
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; đồng thời đề cao sự lãnh đạo của Đảng, vai trò kiến tạo của Nhà nước và vị trí trung tâm của doanh nghiệp1. Quan điểm này đặt ra yêu cầu chuyển hóa chủ trương thành những điều kiện cụ thể để các chủ thể kinh doanh huy động nguồn lực, phát triển sản xuất và thực hiện trách nhiệm xã hội.
Tổ chức thực hiện nghị quyết là quá trình chuyển các định hướng và mục tiêu chính trị thành quy định pháp luật, chương trình hành động, phân công trách nhiệm, bố trí nguồn lực và hoạt động kiểm tra, giám sát. Quá trình này có sự tham gia của nhiều chủ thể với các chức năng khác nhau, bao gồm: các cấp ủy lãnh đạo, định hướng và kiểm tra; Quốc hội thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền và giám sát tối cao; Chính phủ, các bộ và chính quyền địa phương tổ chức điều hành, thực thi; doanh nghiệp và các hiệp hội tham gia, phản hồi và giám sát từ thực tiễn. Việc xác định đúng quan hệ giữa các chủ thể là điều kiện để tránh sự chồng chéo trong chỉ đạo và bỏ trống trách nhiệm khi xử lý vướng mắc.
Phân tích quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết cần thực hiện trên ba cấp độ: Một là, ban hành chính sách, thể hiện ở chất lượng, tính đồng bộ và thời điểm có hiệu lực của văn bản. Hai là, triển khai chính sách, thể hiện ở việc vận hành quy trình, phân công cơ quan xử lý, bố trí kinh phí, nhân lực và cung cấp thông tin. Ba là, kết quả thụ hưởng, thể hiện ở khả năng tiếp cận hỗ trợ, thời gian và chi phí mà doanh nghiệp thực tế phải bỏ ra, cũng như mức độ giải quyết những khó khăn cụ thể. Ba cấp độ này có quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau.
Từ cách tiếp cận đó, việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị phải đáp ứng các yêu cầu về tính kịp thời của thể chế hóa; tính rõ ràng của thẩm quyền và trách nhiệm; sự tương thích giữa nhiệm vụ với nguồn lực; khả năng tiếp cận chính sách của từng nhóm doanh nghiệp; trách nhiệm giải trình về kết quả. Cải cách phải được kiểm chứng tại nơi tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thay vì chỉ dựa vào số lượng văn bản hoặc kế hoạch được ban hành. Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này càng cần được cụ thể hóa thành quy trình phối hợp giữa cấp tỉnh và cấp xã.
1. Thực trạng tổ chức thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân
Những kết quả đạt được
Một là, chủ trương của Nghị quyết được chuyển thành chương trình hành động trong thời gian ngắn. Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân yêu cầu lồng ghép nhiệm vụ phát triển kinh tế tư nhân trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm, gắn với bố trí kinh phí hỗ trợ. Đây là kết quả quan trọng ở cấp độ lập kế hoạch, tạo căn cứ để đưa một nhiệm vụ chiến lược vào hoạt động quản lý thường xuyên. Giá trị thực thi của kế hoạch phụ thuộc vào việc từng nhiệm vụ được cụ thể hóa đến cơ quan chịu trách nhiệm, sản phẩm đầu ra và nguồn lực bảo đảm.
Hai là, quá trình thể chế hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW đã hình thành căn cứ pháp lý cho các cơ chế hỗ trợ. Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân quy định các biện pháp liên quan đến thuế, mặt bằng sản xuất, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Trong đó, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; chấm dứt thu, nộp lệ phí môn bài và không áp dụng phương pháp khoán thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh từ ngày 01/01/20262. Đây là cơ sở pháp lý giúp giảm gánh nặng tuân thủ, song cần phải được đánh giá thông qua điều kiện áp dụng và kết quả thực tế của đối tượng đủ điều kiện áp dụng.
Ba là, thiết lập cơ chế điều phối ở cấp quốc gia. Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 30/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là cơ chế giúp Thủ tướng chỉ đạo và phối hợp xử lý các vấn đề quan trọng, liên ngành trong phạm vi điều hành của Chính phủ. Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 ban hành Kế hoạch của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, phân công nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý theo lĩnh vực, trong đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao xây dựng văn bản hướng dẫn chính sách hỗ trợ lãi suất đối với những dự án thuộc phạm vi quy định3. Việc phân công theo nhiệm vụ giúp xác định đầu mối thể chế hóa và triển khai. Về phạm vi triển khai, đến cuối năm 2025, 34 địa phương và 21 bộ, cơ quan đã ban hành kế hoạch hành động; cắt giảm hơn 3.000 thủ tục hành chính và hơn 2.200 điều kiện kinh doanh đã được phê duyệt4. Những kết quả này phản ánh phạm vi triển khai của Nghị quyết số 68-NQ/TW đã được mở rộng trên toàn quốc và quyết tâm cải cách đã được cụ thể hóa bằng các chương trình, nhiệm vụ và phương án thực hiện.
Bốn là, chuyển từ theo dõi tiến độ sang đánh giá kết quả đối với đối tượng thụ hưởng. Thông báo số 611/TB-VPCP ngày 11/11/2025 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị yêu cầu đánh giá tác động theo nhóm doanh nghiệp, hộ kinh doanh, xác định thời hạn nhiệm vụ và hoàn thiện hệ thống theo dõi, đánh giá5. Định hướng này tạo điều kiện khắc phục cách báo cáo chỉ tổng hợp số liệu văn bản và tiến độ thực hiện.
Một số hạn chế, bất cập
Còn có khoảng cách nhất định giữa việc xác lập chính sách và hoàn thiện điều kiện để đối tượng thụ hưởng thực hiện. Chẳng hạn, cuối tháng 12/2025, Chính phủ ban hành các yêu cầu đề nghị khẩn trương hướng dẫn các chính sách hỗ trợ trực tiếp. Đến đầu năm 2026, Nghị định số 20/2026/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15. Thực trạng này cho thấy quá trình cụ thể hóa quan điểm của Đảng diễn ra qua nhiều bước; việc ban hành các chính sách hỗ trợ chưa thực sự kịp thời để sẵn sàng áp dụng ngay khi nghị quyết được ban hành.
Việc phối hợp và trách nhiệm thực thi chưa đồng đều. Việc phối hợp trong tổ chức thực hiện chưa thật sự chặt chẽ, phân cấp chưa triệt để, còn có tình trạng cán bộ né tránh trách nhiệm. Về cơ chế, một chính sách liên ngành có thể đã được phân công bằng văn bản nhưng vẫn thiếu quy trình xử lý khi ý kiến các cơ quan khác nhau, hồ sơ được chuyển tiếp nhiều lần qua nhiều cơ quan.
Việc truyền đạt và đưa chính sách đến doanh nghiệp còn khoảng cách. Khảo sát Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2025 ghi nhận 51,9% doanh nghiệp trong mẫu lựa chọn mạng xã hội là kênh tiếp cận thông tin về dự thảo chính sách, pháp luật6. Kết quả này phản ánh thực trạng không phải mọi doanh nghiệp đều tiếp cận thông tin qua các kênh chính thức.
Rào cản về nguồn lực của doanh nghiệp làm cho hiệu quả hỗ trợ phụ thuộc mạnh vào khả năng tiếp cận. Theo khảo sát PCI 2025, 75,5% doanh nghiệp phản hồi đồng ý với nhận định không thể vay nếu thiếu tài sản thế chấp7.
