực tiễn; giảm lý thuyết, tăng cường kỹ năng giải quyết vấn đề, làm việc nhóm và học tập suốt đời. Đồng thời, giáo dục - đào tạo phải gắn chặt với định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ ưu tiên, bảo đảm cân đối cung - cầu lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Thứ hai, tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu với doanh nghiệp và thị trường lao động nhằm nâng cao khả năng hấp thụ và lan tỏa tri thức. Cần xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập, đào tạo tại chỗ và nghiên cứu ứng dụng. Mô hình hợp tác “Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp” sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thứ ba, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và công nghệ số. Chính sách cần bảo đảm tính cạnh tranh, linh hoạt, dựa trên năng lực và kết quả cống hiến, đồng thời tạo môi trường làm việc thuận lợi cho nghiên cứu và sáng tạo. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực số, năng lực quản trị hiện đại và tư duy đổi mới cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức - lực lượng trực tiếp tham gia hoạch định và thực thi chính sách - nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số.
Nhóm giải pháp thứ ba: Phát triển khoa học, công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Phát triển khoa học, công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa vào tri thức và công nghệ, việc làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực tự chủ có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển nhanh và bền vững.
Thứ nhất, cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển theo hướng dài hạn, có trọng tâm, tập trung vào các công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược và công nghệ số có khả năng tạo đột phá. Phân bổ nguồn lực phải gắn với các ngành, lĩnh vực ưu tiên và nhiệm vụ chiến lược quốc gia, tránh dàn trải. Đồng thời, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khoa học theo hướng tăng quyền tự chủ, khuyến khích sáng tạo, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và lấy kết quả ứng dụng làm tiêu chí đánh giá chủ yếu.
Thứ hai, thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa kết quả khoa học. Doanh nghiệp cần được xác định là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, đóng vai trò dẫn dắt nhu cầu công nghệ và ứng dụng vào sản xuất - kinh doanh. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, vườn ươm và mạng lưới chuyển giao công nghệ, tạo cầu nối giữa nghiên cứu và thị trường. Sự gắn kết này góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ và thúc đẩy hình thành các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng mở và hội nhập quốc tế. Hệ sinh thái cần kết nối chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng khởi nghiệp. Cần chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học - công nghệ, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ, tài chính và thị trường. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nhằm tiếp thu tri thức tiên tiến, tham gia sâu hơn vào mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Nhóm giải pháp thứ tư: Chuyển đổi số toàn diện trong nền kinh tế và quản trị quốc gia
Chuyển đổi số là phương thức triển khai quan trọng và là yếu tố khuếch đại tác động của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong mô hình tăng trưởng mới. Quá trình chuyển đổi số cần gắn chặt với bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và chủ quyền số quốc gia, chủ động quản lý rủi ro từ không gian số. Đây là nền tảng quan trọng để chuyển đổi số diễn ra an toàn, bền vững, đóng góp thiết thực vào nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, phát triển đồng bộ hạ tầng số, nền tảng số và hệ thống dữ liệu quốc gia, bảo đảm kết nối, chia sẻ và khai thác an toàn, hiệu quả. Hạ tầng số cần được đầu tư hiện đại, phủ rộng, đáp ứng yêu cầu của kinh tế số và xã hội số. Trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, các nền tảng dữ liệu dùng chung và hệ thống kết nối giữa các bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, nâng cao năng lực phân tích, khai thác dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong hoạch định, thực thi chính sách, từng bước hình thành nền quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng.
Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị nhà nước gắn với xây dựng chính phủ số, hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Chuyển đổi số không chỉ dừng ở số hóa thủ tục hành chính mà phải gắn với cải cách quy trình, đổi mới phương thức quản lý và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công. Ứng dụng công nghệ số cần giúp giảm chi phí giao dịch cho người dân và doanh nghiệp, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thứ ba, hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thực hiện chuyển đổi số và đổi mới mô hình sản xuất - kinh doanh. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về tư vấn, đào tạo, tài chính và tiếp cận công nghệ phù hợp với điều kiện từng nhóm doanh nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy phát triển kinh tế số, thương mại điện tử, kinh tế nền tảng và các mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ số.
