1. Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số - Cơ hội và thách thức
Chuyển đổi số là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi một cách tổng thể và toàn diện tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, tái định hình cách sống, làm việc và liên hệ với nhau1. Tại Việt Nam, công cuộc chuyển đổi số đã và đang được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo, thể hiện rõ trong nhiều chủ trương, nghị quyết quan trọng, trong hệ thống các quy định pháp luật. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đặc biệt nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số: “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”2. Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội có sự chuyển mình thực hiện chuyển đổi số và hoạt động xuất bản - một lĩnh vực hoạt động tư tưởng chính trị của Đảng và Nhà nước, đồng thời là lĩnh vực hoạt động gắn với đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần của xã hội cũng không nằm ngoài xu thế chung ấy. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu xây dựng và phát triển của ngành xuất bản là “theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại hóa”3.
Chuyển đổi số có ảnh hưởng lớn đến mọi khía cạnh của lĩnh vực xuất bản, từ khâu số hóa dữ liệu, sáng tạo nội dung, lựa chọn công nghệ sản xuất cho đến chiến lược truyền thông - tiếp thị sản phẩm và quản lý chuỗi cung ứng sản phẩm trên thị trường. Trong những năm qua, chuyển đổi số đã đem lại kết quả rõ rệt thúc đẩy hoạt động xuất bản như: (1) Số hóa dữ liệu giúp thay đổi dữ liệu truyền thống trên giấy từ analog sang định dạng kỹ thuật số, được lưu trữ trên máy chủ hay nền tảng đám mây. Quy trình số hóa dữ liệu giúp hoạt động truy xuất thông tin trở nên dễ dàng, tối ưu hóa quá trình vận hành; (2) Ứng dụng các nền tảng số vào các hoạt động hành chính, kế toán... góp phần tiết kiệm nhân lực, thời gian và chi phí cho doanh nghiệp; (3) Ứng dụng các nền tảng số vào quy trình xuất bản: biên tập, hiệu đính, phát hành, truyền thông...; (4) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào quy trình biên tập, xuất bản, quản lý, tham gia thị trường trong nước và thế giới. Chuyển đổi số đã tác động trực tiếp và làm thay đổi toàn bộ “ngành công nghiệp tri thức”, từ cách tiếp cận thị trường, quy trình xuất bản, cách thức xuất bản, đa dạng loại hình xuất bản, phương thức đọc, tiếp nhận từ phía độc giả, vấn đề bản quyền cho tới công tác quản lý xuất bản, văn hóa xuất bản. Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng đặt ra những thách thức, yêu cầu cấp bách từ việc hoàn thiện một số quy định pháp luật còn gặp vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành và áp dụng, đó là các quy định pháp luật: (1) Về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan; (2) Về ngăn chặn, xử lý hành vi làm sách giả, phát hành sách lậu trên nền tảng số; (3) Có sự bất cập giữa yêu cầu phải thực hiện nhanh chóng, hiệu quả những quy định liên quan đến xuất bản điện tử, lưu chiểu số với thực tế hạ tầng công nghệ số; (4) Quản lý xuất bản phẩm xuyên biên giới, thúc đẩy tăng cường trách nhiệm nền tảng số, bảo mật số...
2. Quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất bản trong bối cảnh chuyển đổi số - Một số vấn đề đặt ra
Thứ nhất, vấn đề bản quyền và quyền tác giả trong môi trường số.
Quyền tác giả ở nước ta được quy định chi tiết trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 (sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005), Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26/4/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan... Các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định khá đầy đủ trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 như: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” (khoản 2 Điều 4); “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký” (khoản 1 Điều 6); “Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác...” (khoản 1 Điều 14)... Bên cạnh đó, hệ thống các quy định pháp luật xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực xuất bản cũng được hoàn thiện với phạm vi bảo hộ quyền bản quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ đã bao trùm cả môi trường trực tuyến, kèm theo quy định về việc xử lý hành vi phát tán tác phẩm trên nền tảng kỹ thuật số mà không có sự cho phép của chủ sở hữu, Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017) đã quy định việc xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm đặt ra khung chế tài với mức phạt nghiêm khắc. Đồng thời, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) - gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015 với nhiều khung hình phạt khác nhau. Ngoài ra, Việt Nam đã tham gia các điều ước và hiệp định quốc tế liên quan đến chống vi phạm bản quyền số trên không gian mạng, như: Công ước về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật (Berne), Hiệp ước về quyền tác giả (WIPO), cùng các cam kết trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Việc tham gia các hiệp định quốc tế, cũng như chuẩn hóa các quy định về bảo hộ quyền tác giả cho thấy cam kết của Việt Nam trong việc chống các hành vi gian lận trên nền tảng số. Như vậy, hệ thống quy định pháp luật về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan của Việt Nam khá đầy đủ, tuy nhiên, vấn đề bất cập lại đặt ra từ phía thực thi pháp luật.
Với sự phát triển mạnh mẽ của internet, không gian số đã tạo nên một môi trường thúc đẩy hoạt động lan truyền và quảng bá các sản phẩm truyền thông một cách nhanh chóng, mạnh mẽ và không giới hạn về không gian, thời gian. Công nghệ số cũng đã tạo nên các xuất bản phẩm dạng mới, đồng thời cũng thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi vi phạm bản quyền thông qua nhiều hình thức khác nhau như sao chép, chia sẻ và sử dụng trái phép các nội dung trên môi trường số. Hành vi mạo danh tác giả, sao chép tác phẩm, trích dẫn lại, sử dụng lại các sản phẩm đã gây nhiều thiệt hại cho các cơ quan xuất bản về tài chính, giảm giá trị sản phẩm, gây mất uy tín của chủ sở hữu... Tuy nhiên, việc khởi tố hình sự các hành vi vi phạm bản quyền trên môi trường số vẫn gặp nhiều khó khăn do tính chất của vi phạm thường chỉ được xem là vi phạm dân sự hay vi phạm hành chính. Theo Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định việc hình sự hóa hành vi vi phạm bản quyền đòi hỏi phải có đủ ba yếu tố: (1) lỗi cố ý của chủ thể thực hiện hành vi, (2) hành vi vi phạm phải liên quan đến các quyền tài sản như quyền sao chép độc quyền và quyền phân phối độc quyền, (3) hậu quả của hành vi phải đạt quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính với các mức thiệt hại được quy định cụ thể (bắt đầu từ mức quy định tối thiểu). Tuy nhiên, việc xác định đầy đủ 3 yếu tố này gặp khó khăn do trong môi trường số chủ thể thực hiện hành vi vi phạm có tính ẩn danh rất cao, đặc biệt là những trường hợp có liên quan đến các bị đơn và máy chủ đặt ở nước ngoài, rất khó xác định dẫn đến việc áp dụng quy định pháp luật bị hạn chế.
Một khía cạnh nữa liên quan đến bản quyền và quyền tác giả là vấn đề bản quyền của các sản phẩm do AI tạo ra. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ xác định chủ thể đối với quyền tác giả là cá nhân và tổ chức (Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005) mà không quy định chủ sở hữu quyền tác giả là trí tuệ nhân tạo (AI), do đó tác phẩm được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam không được bảo hộ quyền tác giả. Trong lĩnh vực xuất bản, sẽ có những vấn đề pháp lý xảy ra cần giải quyết như: (1) Chủ thể nào có quyền sở hữu đối với nội dung của xuất bản phẩm được sáng tạo bởi trí tuệ nhân tạo (người lập trình; người quản trị hay người đặt lệnh)? (2) Nội dung các xuất bản phẩm do AI tạo ra hầu như là từ các dữ liệu có sẵn, vậy có được xem là mang tính sáng tạo độc lập hay có được xem là bản gốc không? Nếu AI tạo ra tác phẩm có nội dung vi phạm hoặc sử dụng trái phép các dữ liệu có bản quyền hay có nội dung trái với thuần phong mỹ tục, vi phạm quy định pháp luật thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ phải xử lý như thế nào?...
Thứ hai, vấn đề trở ngại trong việc ngăn chặn tình trạng in lậu, làm giả xuất bản phẩm, gian lận thương mại.
Sách giả, sách in lậu là một vấn nạn trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm do sự bất cập trong quy định pháp luật, sự hạn chế trong quản lý của cơ quan chức năng lẫn thái độ ứng xử của độc giả chưa thật sự quyết liệt trong việc bài trừ, tẩy chay sách lậu, sách giả. Ở khía cạnh quy định pháp luật, cơ quan chức năng gặp khó khăn trong việc nhận diện sách giả khi thực hiện công tác quản lý và xử lý vi phạm. Bởi theo Luật Xuất bản năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2018 (sau đây gọi tắt là Luật Xuất bản năm 2012) không có quy định cụ thể về việc xác định thế nào được coi là xuất bản phẩm in lậu, sách giả, vì vậy, các cơ quan chức năng gặp khó khăn trong quá trình nhận diện và xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 22 Luật Xuất bản năm 2012, văn bản xác nhận đăng ký xuất bản là căn cứ để nhà xuất bản ra quyết định xuất bản và có giá trị đến hết ngày 31/12 của năm xác nhận đăng ký. Vì thời gian, hiệu lực của quyết định xuất bản quá dài nên việc quản lý, giám sát cơ sở in đúng số lượng là rất khó, đây cũng là nguyên nhân dẫn tới việc in lậu, in nối bản, khó nhận diện việc có in lậu hay không. Nhiều năm trước, sách lậu chỉ xuất hiện ở hình thức “in và bán lậu”, hiện nay, với việc phát triển của khoa học - công nghệ, ứng dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất bản nói riêng, trong các hoạt động của đời sống xã hội nói chung, các đơn vị xuất bản còn phải đối phó với hình thức lan truyền sách giả trên môi trường số. Công nghệ hiện đại khiến cho việc lưu hành ebook thậm chí còn nhanh chóng và dễ dàng hơn rất nhiều so với in lậu. Các sàn thương mại điện tử có bán sách, các kênh bán hàng trực tuyến như mạng xã hội, website... với hình thức giống sách thật gần như hoàn toàn, không dễ để nhận diện, giá thành cạnh tranh so với sách thật, mang lại siêu lợi nhuận cho cơ sở in ấn trái phép.
Thứ ba, vấn đề lưu chiểu và nộp lưu chiểu điện tử.
Luật Xuất bản năm 2012 quy định: “Tất cả xuất bản phẩm phải nộp lưu chiểu cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản chậm nhất là 10 ngày trước khi phát hành”, quy định này là chung cho cả xuất bản phẩm điện tử. Đến nay, Quyết định số 1001/2023/QĐ-BTTTT ngày 09/6/2023 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã bổ sung quy định nộp lưu chiểu xuất bản phẩm điện tử qua môi trường mạng với chữ ký số. Tuy nhiên, cho đến nay cơ chế thực hiện còn thiếu thống nhất, đặc biệt công cụ tiếp nhận, lưu trữ, kiểm soát của cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn của các đơn vị xuất bản chưa đồng bộ đã gây khó khăn cho việc thực hiện cũng như công tác quản lý. Cụ thể trên thực tế, các nhà xuất bản vẫn phải thực hiện phương thức rất thủ công là sao chép nội dung sách điện tử vào đĩa, gửi đĩa cùng tờ khai lưu chiểu lên Cục Xuất bản, In và Phát hành khi tiến hành thủ tục nộp lưu chiểu.
Thứ tư, vấn đề chủ thể và điều kiện phát hành xuất bản phẩm điện tử.
Khoản 1 Điều 36 Luật Xuất bản năm 2012 quy định: “Cơ sở phát hành xuất bản phẩm bao gồm doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, hộ kinh doanh xuất bản phẩm (sau đây gọi chung là cơ sở phát hành)”, từ quy định chung này về chủ thể hoạt động phát hành xuất bản phẩm cho thấy cơ sở hoạt động phát hành xuất bản phẩm - chủ thể của hoạt động phát hành xuất bản phẩm chỉ là cơ quan, tổ chức mà không phải là cá nhân. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 45 Luật Xuất bản năm 2012 về điều kiện xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử lại quy định cá nhân là chủ thể hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử bên cạnh các chủ thể khác là cơ quan, tổ chức. Quy định pháp luật như vậy dẫn đến cách hiểu Luật Xuất bản năm 2012 chỉ cho phép cá nhân được phát hành xuất bản phẩm điện tử mà không được tham gia phát hành xuất bản phẩm khác. Quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến các cá nhân mong muốn đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm và hoạt động của cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ, theo đó, chính cơ quan có thẩm quyền sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chủ thể có quyền hoạt động phát hành xuất bản phẩm và xuất bản phẩm điện tử nếu một xuất bản phẩm được thực hiện bằng nhiều hình thức xuất bản.
Theo khoản 3, 4 Điều 36 Luật Xuất bản năm 2012, điều kiện hoạt động đối với cơ sở phát hành xuất bản phẩm (là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, hộ kinh doanh) là người đứng đầu cơ sở phát hành phải thường trú tại Việt Nam; phải có văn bằng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về phát hành xuất bản phẩm đúng quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ sở phát hành là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập; phải có giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của cơ sở phát hành trong hoạt động phát hành xuất bản phẩm; phải có địa điểm kinh doanh xuất bản phẩm cụ thể. Đối với xuất bản phẩm điện tử thì theo khoản 2 Điều 45 Luật Xuất bản năm 2012, điều kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện phát hành xuất bản phẩm điện tử chỉ là các quy định cơ sở vật chất, công nghệ, nhân lực... của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không quy định điều kiện chủ quan của người đứng đầu cơ quan, tổ chức hay cá nhân thực hiện phát hành xuất bản phẩm điện tử như điều kiện về văn bằng, chứng chỉ về nghiệp vụ hay điều kiện thường trú tại Việt Nam... Việc pháp luật không quy định về điều kiện chủ quan đối với chủ thể người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện phát hành xuất bản phẩm điện tử hay cá nhân thực hiện phát hành xuất bản phẩm điện tử sẽ dẫn đến một số tác động tiêu cực như cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ sẽ không có căn cứ pháp lý để xác định điều kiện đối với chủ thể thực hiện phát hành xuất bản phẩm điện tử dẫn đến làm cản trở việc thực thi pháp luật, đồng thời các chủ thể này sẽ không chịu sự ràng buộc của pháp luật về điều kiện đối với chủ thể dễ dẫn đến xảy ra rủi ro trong hoạt động phát hành xuất bản phẩm điện tử.
Thứ năm, xuất bản sách điện tử tinh gọn gặp khó khăn về bản quyền và khung pháp lý.
Sách tinh gọn được hiểu là những cuốn sách được viết lại dưới dạng tóm tắt nội dung những cuốn sách đã được xuất bản4. Việc xuất bản sách tinh gọn dưới hình thức sách giấy và đặc biệt là sách điện tử với các hình thức đa dạng khác như ebook, podcast, audiobook, infographic,... xuất hiện ở các thể loại nội dung như sách chính trị, sách lịch sử, sách văn học kinh điển, sách phổ biến kiến thức; sách kỹ năng, quản trị, lãnh đạo... Đặc điểm của sách tinh gọn là văn phong đơn giản, dễ hiểu, cô đọng những vấn đề trọng tâm nhằm đem đến cho độc giả cách thức tiếp cận gần gũi và đơn giản nhất, sách nói tinh gọn đáp ứng nhu cầu nghe/đọc nhanh của bạn đọc trong thời đại số, đặc biệt là giới trẻ gen Z, gen Y. Sách tinh gọn là loại sách đem lại tiện ích cho người đọc, khi phát triển trên các nền tảng Blinkist, getAbstract, Shortform, Soundview, Instaread... đem lại doanh thu lớn cho ngành xuất bản. Ở Việt Nam, sách tinh gọn còn mới mẻ và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động xuất bản thể loại sách này chưa hoàn chỉnh, còn đặt ra nhiều vấn đề về bản quyền và vấn đề pháp lý. Theo khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác. Từ quy định của luật có thể thấy sách tinh gọn chính là một dạng của tác phẩm phái sinh. Theo đó, tác giả tác phẩm phái sinh phải tuân thủ các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm gốc. Tuy nhiên, trong quy định pháp luật hiện nay chưa đủ cơ sở để bảo đảm quyền lợi giữa tác giả của tác phẩm gốc và tác giả của tác phẩm phái sinh với rất nhiều vấn đề cần câu trả lời: đơn vị xuất bản có phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc không; việc kinh doanh sách tinh gọn có xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc không; từ một đầu sách có thể khai thác được rất nhiều sản phẩm phái sinh khác nhau thì việc quản lý cả về nội dung lẫn vấn đề bản quyền các sản phẩm phái sinh như thế nào... Đồng thời luật cũng chưa quy định rõ về các chế tài xử phạt vậy nên khi có tranh chấp xảy ra sẽ khó đánh giá được mức độ thiệt hại thực sự và xử lý vấn đề tranh chấp như thế nào khi không thể hòa giải.
Luật Xuất bản năm 2012 vẫn chưa có quy định điều chỉnh hoạt động phát hành của các nhà sản xuất nước ngoài vào thị trường nước ta thông qua internet. Người tiêu dùng vẫn có thể mua rất dễ dàng sách điện tử hoặc thiết bị điện tử, thiết bị đọc mà trong đó có chứa hàng nghìn cuốn sách từ các nhà phân phối nước ngoài. Đây là vấn đề không chỉ của riêng nước ta mà của nhiều quốc gia, hiện chưa có đủ khung chế định và chế tài để xử lý về mặt pháp luật nếu nội dung của các xuất bản phẩm từ nước ngoài này vi phạm các quy định trong Luật Xuất bản của Việt Nam. Ngoài ra, liên quan đến xuất bản phẩm điện tử, nước ta còn thiếu các quy định về xử lý mối quan hệ giữa phát hành xuất bản phẩm điện tử và các hình thức hoạt động thư viện số, thư viện điện tử; thiếu quy định về hoạt động kinh doanh, phát hành xuất bản phẩm trên mạng internet, sàn thương mại điện tử; chưa có quy định việc cấp phép đối với xuất bản tài liệu không kinh doanh trên môi trường điện tử. Hiện nay, Luật Giao dịch điện tử đã được ban hành năm 2023 thay thế Luật Giao dịch điện tử năm 2005 với quy định cụ thể về hợp đồng điện tử, tuy nhiên trong lĩnh vực xuất bản thì chưa có các quy định cụ thể về hợp đồng xuất bản điện tử, dẫn đến khoảng trống pháp lý trong việc xác lập, thực thi và giải quyết tranh chấp...
3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xuất bản trong kỷ nguyên số
Một là, sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản năm 2012 theo hướng cập nhật, bổ sung các quy định về xuất bản điện tử, sách nói, hợp đồng điện tử, lưu chiểu điện tử bảo đảm tính đồng bộ với Luật Giao dịch điện tử năm 2023 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022.
Hai là, xây dựng cơ chế pháp lý về bảo hộ bản quyền trong môi trường số, quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trực tuyến, tăng cường chế tài xử lý vi phạm, áp dụng công nghệ số trong giám sát và bảo vệ quyền tác giả.
Ba là, hoàn thiện quy định về kiểm soát nội dung xuất bản trên môi trường số, xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà xuất bản và các nền tảng công nghệ.
Bốn là, ban hành các chính sách hỗ trợ nhà xuất bản trong quá trình chuyển đổi số, bao gồm hỗ trợ tài chính, đào tạo nhân lực, ứng dụng khoa học, công nghệ; đầu tư cho các cơ quan chức năng các điều kiện cần thiết về khoa học, công nghệ phục vụ công tác quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.
Năm là, tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực xuất bản, tham gia các công ước quốc tế về bảo hộ bản quyền, hợp tác với các nước trong phát triển xuất bản điện tử và chia sẻ kinh nghiệm quản lý.
Những giải pháp này sẽ góp phần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xuất bản Việt Nam trong kỷ nguyên số.
1. Bộ Thông tin và Truyền thông: Cẩm nang chuyển đổi số, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2020.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 221.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 146.
4. Cục Xuất bản, In và Phát hành: Báo cáo sơ kết đánh giá 01 năm triển khai nhiệm vụ phát triển thị trường sách tinh gọn, 2023.