Việc bảo đảm điều kiện thực thi và tính liên tục của thủ tục chưa được chú trọng trong bối cạnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Luật số 72/2025/QH15 về Tổ chức chính quyền địa phương thiết lập khuôn khổ tổ chức và phân định thẩm quyền giữa cấp tỉnh, cấp xã. Chuyển đổi tổ chức đặt ra yêu cầu bàn giao hồ sơ, cập nhật đầu mối, phân bổ nhân lực và kết nối dữ liệu, tuy nhiên, về phương diện thực thi, nếu nhiệm vụ được chuyển giao nhưng năng lực xử lý, cơ chế hỗ trợ chuyên môn chưa tương thích, thì lợi ích của việc giảm tầng nấc quản lý khó chuyển thành sự thuận tiện cho doanh nghiệp.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do: Một là, việc thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW diễn ra đồng thời với thay đổi tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp và biến động của môi trường kinh doanh. Chính sách hỗ trợ thường liên quan nhiều lĩnh vực, chịu các ràng buộc về pháp luật, ngân sách và năng lực quản trị của đối tượng thụ hưởng. Những điều kiện này làm gia tăng yêu cầu phối hợp và thời gian chuẩn bị. Hai là, năng lực thể chế hóa gắn với thiết kế thực thi còn hạn chế. Quá trình soạn thảo các quy định thường tập trung vào xác lập quyền lợi nhưng chưa chuẩn bị đồng thời điều kiện xác nhận đối tượng chính sách, nguồn kinh phí, quy trình, thủ tục thực hiện, một chính sách có thể phải chờ nhiều hướng dẫn mới có thể triển khai. Sự thiếu liên kết giữa cơ quan xây dựng các quy định và tổ chức triển khai chính sách còn diễn ra phổ biến. Ba là, cơ chế phối hợp chưa gắn kết chặt chẽ với trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Phân công theo chức năng giúp xác định các cơ quan tham gia vào tổ chức thực hiện, tuy nhiên vướng mắc xảy ra phổ biến khi một nhiệm vụ phụ thuộc vào nhiều cơ quan, khi thiếu quy định về thời hạn phản hồi cũng như các nguyên tắc xử lý bất đồng quan điểm giữa các cơ quan quản lý, các hoạt động liên quan đến doanh nghiệp dễ bị phân tán, không rõ trách nhiệm, thời gian giải quyết kéo dài. Bốn là, nhiệm vụ cần thực hiện và điều kiện thực hiện nhiệm vụ chưa được chuẩn bị tương thích. Cán bộ thiếu kỹ năng giải quyết công việc hoặc thiếu năng lực hướng dẫn doanh nghiệp trong khi ở phía doanh nghiệp, quy mô nhỏ và năng lực hạn chế đã làm gia tăng chi phí tiếp cận chính sách. Do vậy, trong nhiều trường hợp, chính sách khó được triển khai đến đúng nhóm doanh nghiệp cần được hỗ trợ. Năm là, hạn chế về trách nhiệm và dữ liệu, thông tin đánh giá kết quả tổ chức thực thi. Thiếu cơ chế trách nhiệm rõ ràng đối với việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển. Phản hồi của doanh nghiệp thường không được theo dõi hoặc giải quyết chậm trễ.
2. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW trong thời gian tới
Thứ nhất, nâng cao chất lượng thể chế hóa và bảo đảm tính đồng bộ, kịp thời của chính sách.
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội cần ưu tiên xem xét sửa đổi những nội dung thuộc thẩm quyền lập pháp được Chính phủ xác định là cản trở trực tiếp quá trình thực thi chính sách; đồng thời giám sát việc ban hành văn bản quy định chi tiết. Trong các hồ sơ chính sách, cần làm rõ đối tượng thụ hưởng, chi phí thực hiện, khả năng cân đối nguồn lực và yêu cầu sửa đổi liên quan. Việc rà soát pháp luật về đất đai, quy hoạch, đầu tư phải gắn với mốc hoàn thành theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội.
Chính phủ cần giao các bộ quản lý lĩnh vực rà soát theo chuỗi thủ tục mà doanh nghiệp thực hiện, ưu tiên đất đai - đầu tư - xây dựng, thuế - kế toán và điều kiện tiếp cận hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mỗi vướng mắc của doanh nghiệp phải được chỉ rõ cơ quan xử lý, phương án sửa và thẩm quyền quyết định. Bộ Tư pháp phối hợp kiểm tra tính thống nhất; Bộ Tài chính tổng hợp các nội dung về hỗ trợ doanh nghiệp và nguồn kinh phí. Nâng cao vai trò của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trong tập hợp các kiến nghị của doanh nghiệp và là cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan của Chính phủ trong giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp.
Đối với văn bản hướng dẫn mới hoặc điều chỉnh, cơ quan chủ trì cần chuẩn bị đồng thời quy trình nghiệp vụ, bộ hồ sơ mẫu, thông tin công khai và hướng dẫn cho người thực thi. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì nội dung thuộc lĩnh vực tín dụng, phối hợp cơ quan có thẩm quyền về tiêu chí dự án và kinh phí; Bộ Khoa học và Công nghệ chuẩn hóa hướng dẫn về hỗ trợ công nghệ, đổi mới sáng tạo; cơ quan quản lý đất đai và địa phương làm rõ điều kiện về mặt bằng. Trọng tâm là đưa hỗ trợ đến đúng đối tượng đủ điều kiện thông qua quy trình rõ ràng, có tính khả thi.
Kết quả thể chế hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW cần được đánh giá bằng tỷ lệ văn bản hướng dẫn hoàn thành đúng hạn; vướng mắc pháp lý được xử lý; tỷ lệ thủ tục được cập nhật đồng bộ trên hệ thống; yêu cầu bổ sung hồ sơ giảm sau khi điều chỉnh. Với những nội dung chưa thể áp dụng, cần công khai trạng thái và lộ trình xử lý để doanh nghiệp chủ động kế hoạch.
Thứ hai, đổi mới cơ chế chỉ đạo, điều hành, phân công trách nhiệm và phối hợp.
Cần phát huy cơ chế điều hành của Ban Chỉ đạo quốc gia. Theo đó, Ban Chỉ đạo tập trung giải quyết bất đồng liên ngành và đôn đốc các nhiệm vụ vượt khả năng xử lý của một bộ; các bộ và địa phương chịu trách nhiệm thực hiện trong phạm vi thẩm quyền. Các cấp ủy lãnh đạo, kiểm tra việc quán triệt và thực hiện chủ trương thông qua các cơ chế lãnh đạo của Đảng.
Bộ Tài chính phối hợp Văn phòng Chính phủ xây dựng danh mục nhiệm vụ, thống nhất mỗi nhiệm vụ có một cơ quan chủ trì, một người chịu trách nhiệm, cơ quan phối hợp, sản phẩm, mốc hoàn thành và nguồn lực. Với nhiệm vụ liên ngành, cơ quan chủ trì phải chịu trách nhiệm tổng hợp đến khi có kết quả cuối cùng, thay vì hoàn thành sau khi gửi văn bản đề nghị phối hợp. Chính phủ quy định thời hạn phản hồi giữa các cơ quan và cách chuyển vấn đề lên cấp có thẩm quyền khi có bất đồng. Những trường hợp chậm trễ phải được ghi rõ nguyên nhân và biện pháp xử lý.
Đối thoại với doanh nghiệp cần được chuyển thành quy trình giải quyết kiến nghị. Kiến nghị được tiếp nhận, cấp mã theo dõi, phân loại thành vướng mắc pháp luật, vướng mắc thủ tục hoặc phản ánh hành vi công vụ và giao đúng cho cơ quan xử lý. Cơ quan tiếp nhận phải thông báo thời hạn, cập nhật tiến độ và giải thích dựa trên kết quả thực hiện. Các hiệp hội doanh nghiệp tham gia tập hợp các vấn đề lặp lại và kiểm tra việc thực hiện của các cơ quan quản lý nhà nước. Khi thực hiện công khai kết quả xử lý cần tuân thủ các nguyên tắc về bảo vệ dữ liệu kinh doanh và thông tin cá nhân theo quy định.
Trách nhiệm người đứng đầu phải gắn với giải quyết các nhiệm vụ tồn đọng và chất lượng phục vụ. Hằng quý, cơ quan chủ trì báo cáo tỷ lệ nhiệm vụ hoàn thành đúng hạn, số việc liên ngành quá hạn, thời gian xử lý kiến nghị và tỷ lệ vấn đề đã được giải quyết thực tế. Trường hợp chậm do quy định chưa rõ cần có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; trường hợp chậm do thiếu trách nhiệm phải xử lý theo quy định. Phân biệt rõ các nguyên nhân giúp vừa bảo đảm kỷ luật thực thi, vừa tạo điều kiện để cán bộ chủ động xử lý công việc một cách hiệu quả.
Thứ ba, nâng cao năng lực thực thi của chính quyền các cấp, lấy kết quả phục vụ doanh nghiệp làm thước đo.
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần công khai danh mục thủ tục liên quan đến doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo pháp luật hiện hành. Với mỗi thủ tục, phải xác định nơi tiếp nhận, nơi quyết định và cơ chế phối hợp. Cấp xã thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi được phân định, phân cấp, phân quyền hoặc ủy quyền hợp pháp; không tự động chuyển tất cả thẩm quyền cấp huyện trước đây xuống cấp xã. Hồ sơ đang xử lý trong giai đoạn trước khi kết thúc hoạt động của cấp huyện phải được bàn giao đầu đủ với danh sách, trạng thái và trách nhiệm cụ thể để tiếp tục giải quyết, tránh yêu cầu doanh nghiệp, hộ kinh doanh nộp lại chỉ vì thay đổi tổ chức.
Phân công và giao nhiệm vụ phải đi kèm với kiểm tra điều kiện thực hiện. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần đánh giá khả năng giải quyết công việc, năng lực cán bộ, khả năng truy cập dữ liệu và hạ tầng số của từng đơn vị để bố trí nhân lực, kinh phí phù hợp. Bộ Nội vụ phối hợp các bộ quản lý các lĩnh vực hướng dẫn bồi dưỡng theo nhóm nghiệp vụ; các sở chuyên môn tổ chức hỗ trợ cấp xã đối với hồ sơ phức tạp. Nội dung bồi dưỡng cần dựa trên tình huống thực tế, những vướng mắc đang tồn tại về đăng ký, thuế, đất đai, chính sách hỗ trợ... Cán bộ phải biết thời điểm và đầu mối cần xin ý kiến, đồng thời chịu trách nhiệm cập nhật kết quả cho người nộp hồ sơ.
Dịch vụ công số cần được thiết kế theo quá trình xử lý của người dùng. Cơ quan tiếp nhận sử dụng lại dữ liệu đã được kết nối hợp pháp, hạn chế yêu cầu doanh nghiệp khai nhiều lần cùng một thông tin. Hồ sơ trực tuyến phải có khả năng theo dõi trạng thái, nhận hướng dẫn bổ sung rõ ràng và nhận kết quả theo quy trình công bố. Đối với hộ kinh doanh còn hạn chế về kỹ năng số, cần có hỗ trợ trực tiếp và tài liệu hướng dẫn sử dụng. Đối với vấn đề cải cách thuế, kế toán cần đi cùng tư vấn và hỗ trợ chuyển đổi phù hợp, để yêu cầu tuân thủ mới không tạo thêm trở ngại tiếp cận dịch vụ.
Các chính sách về vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực cần được kết nối qua đầu mối hướng dẫn ở địa phương. Đầu mối này giúp doanh nghiệp xác định chính sách phù hợp, chuẩn bị hồ sơ và liên hệ cơ quan xử lý. Hỗ trợ đổi mới sáng tạo nên gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp và năng lực cung ứng dịch vụ của tổ chức tư vấn, viện nghiên cứu, trường học. Kết quả hỗ trợ phải được kiểm tra sau khi thực hiện các giải pháp hỗ trợ, chẳng hạn mức độ sử dụng công cụ số hoặc hoàn thành đào tạo, thay vì chỉ tính số lớp và số lượt người, doanh nghiệp tham dự.
Chất lượng thực thi được đánh giá thông qua thời gian xử lý thực tế, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, số lần bổ sung, tỷ lệ hoàn tất trực tuyến và chi phí tuân thủ theo từng nhóm thủ tục. Mức độ hài lòng cần được thu thập sau khi nhận kết quả và phân tích theo quy mô doanh nghiệp, địa bàn, hình thức nộp hồ sơ. Nếu tỷ lệ đúng hạn cao nhưng nhiều hồ sơ phải bổ sung hoặc người dùng phải đi lại nhiều lần thì cần tiếp tục cải thiện quy trình. Cách đánh giá này giúp làm nâng cao chất lượng phục vụ ở cấp cơ sở, hạn chế tình trạng chỉ cải thiện số liệu báo cáo.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá, phản hồi chính sách và bảo đảm điều kiện thực hiện.
Bộ Tài chính chủ trì phối hợp các cơ quan liên quan hoàn thiện hệ thống theo dõi trên cơ sở nhiệm vụ đã được giao, sử dụng dữ liệu hành chính kết hợp khảo sát doanh nghiệp. Hệ thống cần phân biệt chỉ tiêu đầu vào như kinh phí, nhân lực; chỉ tiêu hoạt động như văn bản, hồ sơ tiếp nhận; chỉ tiêu kết quả như mức hỗ trợ thực nhận, chi phí tuân thủ, khả năng tiếp cận.
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần ưu tiên giám sát các chính sách có độ trễ hướng dẫn, mức tiếp cận thấp hoặc có nhiều kiến nghị lặp lại nhiều lần. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi phải dựa trên dấu hiệu rủi ro, bảo đảm phối hợp để không làm gia tăng gánh nặng kiểm tra cho doanh nghiệp. Các hiệp hội doanh nghiệp cần tham gia tích cực vào phản hồi chính sách và đối chiếu số liệu công bố với thực tế trải nghiệm của doanh nghiệp.
Cần thiết lập chu trình điều chỉnh chính sách từ kết quả giám sát triển khai thực hiện chính sách. Định kỳ sáu tháng, cơ quan chủ trì phân tích các chính sách ít doanh nghiệp tiếp cận để xác định nguyên nhân cụ thể. Sau khi thực hiện điều chỉnh chính sách, cần tiếp tục đánh giá lại kết quả thực hiện để kiểm tra hiệu quả của chính sách. Đánh giá tác động của chính sách cần phân biệt rõ nhóm doanh nghiệp có tiếp cận được chính sách và nhóm doanh nghiệp không tiếp cận được chính sách, không được thụ hưởng; thời điểm trước và sau khi triển khai chính sách, cùng các yếu tố ảnh hưởng khác. Đây là cơ sở để chuyển quản lý theo tiến độ sang quản trị kết quả và sử dụng nguồn lực hỗ trợ hiệu quả hơn, góp phần đưa chính sách triển khai có hiệu quả trong thực tế.
Bảo đảm nguồn lực phải được đưa vào ngay và đủ trong kế hoạch triển khai. Cơ quan đề xuất chương trình hỗ trợ cần xác định kinh phí, nhân lực, công cụ và khả năng cung ứng dịch vụ, đồng thời gắn giải ngân với sản phẩm được nghiệm thu. Những địa bàn có năng lực hạn chế cần được hỗ trợ nghiệp vụ và hạ tầng theo nhu cầu thực tế, trong khuôn khổ ngân sách và pháp luật. Nguồn lực của hiệp hội, doanh nghiệp và tổ chức tư vấn có thể được huy động, bổ sung cho truyền thông, đào tạo, nhưng không làm thay thế trách nhiệm công vụ và cần bảo đảm tính công bằng, minh bạch, không tạo ra đặc quyền cho các doanh nghiệp tham gia.
Tổ chức thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã ra khuôn khổ ban đầu về thể chế, kế hoạch, điều phối và theo dõi thực hiện các biện pháp để kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Vấn đề cần tiếp tục giải quyết là chuyển các điều kiện này thành lợi ích có thể kiểm chứng của doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Việc nâng cao chất lượng thể chế hóa, xác định đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng, bảo đảm nguồn lực, điều kiện thực hiện, năng lực thực thi và giám sát dựa trên kết quả thụ hưởng sẽ góp phần đưa chủ trương của Đảng vào thực tiễn, phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển đất nước.
1. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
2. Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
3. Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
4. "Thủ tướng: Củng cố niềm tin, hành động thực chất, hiệu quả, đột phá để phát triển kinh tế tư nhân", Báo Điện tử Chính phủ, ngày 20/12/2025, https://baochinhphu.vn/thu-tuong-cung-co-niem-tin-hanh-dong-thuc-chat-hieu-qua-dot-pha-de-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102251220185100843.htm.
5. Thông báo số 611/TB-VPCP ngày 11/11/2025 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.
6, 7. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: "Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 (PCI 2025)", ngày 15/5/2026, https://pcivietnam.vn/uploads//VN-Bao-cao-dai-PCI/Bao-cao-PCI-2025.pdf.