Nhóm giải pháp thứ năm: Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính cho chuyển đổi mô hình
Nguồn lực tài chính giữ vai trò quyết định đối với quy mô, tốc độ và tính bền vững của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng lớn, việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trở thành yêu cầu then chốt. Sự kết hợp hiệu quả giữa nguồn lực công và tư sẽ tạo nền tảng tài chính vững chắc, bảo đảm cho quá trình chuyển đổi mô hình phát triển diễn ra liên tục, đồng bộ và bền vững.
Thứ nhất, cần đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng ngân sách theo hướng ưu tiên rõ ràng cho các lĩnh vực động lực của mô hình tăng trưởng mới. Việc bố trí ngân sách phải gắn với mục tiêu chiến lược và kết quả đầu ra cụ thể, tránh dàn trải, bình quân. Đồng thời, tăng cường giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư, nhất là đánh giá tác động kinh tế - xã hội của các chương trình, dự án khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, qua đó nâng cao hiệu quả chi tiêu công và trách nhiệm giải trình của các đơn vị sử dụng ngân sách.
Thứ hai, phát triển đa dạng các công cụ tài chính hỗ trợ đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ. Cần nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ khoa học - công nghệ, quỹ đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm và các cơ chế tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp công nghệ cao. Các công cụ này phải được thiết kế linh hoạt, phù hợp với đặc thù rủi ro cao và chu kỳ đầu tư dài của hoạt động R&D. Đồng thời, cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua đơn giản hóa thủ tục và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và khu vực tư nhân.
Bên cạnh nguồn lực công, cần đẩy mạnh huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, đầu tư nước ngoài và các hình thức hợp tác công - tư (PPP). Việc hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế khuyến khích sẽ tạo điều kiện để khu vực tư nhân đầu tư vào hạ tầng số, công nghệ nền tảng và công nghệ chiến lược. Đồng thời, thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên dự án công nghệ cao, có khả năng lan tỏa tri thức và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Nhóm giải pháp thứ sáu: Đổi mới quản trị quốc gia và bảo đảm phát triển bao trùm, bền vững
Đổi mới quản trị quốc gia là điều kiện quyết định để các nhóm giải pháp về thể chế, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và tài chính được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh và môi trường kinh tế - xã hội nhiều biến động, quản trị quốc gia không chỉ đòi hỏi năng lực điều hành mà còn cần khả năng dự báo, thích ứng và dẫn dắt phát triển.
Thứ nhất, cần nâng cao năng lực dự báo và hoạch định chiến lược trên cơ sở quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học. Chính sách phát triển phải được xây dựng theo hướng liên ngành, có tầm nhìn dài hạn và linh hoạt trước biến động của công nghệ và thị trường. Đồng thời, tăng cường vai trò điều phối thống nhất của Trung ương, khắc phục tình trạng phân tán, cục bộ trong xây dựng và thực thi chính sách, nhất là ở các lĩnh vực mới như công nghệ số và đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm tra, giám sát dựa trên kết quả. Phân cấp hợp lý sẽ tạo điều kiện cho địa phương, bộ, ngành chủ động, sáng tạo trong triển khai chính sách phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, cần đồng thời hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, minh bạch hóa quy trình ra quyết định và áp dụng công cụ đánh giá tác động để bảo đảm kỷ luật và hiệu quả quản trị.
Thứ ba, bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra theo hướng bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Cần thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền và nhóm xã hội thông qua phổ cập hạ tầng số, kỹ năng số và dịch vụ số cơ bản, đặc biệt đối với nhóm yếu thế, nhằm tạo cơ hội tiếp cận và thụ hưởng thành quả phát triển.
Thứ tư, quá trình chuyển đổi gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý tài nguyên, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu; đồng thời chủ động quản lý rủi ro về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và tác động xã hội của công nghệ mới. 


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.    Ban Chấp hành Trung ương: Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2025.
2.    Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê 2024, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2025.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin