Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp

CT&PT - Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của quốc gia, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp căn cơ, thiết thực là nhiệm vụ mang tính tất yếu khách quan, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

1. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là lực lượng tinh túy, quan trọng cấu thành nguồn nhân lực của quốc gia, nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, do đó, lực lượng này phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường là: có kiến thức chuyên môn, có kỹ năng, có thái độ và tác phong làm việc tốt, có trách nhiệm với công việc. Đặc biệt, trong bộ máy hệ thống chính trị, nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng tham mưu cho Đảng và Nhà nước hoạch định chiến lược, kế hoạch, giải pháp xây dựng và phát triển đất nước và là lực lượng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chiến lược, kế hoạch, giải pháp đó. Vì vậy, mỗi giai đoạn cách mạng cần có nguồn nhân lực chất lượng cao tương ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn đó.

Tại Việt Nam, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao đã được nhận thức từ khá sớm, kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986). Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhận thức về nguồn nhân lực chất lượng cao càng được đề ra một cách cụ thể. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011), Đảng ta chỉ rõ: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”1. Quan điểm này đánh dấu bước phát triển trong nhận thức về vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững, coi phát triển nguồn nhân chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”2. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ: “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành”3.

Kế thừa tinh thần của các đại hội trước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII) của Đảng tiếp tục xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”là một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội cũng đặt ra yêu cầu “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”5. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.

Cụ thể hóa quan điểm của Đảng, trong những năm qua, hệ thống văn bản pháp luật về phát triển nguồn nhân lực đã được ban hành khá đầy đủ và ngày càng được hoàn thiện. Cụ thể, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức… Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật, đồng thời ban hành nhiều cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực. Hệ thống văn bản này đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi và tạo động lực cho việc thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trong thời gian qua, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đạt được những kết quả nhất định. Trình bày tổng quan về tình hình lao động, việc làm từ năm 2021 - 2024, đại diện Cục Thống kê cho biết, Việt Nam vẫn đang thời kỳ cơ cấu dân số vàng với quy mô dân số trong độ tuổi lao động dồi dào và tăng hằng năm. Đây là lợi thế để bổ sung lực lượng lao động. Năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53 triệu người, tăng khoảng 575,4 nghìn người so với năm 2023, tăng gần 2,4 triệu người so với năm 20216. Cùng với quá trình phát triển các ngành kinh tế, cơ cấu lao động theo ngành của Việt Nam có sự chuyển hướng tích cực, giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng trong khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ. Thu nhập bình quân của người lao động tiếp tục được cải thiện, tăng lên ở hầu hết các ngành kinh tế. Năm 2024, thu nhập bình quân tháng của người lao động là 7,7 triệu đồng, tăng 8,6%, tương ứng tăng 610 nghìn đồng so với năm trước7. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm tiếp tục có xu hướng giảm nhờ tình hình kinh tế - xã hội của nước ta duy trì xu hướng tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Việt Nam đã xây dựng các chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, các chuyên gia, lao động có trình độ chuyên môn cao bằng các chính sách tiền lương, thưởng, phúc lợi hấp dẫn... Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao đã được quan tâm. Các tầng lớp doanh nhân giỏi, lao động có trình độ kỹ thuật cao xuất hiện ngày càng nhiều trong xã hội, đóng góp đáng kể cho sự phát triển đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta vẫn còn một số hạn chế nhất định. “Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và khả năng tự học, kỹ năng sáng tạo...”8. Thiếu những nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quản lý, khoa học - công nghệ. Về cơ cấu, có tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” do lao động qua đào tạo đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ lớn và gia tăng nhanh chóng, trong khi nền kinh tế thiếu trầm trọng đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật có trình độ cao đẳng và trung cấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2024 là 28,3%9. Đặc biệt, tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các ngành, nghề kỹ thuật cao, nghề nặng nhọc, độc hại. Mặt khác, hiện nay một số sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn còn yếu về trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin, các kỹ năng mềm cũng như khả năng làm việc theo đội, nhóm và kỹ năng khởi nghiệp… Việt kết nối cung - cầu lao động chưa đáp ứng yêu cầu xã hội, người lao động làm việc không phù hợp với ngành, nghề được đào tạo; một số sinh viên, kỹ thuật viên ra trường phải đào tạo lại mới đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phải coi đây nguồn tài nguyên quý giá nhất bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Cần xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, quản lý, nhà trường, doanh nghiệp, gia đình cũng như mỗi cá nhân.

Hai là, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, tăng cường phân tầng, phân luồng, tổ chức, sắp xếp lại hệ thống giáo dục, nhất là giáo dục đại học và dạy nghề. Cần thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình đào tạo trong các nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế. Chú trọng trang bị các kỹ năng mềm cho người học; đẩy mạnh công tác hướng nghiệp ngay từ bậc học phổ thông giúp người học có định hướng đúng đắn, từ đó xác định động cơ và học tập rõ ràng. Bên cạnh đó, cần khắc phục sự bất hợp lý về quy mô đào tạo, cơ cấu ngành, nghề và cơ cấu vùng, miền, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ. Đồng thời, chú trọng hơn nữa phát triển ngành tự động hóa, đầu tư cho các nhóm ngành nghiên cứu sâu về các lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, thông tin vệ tinh, số hóa, công nghệ sinh học và đặc biệt là sự tích hợp giữa chúng với nhau. Mặt khác, xác định đúng khả năng và nhu cầu đào tạo của các ngành, nghề, tăng cường công tác lập kế hoạch, dự báo thường xuyên và cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực của xã hội, nhất là nhu cầu của các doanh nghiệp, địa phương nhằm điều tiết quy mô, cơ cấu ngành, nghề và trình độ đào tạo cho phù hợp.

Ba là, bảo đảm quy mô, cơ cấu lao động có việc làm theo ngành phù hợp, gắn chiến lược phát triển nhân lực với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ, nhất là ngành công nghiệp công nghệ cao. Xây dựng cơ chế, chính sách để chuyển lao động khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.

Bốn là, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trên tất cả các lĩnh vực, tập trung vào các lĩnh vực như khoa học - công nghệ, các lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh. Quy hoạch phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu, xác định đây là yếu tố kiên quyết bảo đảm thành công cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời nhanh chóng rút ngắn chênh lệch khoảng cách với các quốc gia khác trên thế giới.

Năm là, hoàn thiện hệ thống chính sách về thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài, nhất là trong các lĩnh vực cơ quan sự nghiệp, hành chính nhà nước, khoa học - công nghệ, tạo điều kiện cho người tài phát huy tối đa năng lực sở trường, xây dựng tốt các chính sách về tiền lương, nhà ở… Bên cạnh chế độ đãi ngộ tốt, cần tập trung xây dựng môi trường làm việc lành mạnh; xây dựng cơ chế đánh giá, bổ nhiệm dựa trên năng lực và những đóng góp với tập thể, đơn vị. Công tác tuyển dụng phải đi đôi với sử dụng hiệu quả, đúng chuyên ngành, thế mạnh. Khắc phục hiện trạng “trải thảm đỏ đón nhân tài” nhưng sử dụng không hiệu quả, không đúng chuyên ngành gây lãng phí nhân lực. Việc trọng dụng và sử dụng nhân tài phải đi đôi với chế độ đãi ngộ tương xứng, giúp những người tài thực sự yên tâm tập trung vào công việc, đồn hết tâm huyết, trí tuệ vào việc thực hiện các nhiệm vụ được giao. Nghiên cứu đổi mới chế độ tiền lương theo nguyên tắc thị trường

Sáu là, phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế tài chính, nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của nhà khoa học, đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống. Tăng cường liên kết giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp. Tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, nhất là khoa học và công nghệ cao trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đa dạng hóa đối tác, lựa chọn đối tác chiến lược là các quốc gia có nền khoa học và công nghệ tiên tiến; gắn hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đồng thời, phát triển mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam, thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 130.

2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 90, 116.

4, 5, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 203-204, 232-233, 70.

6, 7, 9. “Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động”, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 21/3/2025, https://daibieunhandan.vn/chat-luong-nguon-nhan-luc-chua-dap-ung-nhu-cau-thi-truong-lao-dong-10362482.html.

 

 

 

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin