1. Những kết quả nổi bật trong thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao thời gian qua
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong ba đột phá chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011). Đến nay, chủ trương này đã được triển khai thực hiện liên tục trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng (khóa XI, XII, XIII, XIV) và mang lại những kết quả nổi bật, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
Về đổi mới giáo dục và đào tạo
Thời gian qua, công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo nền tảng trực tiếp cho phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Tư duy giáo dục đã có bước chuyển rõ nét từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực, khuyến khích tư duy sáng tạo, tự học và học tập suốt đời. Chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai đồng bộ, từng bước khắc phục tình trạng nặng về hàn lâm, góp phần hình thành năng lực nền tảng và kỹ năng công dân cho người học.
Trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, mô hình đào tạo gắn với chuẩn đầu ra, nhu cầu xã hội và thị trường lao động được đẩy mạnh. Nhiều cơ sở đào tạo đã chủ động đổi mới chương trình, cập nhật kiến thức công nghệ mới, tăng tỷ trọng đào tạo thực hành, ứng dụng, đáp ứng yêu cầu của kinh tế số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cơ chế tự chủ đại học từng bước được mở rộng, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị nhà trường. Giai đoạn 2013 - 2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cử 11.657 người (4.049 tiến sĩ, 1.877 thạc sĩ, 5.070 đại học và 661 thực tập) đi học ở nước ngoài tại hơn 40 nước trên thế giới, trong đó số lượng giảng viên, viên chức các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng được cử đi học ở nước ngoài là 3.535 người (3.225 tiến sĩ, 258 thạc sĩ, 52 thực tập)1. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đã tăng từ 15,6% năm 20112 lên 20,9% năm 20163 và đạt 27% vào cuối năm 20234.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số trong giáo dục - đào tạo được thúc đẩy mạnh mẽ. Các nền tảng dạy học trực tuyến, học liệu số, hệ thống quản lý đào tạo hiện đại ngày càng phổ biến, góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, rút ngắn khoảng cách vùng miền. Nhờ đó, chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên, cơ cấu trình độ đào tạo có chuyển biến tích cực, tạo tiền đề quan trọng để hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Về phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ
Việt Nam đã chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, coi đây là lực lượng nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiều chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ đã được triển khai, bao gồm các chương trình đào tạo đại học và sau đại học ở trong nước và ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước, chương trình ươm tạo và hỗ trợ các nhà khoa học trẻ. Đề án 911 về đào tạo 20.000 tiến sỹ giai đoạn 2010-2020 mặc dù chưa mang lại kết quả cao nhưng cũng đã giúp tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên trong các trường đại học và viện nghiên cứu. Số công trình khoa học công bố quốc tế của Việt Nam đã tăng liên tục kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ XI. Theo dữ liệu của SCImago về số công bố quốc tế của Việt Nam (2015 - 2023), số lượng công trình khoa học công bố quốc tế của nước ta đã tăng từ 4.563 bài vào năm 2015 lên 18.294 bài vào năm 2020, với tỷ lệ tăng trung bình hàng năm của giai đoạn này đạt 32,4%. Trong giai đoạn 2021 - 2023, số công trình công bố quốc tế của cộng đồng khoa học Việt Nam vẫn duy trì ở mức tương đối ổn định (năm 2021:18.308 bài; năm 2022: 18.551 bài; năm 2023: 19.196 bài). Năm 2023, Việt Nam đứng thứ 47 trong 234 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng về số lượng công trình công bố quốc tế5.
Đặc biệt, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ phục vụ chuyển đổi số đã có sự gia tăng đáng kể. Tại thời điểm năm 2000, Việt Nam chỉ có khoảng 50 nghìn người làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin - truyền thông (ICT) và đóng góp cho GDP khoảng 0,5%, nhưng đến đầu năm 2024, nguồn nhân lực này đã lên tới hơn 1 triệu người và đóng góp 14,3% GDP. Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu lao động đang làm việc trong lĩnh vực ICT. Cả nước hiện có 168 trường đại học, 520 trường nghề đào tạo về ICT với tổng số sinh viên tốt nghiệp hằng năm đạt hơn 84 nghìn người, gồm khoảng 50 nghìn người bậc đại học và khoảng 34 nghìn người bậc cao đẳng, trung cấp6.
Về thu hút và sử dụng nhân tài
Việc thu hút và sử dụng nhân tài thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động. Đảng và Nhà nước ngày càng nhấn mạnh yêu cầu “trọng dụng nhân tài”, coi nhân tài là nguồn lực đặc biệt của quốc gia. Nhiều chủ trương, chính sách thu hút nhân tài trong khu vực công, khoa học – công nghệ, giáo dục - đào tạo và quản lý nhà nước được ban hành và từng bước hoàn thiện.
Một số bộ, ngành, địa phương đã chủ động xây dựng các cơ chế, mô hình thu hút nhân lực chất lượng cao, chuyên gia giỏi trong và ngoài nước, gắn với các chương trình, dự án phát triển trọng điểm. Việc sử dụng nhân tài ngày càng chú trọng hơn đến năng lực thực tiễn, hiệu quả công việc và khả năng đổi mới, từng bước giảm sự lệ thuộc vào bằng cấp hình thức.
Môi trường làm việc trong nhiều cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, cơ sở nghiên cứu có chuyển biến theo hướng dân chủ hơn, tôn trọng chuyên môn và khuyến khích sáng tạo. Việc tạo cơ hội cho người trẻ, trí thức có năng lực tham gia vào các vị trí quan trọng từng bước được mở rộng. Những kết quả này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, khơi dậy tinh thần cống hiến và trách nhiệm xã hội của đội ngũ nhân tài đối với sự phát triển của đất nước.
Hiện nay, mỗi năm có khoảng 300 - 500 lượt chuyên gia, trí thức, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài về nước và tham gia tích cực vào các hoạt động khoa học và công nghệ, triển khai các dự án hợp tác trong giảng dạy, đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển (R&D), đẩy mạnh ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo, đóng góp nhiều ý kiến sâu rộng, thực tế trong các vấn đề phát triển của đất nước. Trong số đó, nhiều chuyên gia đã về nước sinh sống, làm việc hoặc có những dự án lâu dài, mang tính nền tảng, đóng góp thiết thực cho sự phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục - đào tạo; góp phần đưa nền khoa học - công nghệ của Việt Nam đến gần với thế giới7.
Về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý luôn là một khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Qua từng giai đoạn cách mạng, công tác này đã được điều chỉnh, với những trọng tâm khác nhau phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi thời kỳ. Từ Đại hội XI, tư duy của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ có những sự phát triển quan trọng, thể hiện rõ nhất là về quy hoạch, tạo nguồn đào tạo, bổ nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm, thay thế đối với cán bộ cấp chiến lược và cán bộ chủ chốt các cấp, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được tiếp tục thúc đẩy, gắn liền với việc đánh giá cán bộ theo chức danh, quy hoạch và sử dụng cán bộ. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, “Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ các cấp, gắn với tiêu chuẩn chức danh và quy hoạch cán bộ được quan tâm, chú trọng và đầu tư tương xứng” - như ghi nhận tại Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ XIII. Theo Báo cáo này, từ đầu nhiệm kỳ đến ngày 30/9/2020, Trung ương đã tổ chức 3 lớp cập nhật kiến thức mới cho các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, 5 lớp bồi dưỡng cho 222 đồng chí diện cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII; tổ chức 258 đoàn, với 5.570 cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài. Các cấp ủy chỉ đạo mở 6.582 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho 590.601 lượt cán bộ, đảng viên về lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ; mở 40.217 lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho 4.530.676 lượt học viên8.
Trên cơ sở xác định việc “coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ
- nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng”9 là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược tiếp tục được đẩy mạnh. Nhìn chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện. Các cấp ủy địa phương đã tập trung xây dựng và tổ chức nhiều chương trình đào tạo, bồi dưỡng gắn với bồi dưỡng chức danh, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng. Công tác đào tạo cao cấp lý luận chính trị đã bám sát các quy định, hướng dẫn của Trung ương. Quy định về đối tượng, tiêu chuẩn, phân cấp đào tạo lý luận chính trị được ban hành kịp thời, bảo đảm chặt chẽ, đầy đủ nội dung, bao quát được các cấp học và xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Hoạt động kiểm tra, giám sát được chú trọng. Việc quán triệt, cụ thể hóa các văn bản mới của Trung ương được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc. Đặc biệt, vào đầu tháng 7/2024, lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã được tổ chức với 50 học viên đầu tiên, với chương trình bồi dưỡng tập trung vào các vấn đề trọng yếu của đất nước giai đoạn hiện nay, bao gồm những vấn đề căn cốt về nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng; xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị; phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại; khoa học lãnh đạo trong bối cảnh mới. Chương trình còn có các chuyên đề do chuyên gia nước ngoài giới thiệu nội dung về xây dựng Đảng cầm quyền; phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh10. Việc thực hiện các khóa bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng có những đổi mới đáng chú ý, với việc tổ chức các lớp học kết hợp trực tiếp và trực tuyến, giúp gia tăng số lượng cán bộ được bồi dưỡng, đồng thời tiết kiệm chi phí tổ chức thực hiện, nhất là đối với các khóa bồi dưỡng hợp tác với nước ngoài. Chỉ trong năm 2022, theo Kế hoạch Hợp tác đào tạo cán bộ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã có 4 lớp với 110 học viên (gồm 3 lớp lãnh đạo cấp vụ/cục và 1 lớp lãnh đạo cấp tỉnh/bộ) được thực hiện bằng hình thức trực tuyến11.
Về hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực
Hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực thời gian qua được mở rộng cả về quy mô và hình thức, góp phần tiếp thu tri thức, kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế. Việt Nam đã thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, quản lý công và giáo dục đại học.
Nhiều chương trình học bổng, đào tạo liên kết, trao đổi giảng viên, sinh viên và nhà khoa học được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu và kỹ năng hội nhập cho nguồn nhân lực Việt Nam. Một bộ phận trí thức, chuyên gia Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài đã trở về, giữ vai trò quan trọng trong giảng dạy, nghiên cứu và quản lý.
Thông qua hợp tác quốc tế, Việt Nam từng bước tiếp cận các mô hình đào tạo tiên tiến, chuẩn kỹ năng quốc tế và phương thức quản trị hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Đây là kết quả quan trọng, tạo nền tảng để tiếp tục thúc đẩy đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn tới. Với mục tiêu mở rộng hợp tác với các nước phát triển để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023 đã có trên 3.500 bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi sinh viên và giảng viên được ký kết giữa các cơ sở giáo dục của Việt Nam với nước ngoài12. Các văn bản ký kết này đã tạo điều kiện mở rộng và phát triển các hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam, thúc đẩy công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Việt Nam đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác với các nước phát triển về khoa học và công nghệ, tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận với công nghệ tiên tiến và phương pháp nghiên cứu hiện đại. Nhiều chương trình hợp tác với các nước có nền khoa học và công nghệ phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc… đã mang lại những kết quả tích cực. Công tác hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Ngày 18/7/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 39-KL/TW về chủ trương bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước, để vừa cập nhật kiến thức, phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, vừa nâng cao năng lực và khả năng làm việc của cán bộ trong môi trường quốc tế.
Việc chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển đã giúp nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng của các nhà khoa học Việt Nam. Nhiều dự án hợp tác quốc tế về nghiên cứu đã được triển khai thành công, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong nước. Nhiều nghiên cứu khoa học và công nghệ đã được ứng dụng vào sản xuất và đời sống, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt. Các lĩnh vực như công nghệ sinh học, vật liệu mới, và công nghệ thông tin đã có những bước tiến đáng kể, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
2. Một số hạn chế và nguyên nhân
Quá trình thực hiện đột phá về phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, so với các mục tiêu đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ XIII, vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Một là, mặc dù đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã được xác định là khâu then chốt trong phát triển nguồn nhân lực, song trên thực tế, quá trình đổi mới còn diễn ra chậm và chưa tạo được chuyển biến mang tính đột phá. Nội dung chương trình đào tạo ở nhiều cấp học, bậc học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, chưa thực sự chuyển mạnh sang phát triển phẩm chất, năng lực, tư duy phản biện, sáng tạo và kỹ năng thích ứng của người học. Phương pháp dạy và học đổi mới chưa đồng đều; việc ứng dụng công nghệ số trong giáo dục còn mang tính phong trào, thiếu chiều sâu và chưa gắn chặt với nâng cao chất lượng đào tạo.
Bên cạnh đó, mối liên kết giữa hệ thống giáo dục - đào tạo với thị trường lao động và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội còn lỏng lẻo. Tình trạng đào tạo chưa gắn với sử dụng vẫn phổ biến, dẫn đến nghịch lý vừa thừa vừa thiếu lao động, đặc biệt thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ cao trong các ngành công nghệ mũi nhọn. Công tác phân luồng, hướng nghiệp còn hiệu quả thấp, khiến cơ cấu nhân lực theo ngành nghề chưa hợp lý.
Ngoài ra, chất lượng giáo dục đại học và sau đại học, nhất là đào tạo nghiên cứu sinh, chưa theo kịp chuẩn mực khu vực và quốc tế. Tự chủ đại học triển khai còn thận trọng, thiếu đồng bộ về thể chế, tài chính và nhân sự. Đây là những hạn chế căn bản làm giảm hiệu quả đóng góp của giáo dục - đào tạo đối với việc hình thành đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hai là, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của Việt Nam đã có bước phát triển cả về số lượng và lĩnh vực chuyên môn, song nhìn tổng thể vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia. Cơ cấu đội ngũ khoa học và công nghệ còn mất cân đối, thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các tổng công trình sư trong những lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, trong khi lực lượng nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ còn mỏng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học ở nhiều cơ sở vẫn mang tính phân tán, thiếu liên kết liên ngành, liên lĩnh vực và liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp. Cơ chế quản lý khoa học vẫn nặng tính hành chính, thủ tục phức tạp, làm giảm động lực sáng tạo và tinh thần dấn thân của đội ngũ nhà khoa học. Chế độ đánh giá, ghi nhận thành quả nghiên cứu chưa thực sự dựa trên sản phẩm đầu ra và tác động thực tiễn, dẫn đến tình trạng “bình quân chủ nghĩa” trong đãi ngộ khoa học.
Bên cạnh đó, điều kiện làm việc, hạ tầng nghiên cứu và mức đầu tư cho khoa học, công nghệ còn hạn chế so với yêu cầu. Chính sách đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh để giữ chân và thu hút nhân lực khoa học trình độ cao, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh nhân tài toàn cầu ngày càng gay gắt. Những hạn chế này làm suy giảm vai trò động lực của khoa học, công nghệ trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao..
Ba là, thu hút và sử dụng nhân tài đã được Đảng và Nhà nước xác định là nội dung cốt lõi của đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, tuy nhiên việc tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập. Chính sách thu hút nhân tài còn phân tán, thiếu một khuôn khổ chiến lược quốc gia thống nhất, đồng bộ và có tính dài hạn. Nhiều chính sách mới dừng lại ở mức khuyến khích chung, chưa tạo được cơ chế cạnh tranh đủ mạnh so với khu vực tư nhân và quốc tế.
Việc phát hiện và tuyển chọn nhân tài chưa thực sự dựa trên nguyên tắc cạnh tranh công bằng, minh bạch và dựa vào năng lực thực chất. Trong không ít trường hợp, cơ chế sử dụng cán bộ còn nặng về bằng cấp, thâm niên, chức vụ, chưa đặt hiệu quả công việc và đóng góp cụ thể làm thước đo chủ yếu. Điều này dẫn tới tình trạng “lãng phí nhân tài”, khi người có năng lực không được bố trí đúng vị trí, trong khi người ở vị trí then chốt chưa chắc đã đáp ứng yêu cầu.
Đặc biệt, cơ chế đãi ngộ và môi trường làm việc trong khu vực công chậm được cải thiện, chưa đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài, nhất là trí thức trẻ, chuyên gia giỏi và người Việt Nam ở nước ngoài. Việc thiếu không gian sáng tạo, hạn chế về quyền tự chủ chuyên môn và trách nhiệm giải trình cũng làm suy giảm động lực cống hiến của đội ngũ nhân tài trong hệ thống chính trị và khu vực công. Theo thống kê, tính đến hết năm 2022, các đề án, chương trình học bổng Hiệp định mới có khoảng 7.186 người tốt nghiệp, về nước làm việc trong tổng số 11.657 người được cử đi học trong giai đoạn 2013 - 2022. Như vậy, so với số lượng học viên mà Bộ Giáo dục và Đào tạo cử đi học bằng ngân sách nhà nước giai đoạn này thì có tới 4.471 người chưa hoặc không trở về nước làm việc (chiếm 38,35%)13. Hơn nữa, việc thực thi các chính sách thu hút và sử dụng nhân tài chưa đồng bộ và thiếu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ, dẫn đến việc các chính sách này chưa đạt được hiệu quả mong muốn ở nhiều địa phương. Nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và khu vực kinh tế phát triển, trong khi nhiều vùng sâu, vùng xa đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thu hút và giữ chân nhân tài.
Bốn là, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý đã có nhiều đổi mới, song vẫn bộc lộ những hạn chế cả về nội dung, phương pháp và hiệu quả. Chương trình đào tạo ở nhiều cơ sở còn nặng về lý luận chung, thiếu cập nhật thực tiễn quản trị hiện đại, quản trị số, quản trị công và quản trị khủng hoảng trong bối cảnh biến động nhanh, phức tạp. Kỹ năng lãnh đạo chiến lược, tư duy đổi mới, năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu chưa được chú trọng đúng mức.
Phương thức đào tạo còn mang tính hành chính, dàn trải, thiếu cá thể hóa theo nhu cầu phát triển của từng nhóm cán bộ. Mối liên thông giữa đào tạo với quy hoạch, sử dụng và đánh giá cán bộ chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng học để đủ điều kiện, chưa gắn chặt với yêu cầu nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ.
Ngoài ra, việc đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý đạt chuẩn quốc tế còn hạn chế; số cán bộ được tiếp cận các chương trình đào tạo tiên tiến, có trải nghiệm thực tiễn quốc tế còn ít. Điều này ảnh hưởng đến năng lực dẫn dắt, tổ chức thực hiện và thúc đẩy đổi mới ở các cấp lãnh đạo, quản lý, nhất là trong các lĩnh vực mới, phức tạp của kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng.
Năm là, hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực đã được mở rộng, song hiệu quả và chiều sâu còn khiêm tốn so với tiềm năng và yêu cầu hội nhập. Hoạt động hợp tác chủ yếu tập trung vào trao đổi học thuật, đào tạo ngắn hạn và cấp học bổng, trong khi các mô hình hợp tác chiến lược dài hạn về đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyển giao tri thức và công nghệ còn hạn chế.
Việc tiếp thu và nội địa hóa các chuẩn mực quốc tế về đào tạo, đánh giá kỹ năng và công nhận trình độ chưa đồng bộ. Khả năng tham gia của nguồn nhân lực Việt Nam vào mạng lưới khoa học, đổi mới sáng tạo toàn cầu còn thấp; số lượng chuyên gia Việt Nam giữ vai trò chủ chốt trong các dự án quốc tế chưa nhiều.
Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong triển khai hợp tác quốc tế về nguồn nhân lực còn chồng chéo, thiếu đầu mối thống nhất. Chính sách thu hút chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu tại Việt Nam chưa đủ linh hoạt. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả tận dụng nguồn lực tri thức toàn cầu để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
3. Một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, nâng cao chất lượng thể chế và năng lực quản trị quốc gia về phát triển nguồn nhân lực.
Hoàn thiện thể chế phát triển nguồn nhân lực theo hướng đồng bộ, hiện đại và hội nhập, gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển nguồn nhân lực với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đổi mới phương thức quản trị nguồn nhân lực từ “quản lý hành chính” sang “quản trị phát triển”, lấy hiệu quả, chất lượng và giá trị gia tăng làm tiêu chí trung tâm. Đồng thời, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, nâng cao trách nhiệm giải trình của các chủ thể trong hoạch định, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, thực hiện đột phá trong căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Xây dựng nền giáo dục mở, linh hoạt, học tập suốt đời, phát triển mạnh các mô hình đào tạo theo năng lực, kỹ năng và chuẩn đầu ra gắn với yêu cầu của thị trường lao động trong kỷ nguyên số và kinh tế tri thức. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục theo hướng phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, năng lực số và khả năng thích ứng của người học. Tăng cường gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo; thúc đẩy đầu tư cho khoa học, công nghệ, coi đây là động lực then chốt để hình thành và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phát hiện, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài.
Xây dựng và triển khai chính sách quốc gia về nhân tài theo hướng đồng bộ, nhất quán, minh bạch và cạnh tranh, bảo đảm “trọng dụng thực tài, đãi ngộ xứng đáng”. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, đánh giá và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và nhà khoa học dựa trên năng lực, kết quả và đóng góp thực chất. Ban hành các chính sách đãi ngộ vượt trội về tiền lương, điều kiện nghiên cứu, môi trường làm việc và cơ hội phát triển đối với nhân lực chất lượng cao, đồng thời tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thu hút chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Thứ tư, phát triển mạnh thị trường lao động hiện đại, đồng bộ và hội nhập.
Hoàn thiện thể chế thị trường lao động theo hướng minh bạch, linh hoạt, hiệu quả, gắn kết cung - cầu lao động, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh và công nghiệp văn hóa. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng nâng cao tỷ trọng lao động có trình độ, kỹ năng cao; phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia hiện đại, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong dự báo nhu cầu nhân lực. Tăng cường liên thông, công nhận lẫn nhau về kỹ năng, trình độ với các đối tác quốc tế, qua đó tạo điều kiện cho nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ năm, xây dựng môi trường văn hóa - xã hội tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Hình thành và lan tỏa hệ giá trị đề cao tri thức, sáng tạo, liêm chính, trách nhiệm và cống hiến trong toàn xã hội, coi đây là nền tảng tinh thần cho sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực. Xây dựng môi trường làm việc dân chủ, minh bạch, tôn trọng tự do học thuật và khuyến khích đổi mới sáng tạo; đồng thời, chú trọng phát triển con người toàn diện, hài hòa giữa trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực thích ứng xã hội. Gắn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố niềm tin xã hội, qua đó tạo động lực mạnh mẽ để thu hút, giữ chân và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới.
1. Nhật Hồng: “Còn hơn 4.400 người đi du học bằng ngân sách nhà nước chưa trở về nước làm việc”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, ngày 11/10/2023, https://daibieunhandan.vn/giao-duc--y-te1/con-hon 4-400-nguoi-di-du-hoc-bang-ngan-sach-nha-nuoc-chua-tro-ve-nuoc-lam-viec-i346083/.
2. Tổng cục Thống kê: Báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2016, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2012, tr. 16.
3. Tổng cục Thống kê: Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2016, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2017, tr. 15.
4. Tổng cục Thống kê: Tình hình thị trường lao động Việt Nam năm 2023, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2024/01/tinh-hinh-thi-truong-lao-dong-viet-nam-nam-2023/
5. Như Quỳnh: Việt Nam tăng số bài báo công bố quốc tế trong năm 2023, https://vnexpress.net/viet-nam-tang-so-bai-bao-cong-bo-quoc-te-trong-nam-2023-4741696.html.
6. Thái Linh: “Tạo nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 15/3/2024, https://nhandan.vn/tao-nguon-nhan-luc-phuc-vu-chuyen-doi-so-post800037.html.
7. Ngô Hướng Nam và cộng sự: “Phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 30/12/2023, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 193.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 42.
10. Minh Vân: “3.500 bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác quốc tế trong giáo dục đã được ký kết”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, ngày 31/10/2023, https://daibieunhandan.vn/giao-duc--y-te1/3-500-ban-ghi-nho-thoa-thuan-hop-tac-quoc-te-trong-giao-duc-da-duoc-ky-ket-i348083/.
11. Nhật Hồng: “Còn hơn 4.400 người đi du học bằng ngân sách nhà nước chưa trở về nước làm việc”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, ngày 11/10/2023, https://daibieunhandan.vn/giao-duc--y-te1/con-hon-4-400-nguoi-di-du-hoc-bang-ngan-sach-nha-nuoc-chua-tro-ve-nuoc-lam-viec-i346083/.
12. Minh Vân: “3.500 bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác quốc tế trong giáo dục đã được ký kết”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, ngày 31/10/2023, https://daibieunhandan.vn/giao-duc--y-te1/3-500-ban-ghi-nho-thoa-thuan-hoptac-quoc-te-trong-giao-duc-da-duoc-ky-ket-i348083/.
13. Nhật Hồng: “Còn hơn 4.400 người đi du học bằng ngân sách nhà nước chưa trở về nước làm việc”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, ngày 11/10/2023, https://daibieunhandan.vn/giao-duc--y-te1/con-hon-4-400-nguoi-di-duhoc-bang-ngan-sach-nha-nuoc-chua-tro-ve-nuoc-lam-viec-i346083/.