1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển
Đại hội XIV của Đảng được Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá là "thành công rất tốt đẹp", đồng thời, Đại hội đã hoạch định nhiều chủ trương lớn để phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong đó, một trong những điểm mới, phản ánh sự phát triển tư duy lý luận của Đảng là hoàn thiện thể chế phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, với sự đối lập về ý thức hệ, các thế lực thù địch lập tức phủ nhận chủ trương này của Đảng, qua đó kích động hoài nghi, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi như tán phát các bài viết, ấn phẩm, video, clip trên các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội, website, blog, diễn đàn mở. Chúng cho rằng, Đại hội XIV của Đảng xác định chủ trương "xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển là sự thiếu nhất quán" (?!). Trên không gian mạng và các nền tảng trực tuyến, tổ chức khủng bố Việt Tân, Đài Á châu Tự do (RFA) tập trung xuyên tạc bản chất "thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" bằng các lý lẽ phiến diện như: "Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường”, "là mô hình lai ghép, thiếu nhất quán", "không giống ai" (?!), qua đó đòi phát triển phải thay đổi thể chế, đa nguyên, đa đảng. Một số bài viết, video tìm cách bóp méo vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đài BBC News tiếng Việt cho rằng "Nhà nước Việt Nam can thiệp quá sâu vào thị trường", ban hành nhiều quy định mang tính độc quyền "làm bóp méo sự cạnh tranh" giữa các thành phần kinh tế (?!). Mặt khác, một số Blogger, Facebooker, YouTuber, TikToker lại cường điệu hóa vấn đề, quy kết "kinh tế thị trường không thể tồn tại trong chế độ một đảng" (?!). Từ đó, bôi đen kết quả xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển và yêu cầu "muốn được công nhận kinh tế thị trường thì phải thay đổi thể chế chính trị" (?!).
Có thể thấy, dù được triển khai ở nhiều cấp độ với những thủ đoạn tinh vi, thâm độc, song những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đều hướng tới phủ nhận chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển của Đảng ta trong kỷ nguyên mới. Vì vậy, việc nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ.
2. Hoàn thiện thể chế phát triển - Bước phát triển tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới
Hoàn thiện thể chế phát triển ở Việt Nam là chủ trương đúng đắn của Đảng, nội dung đột phá mang tính tất yếu khách quan, nhằm khắc phục các điểm nghẽn, nút thắt, đáp ứng với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về thể chế trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cần thiết lập pháp luật và các cơ chế, chính sách để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, xây dựng một xã hội phát triển công bằng, bình đẳng, không còn tình trạng người bóc lột người.
C. Mác và Ph. Ăngghen đánh giá cao vai trò của pháp luật trong chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời phê phán hành vi lợi dụng pháp luật để nhằm đạt lợi ích của giai cấp tư sản cầm quyền. C. Mác chỉ rõ cơ sở xã hội chính là nền tảng vật chất của pháp luật dưới dạng quyền lực - pháp quyền: "xã hội không lấy pháp luật làm cơ sở. Đó chỉ là ảo tưởng của những nhà luật học. Ngược lại, pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra, mà không phải do ý muốn tùy tiện của một cá nhân"1. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen nêu rõ: "pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật pháp"2.
Kế thừa, phát triển quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển từ tự do cạnh tranh lên giai đoạn độc quyền, V.I. Lênin đề cao việc thiết lập chế độ dân chủ nhân dân và xây dựng hiến pháp, pháp luật để thực thi. Đồng thời, Ông cho rằng, cần thiết lập các cơ chế, chính sách thực thi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, ngăn ngừa tình trạng lạm dụng quyền lực để mưu lợi ích cá nhân bằng cơ chế kiểm soát của Đảng Cộng sản Nga thông qua vai trò đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự giám sát của các tầng lớp nhân dân. V.I. Lênin nhấn mạnh: "Tổ chức cho toàn dân kiểm kê và kiểm soát một cách hết sức chặt chẽ sự sản xuất và phân phối sản phẩm"3.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng thể chế ở Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về thể chế trong kiến tạo nền dân chủ mới ở nước ta. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, vận hành chế độ xã hội mới trong điều kiện "thù trong, giặc ngoài" và tiến hành "kháng chiến, kiến quốc”, Người quan tâm đến xây dựng thể chế mạnh để "đảm bảo các quyền tự do dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ của nhân dân"4. Trong quá trình đó, Người chỉ đạo xây dựng Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách phù hợp để huy động mọi nguồn lực của đất nước cho sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc, đánh thắng thực dân Pháp và kháng chiến trường kỳ chống quân đế quốc Mỹ xâm lược. Người là Trưởng ban dự thảo của hai bản hiến pháp đầu tiên của dân tộc (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959) và ký ban hành một số đạo luật, sắc lệnh để thiết lập cơ chế quản lý, vận hành thể chế chính trị ở Việt Nam. Tác giả Nguyễn Đăng Dung và các cộng sự khẳng định: "Với tư cách là Chủ tịch nước Người đã chủ trì soạn thảo hai bản hiến pháp của dân tộc, đã ký sắc lệnh công bố 16 đạo luật, ban hành 613 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác để quản lý đất nước"5.
Thứ ba, sự phát triển quan điểm của Đảng về xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển.
Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và các chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về thể chế, Đảng ta đã quan tâm đến xây dựng hiến pháp, pháp luật và cơ chế vận hành đất nước, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn cách mạng. Bước vào thời kỳ đổi mới, quan điểm về thiết lập các quy định của pháp luật và các cơ chế, chính sách quản lý đất nước tiếp tục được Đảng ta chú trọng và trở thành chủ trương nhất quán của Đảng.
Tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986) - Đại hội mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, thấy rõ những bất cập của mô hình quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, Đảng ta xác định: "Xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp"6. Đến Đại hội VII của Đảng (năm 1991), trước ảnh hưởng từ cơ chế cũ và để khắc phục tệ tham nhũng, Đảng ta khẳng định: "Phải xây dựng và hoàn chỉnh bộ máy, cơ chế quản lý và pháp luật"7. Theo đó, tư duy của Đảng có sự bổ sung, phát triển với nội hàm rộng và cụ thể hơn về hoàn thiện thể chế phát triển cả về bộ máy, cơ chế vận hành và pháp luật.
Tiếp tục phát triển quan điểm của Đại hội VII, đến Đại hội IX (năm 2001), việc hoàn thiện thể chế của Đảng tiếp tục được đề cập và có sự phát triển. Đảng ta khẳng định: "Hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"8 và "Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về quản lý kinh tế - tài chính, quản lý tài sản công"9. Có thể thấy, Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế - tài chính. Đến Đại hội X của Đảng (năm 2006), lần đầu tiên Đảng ta đưa vào trong Văn kiện nội dung "Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"10.
Phát triển quan điểm của Đại hội X, tại Đại hội XI (năm 2011), khắc phục những bất cập trong vận hành mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - mô hình chưa có tiền lệ, Đảng ta xác định: "Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình tái cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô"11. Đây là sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng và xem việc hoàn thiện thể chế là điều kiện quan trọng để cơ cấu lại nền kinh tế đáp ứng mô hình tăng trưởng mới.
Đến Đại hội XII (năm 2016), quan điểm về thể chế của Đảng tiếp tục khẳng định: "Cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội"12. Quan điểm này tại Đại hội XII thể hiện sự phát triển mới trong hoàn thiện thể chế phát triển, nhất là nhấn mạnh tính đồng bộ giữa các thể chế, nhằm mục tiêu xây dựng xã hội hài hòa với con người là trung tâm của chính sách phát triển.
Phát triển các quan điểm trên, Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh mục tiêu: "Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh"13. Đồng thời, qua tổng kết thực tiễn, thấy rõ các hạn chế do nguyên nhân từ điểm nghẽn thể chế, Đại hội XIII chỉ rõ cần nâng cao hiệu quả xây dựng, thực thi pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quản trị quốc gia.
Đến Đại hội XIV, kế thừa quan điểm của các kỳ đại hội trước về hoàn thiện thể chế phát triển, Đảng ta mở rộng phạm vi của thể chế không chỉ để quản lý, vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội: "tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước"14. Theo đó, việc khẳng định chủ trương "Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển" cho thấy, Đảng ta không chỉ tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh tế, mà xác định rõ hơn trọng tâm xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển theo phương châm "thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng"15.
Ngoài ra, Đại hội XIV còn chỉ rõ 7 lĩnh vực cần "Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước" gồm: hoàn thiện thể chế về tinh gọn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển giáo dục và đào tạo; hoàn thiện thể chế quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm; hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái; hoàn thiện thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Các thể chế phát triển này khi được hiện thực hóa sẽ tạo thành khuôn khổ để vận hành và quản trị hiệu quả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Như vậy, chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển là sự nhất quán xuyên suốt tư duy lý luận của Đảng trong thời kỳ đổi mới và không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Thứ tư, bối cảnh mới và kết quả xây dựng, hoàn thiện thể chế; mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, mà còn thay đổi cách thức quản trị xã hội và làm xuất hiện nhiều loại hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ… Bên cạnh đó, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt với yêu cầu cao về tính minh bạch, hiệu quả và việc tham gia vào các hiệp định tự do thế hệ mới (EVFTA) đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển ở Việt Nam.
Trong thời gian qua, quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng, hoàn thiện thể chế đáp ứng nhu cầu thực tiễn được quan tâm, triển khai tương đối đồng bộ, tạo thành cơ chế thuận lợi cho vận hành nền kinh tế quốc gia và thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy. Nhiệm kỳ 2021 - 2026, Quốc hội đã xem xét, thông qua 89 luật và 24 nghị quyết quy phạm pháp luật; riêng Kỳ họp thứ 10, Quốc hội thông qua 54 luật, 39 nghị quyết, trong đó có 8 nghị quyết quy phạm pháp luật16; Chính phủ ban hành 1.400 nghị quyết, 820 nghị định17. Tuy nhiên, thể chế vẫn là vấn đề còn nhiều bất cập, hệ thống pháp luật còn cồng kềnh và hiệu quả thực thi thấp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, còn biểu hiện "mạnh ai nấy làm"; cải cách hành chính chưa triệt để; chưa hình thành đồng bộ và vận hành hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên chưa huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển. Đây chính là "điểm nghẽn của điểm nghẽn", kìm hãm sự phát triển. Đại hội XIV nêu rõ: "Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chậm, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số luật, cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây cản trở đối với sự phát triển"18.
Trong kỷ nguyên mới, trước biến động nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định của tình hình quốc tế, khu vực, với cơ đồ, tiềm lực và vị thế, uy tín của đất nước được tạo dựng qua 40 năm đổi mới, kế thừa quan điểm của Đại hội XIII, Đại hội XIV xác định rõ hơn mục tiêu phát triển đất nước: "đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội"19. Mục tiêu này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, đồng thời kết tinh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết.
Có thể khẳng định, chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển là sự nhất quán, phản ánh sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn cách mạng.
3. Giải pháp đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển trong kỷ nguyên mới
Để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc chủ trương “hoàn thiện thể chế phát triển” của Đảng trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển.
Toàn Đảng và hệ thống chính trị cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; thấy rõ tính khoa học trong chủ trương nhất quán của Đảng về hoàn thiện thể chế phát triển, nhất là sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về mức độ, phạm vi, quy mô trên bảy lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội và thấu suốt tinh thần "đồng bộ, toàn diện" của thể chế phát triển ở nước ta trong kỷ nguyên mới.
Bên cạnh đó, từ cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở cần tập trung đổi mới mạnh mẽ hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục qua học tập chuyên đề chính trị trên các nền tảng trực tuyến kết hợp với các hình thức học tập trung phù hợp với từng đối tượng người học. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục theo phương châm "gắn lý luận với thực tiễn đời sống xã hội", ứng dụng công nghệ số trên các phương tiện báo chí, truyền thông, phát thanh, truyền hình. Phát huy vai trò nòng cốt của Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan thông tin - truyền thông của Bộ Khoa học và Công nghệ, vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong định hướng các thông tin chính thống, nâng cao cảnh giác với các thông tin xuyên tạc chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đa dạng hóa các hình thức truyền thông hiện đại như video, đồ họa, truyền thông đa phương tiện, ứng dụng VNeID, ứng dụng trên app "Tuyên giáo" và chuyển từ truyền tải một chiều sang tương tác hai chiều, lắng nghe phản hồi để kịp thời điều chỉnh, định hướng dư luận xã hội. Khuyến khích báo chí, truyền thông đăng tải và lan tỏa các thông tin, bài viết hay về chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các thông tin sai trái về xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển trên không gian mạng.
Trong điều kiện sự phát triển bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội, không gian mạng đã trở thành nơi gắn kết, cập nhật, chia sẻ, lan tỏa thông tin, đồng thời là một mặt trận trọng yếu của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận. Do vậy, các cấp trong hệ thống chính trị cần tăng cường các hoạt động bồi dưỡng, cập nhật kỹ năng khai thác, sử dụng mạng xã hội cho mọi người dân nhận biết đúng về các thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển của Đảng; không chia sẻ, bình luận các thông tin tiêu cực, chưa được kiểm chứng. Đồng thời, phát huy vai trò lực lượng chuyên trách trong đấu tranh trên không gian mạng, nhất là ứng dụng công nghệ mới và các phần mềm phát hiện sớm, nhận diện đúng các thông tin sai trái, xuyên tạc; kịp thời tham mưu cho Ban Chỉ đạo 35 các cấp sử dụng lực lượng có chuyên môn xây dựng các tuyến bài có luận cứ khoa học vạch trần đúng bản chất vấn đề, bác bỏ thông tin sai trái và định hướng, lan tỏa thông tin chính thống trên các nền tảng mạng xã hội.
Mặt khác, các cơ quan chuyên trách cần tăng cường phối hợp với công ty chủ quản các nền tảng mạng xã hội ở nước ngoài, kịp thời bóc gỡ các thông tin sai trái về chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển của Đảng. Chính phủ và Quốc hội cần rà soát, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về an toàn thông tin, nhất là thông tin trên mạng xã hội, tăng các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các cá nhân cố tình lợi dụng mạng xã hội để đăng tải, lan truyền thông tin không đúng sự thật về chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển của Đảng.
Thứ ba, gắn công tác đấu tranh phản bác với cập nhật kết quả xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển.
Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cần đẩy mạnh cụ thể hóa việc triển khai thực hiện chủ trương xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là hoàn thiện thể chế chính trị "tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả"; tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính bảo đảm ngày càng thông thoáng gắn với nâng cao chất lượng quản lý dịch vụ công, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hoàn thiện hệ thống pháp luật và các cơ chế, chính sách để vận hành hiệu quả Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện các thể chế kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thể chế vận hành các thành phần kinh tế với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa, giáo dục và đào tạo, bảo đảm văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, con người là trung tâm của chiến lược phát triển; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là các thể chế về công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, công nghệ bán dẫn và khuyến khích đổi mới sáng tạo; xây dựng, hoàn thiện thể chế về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, bảo đảm phát huy vai trò trụ cột về chiến lược của ba lĩnh vực này. Trên cơ sở kết quả triển khai chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển, xây dựng thành luận cứ khoa học trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.
Thứ tư, phát huy vai trò của nhân dân tham gia bảo vệ chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển của Đảng.
Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích người dân chủ động phát hiện và tích cực tham gia vào đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về hoàn thiện thể chế phát triển. Bên cạnh đó, toàn hệ thống chính trị và toàn dân cần tiếp tục hoàn thiện thể chế dân chủ, bảo đảm tăng cường đối thoại giữa cán bộ chủ trì, chính quyền cơ sở với nhân dân, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, nhất là các vấn đề bức xúc còn tồn đọng liên quan đến hoàn thiện thể chế phát triển như chính sách về đất đai, thuế, hỗ trợ vốn, khoa học, công nghệ…, qua đó điều chỉnh cơ chế, chính sách thỏa đáng, theo đúng quy định của pháp luật và bảo đảm lợi ích chính đáng của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc.
Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương hoàn thiện thể chế phát triển là nhiệm vụ tổng hợp, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đấu tranh, phản bác, bảo đảm tính kịp thời và tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong hệ thống chính trị và dư luận xã hội. Do đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất giữa các cơ quan chức năng như: Tuyên giáo, cơ quan báo chí và truyền thông, lực lượng công an, quân đội, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và hệ thống chính quyền các cấp. Cụ thể hóa sự phối hợp này bằng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tránh chồng chéo và bỏ sót nhiệm vụ. Hoàn thiện cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin nhanh giữa các lực lượng, nhằm chủ động nắm bắt sớm âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo đảm kịp thời ngăn chặn, xử lý hiệu quả các thông tin sai lệch, không để thông tin xấu, độc, tin giả lan rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận xã hội.
1, 2. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t. 6, tr. 332-333; t. 4, tr. 619.
3. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, t. 36, tr. 213.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, t. 12, tr. 366.
5. Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Bùi Ngọc Sơn và Nguyễn Mạnh Tường: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, tr. 102.
6, 7, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, t. 47, tr. 452; t. 51, tr. 118; t. 65, tr. 183.
8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 60, tr. 184, 219.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 34.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 104.
14, 15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 86.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 114.
16. https://baophapluat.vn/nam-2025-dau-moc-dot-pha-trong-cong-tac-xay-dung-phap-luat-cua-quoc-hoi.html.
17. https://dangcongsan.org.vn/dongnai/tin-tuc-hoat-dong/bao-cao-tong-ket-cong-tac-nhiem-ky-2021-2026-cua-chinh-phu.html.
18, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 64, 84.