Vận dụng kinh nghiệm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 vào xây dựng và phát triển Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật hiện nay

CT&PT - Từ việc phân tích kinh nghiệm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975, bài viết đề cập các nội dung vận dụng kinh nghiệm đó, nhằm xây dựng và phát triển Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao trong tình hình mới.

1. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - cội nguồn làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975 

Bằng ba đòn tiến công chiến lược lớn là: Chiến dịch Tây Nguyên (04/3/1975 - 03/4/1975), Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (05/3/1975 - 29/3/1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4/1975 - 30/4/1975) đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Để làm nên thắng lợi vĩ đại đó, chúng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhiều nhân tố; trong đó, nhân tố có ý nghĩa quyết định nhất là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng xây dựng và bồi đắp trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, được phát huy đến đỉnh cao trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.   

Sau khi Hiệp định Pari (ký ngày 27/01/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam có hiệu lực, trên cơ sở phân tích thế và lực của ta, của địch, tại Hội nghị lần thứ 21 (tháng 7/1973), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực. Hội nghị đề ra chủ trương tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao một cách chủ động, linh hoạt, tiến tới thực hành phản công, tiến công để giành thắng lợi hoàn toàn. Chủ trương đó của Đảng đã tạo ra một động lực mới cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân ở cả hai miền Nam, Bắc tăng cường đoàn kết, ra sức phấn đấu với tinh thần “Tất cả để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”. Các lực lượng chính trị và vũ trang nhân dân đều được tổ chức, huấn luyện một cách bài bản và lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất bởi một Đảng cách mạng, chân chính, khoa học, tiêu biểu cho lợi ích, trí tuệ, lương tâm, khát vọng, bản lĩnh và ý chí sắt đá của toàn dân tộc. Nhờ vậy, trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến, sức mạnh của lòng yêu nước, của đoàn kết thống nhất dân tộc và sức mạnh của chiến tranh nhân dân không ngừng được nhân lên từ các phong trào thi đua sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đó là những phong trào ở miền Nam như “Bám đất, giữ làng”, “Một tấc không đi, một li không rời”, “Thi đua giết giặc lập công”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”...

Ở miền Bắc, với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự tất thắng của cách mạng miền Nam trước thời cơ, thuận lợi mới do Hiệp định Pari mang lại, các tầng lớp nhân dân đã ra sức thi đua khắc phục hậu quả cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; đồng thời, dốc sức chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam. Các phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Thanh niên Ba sẵn sàng”, “Phụ nữ Ba đảm đang”, “Hai tốt”, “Làm nghìn việc tốt”, “Tay cày, tay súng”, “Tay búa, tay súng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”… tiếp tục được đẩy mạnh với khí thế xốc tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhờ đó, chỉ trong 24 giờ sau khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, toàn bộ cầu phà và tuyến đường bộ 1A từ Hà Nội đến Vĩnh Linh (Quảng Trị) được khơi thông; 3 ngày sau, tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh đã sẵn sàng cho các phương tiện vận tải chở người, hàng và vũ khí ra tiền tuyến. Theo tiếng gọi của miền Nam thân yêu, thanh niên miền Bắc với đủ thành phần: từ cán bộ, công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, sinh viên, đến đồng bào các tôn giáo, các dân tộc ít người… trong đó, không ít người là con độc nhất hoặc là người con cuối cùng của gia đình đều nô nức lên đường nhập ngũ, sẵn sàng vào Nam chiến đấu với mong muốn đóng góp sức mình vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Chỉ trong hai năm 1973 và 1974, đã có 25 vạn thanh niên miền Bắc nhập ngũ; hàng vạn dân công được huy động cùng các đơn vị bộ đội mở rộng các tuyến vận tải; 15 vạn cán bộ, chiến sĩ quân đội vào Nam chiến đấu; hàng vạn cán bộ, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong miền Bắc tình nguyện tới các vùng giải phóng công tác; 379.000 tấn vật chất được chuyển tới các mặt trận phía Nam, bằng 54% tổng khối lượng vật chất giao cho chiến trường miền Nam trong 16 năm trước đó. Riêng trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, miền Bắc đã dốc toàn bộ sức mạnh của mình cho tiền tuyến lớn, với việc đưa nhanh vào miền Nam gần 12 vạn cán bộ, chiến sĩ; chi viện 230 nghìn tấn vật chất các loại, bảo đảm 81% vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải1, tạo nên sức mạnh áp đảo về thế và lực so với quân địch, tạo thuận lợi lớn cho quân và dân miền Nam tiến lên giành toàn thắng. 

Những cố gắng trên không chỉ nói lên vai trò to lớn của hậu phương miền Bắc đối với chiến trường miền Nam trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, mà còn thể hiện sâu đậm tinh thần đại đoàn kết xung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng và tình đoàn kết của nhân dân miền Bắc với nhân dân miền Nam. Nếu không có điều này, chúng ta khó có thể huy động được sức mạnh toàn diện của miền Bắc trong thời điểm vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. 

Trên chiến trường miền Nam, sau khi đẩy lùi những hành động lấn chiếm vùng giải phóng của quân đội Sài Gòn, Quân giải phóng miền Nam liên tục đẩy mạnh tiến công, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân, mở rộng thêm địa bàn, tích cực vận động nhân dân hưởng ứng các chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam tiếp tục có nhiều hình thức tập hợp lực lượng, phân hóa và cô lập kẻ thù, đoàn kết các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, buộc chúng phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Pari, đồng thời ráo riết chuẩn bị mọi mặt để vùng lên giải phóng khi thời cơ đến. 

Phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, học sinh, sinh viên, các tổ chức hòa bình, dân chủ và tiến bộ đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức… nổ ra dồn dập, mạnh mẽ ở tất cả các thành phố lớn, diễn ra dưới nhiều hình thức, kết hợp bí mật với công khai và bán công khai, hợp pháp và bán hợp pháp… đã tập hợp ngày càng nhiều quần chúng ủng hộ cách mạng, đẩy địch vào thế lúng túng, hoang mang, bị động. Các “lõm” chính trị ở vùng ven và nội đô nhiều thành phố được tích cực xây dựng, với hàng chục vạn quần chúng có tổ chức sẵn sàng nổi dậy. Từ vùng rừng núi đến nông thôn đồng bằng và đô thị; trong nông dân, công nhân, tín đồ các tôn giáo, lực lượng trí thức, sinh viên, học sinh… đều thành lập cơ quan chỉ huy kháng chiến và nổi dậy, tổ chức học tập chính trị, phân công nhiệm vụ theo phương án kết hợp tổng tiến công và nổi dậy, như: biểu tình đấu tranh, trinh sát, dẫn đường, tiếp tế lương thực, thực phẩm, may cờ giải phóng, làm công tác binh vận và xuống đường phối hợp với các mũi tiến công quân sự giải phóng địa bàn. 

Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương nhằm diệt ác, khống chế và phòng vệ dân sự, công tác binh vận cũng được tăng cường nhằm tranh thủ lôi kéo binh lính, nhân viên ngụy quyền, các phe phái trong lòng địch, mở rộng mặt trận đoàn kết, cô lập kẻ thù chính, góp phần đánh sập ý chí chiến đấu, sức phản kháng của quân đội Sài Gòn, tạo thêm thế và lực cho quân và dân ta tiến hành tổng công kích, hạn chế đổ máu. Sự chuẩn bị trên kết hợp với các đòn tiến công quân sự của những binh đoàn chủ lực, của các lực lượng vũ trang địa phương và nổi dậy tại chỗ của quần chúng nhân dân đã tạo ra sức mạnh tổng hợp để Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra và giành toàn thắng vào ngày 30/4/1975. Sự kết hợp đó làm nổi bật bức tranh muôn màu về sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh không chỉ làm cho quân địch nhanh chóng tan rã, sụp đổ, mà còn tạo điều kiện để chúng ta giải phóng và tiếp quản Sài Gòn trong trạng thái gần như nguyên vẹn.

2. Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975

Thứ nhất, luôn kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết; khơi dậy tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc. Phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên sức mạnh tổng hợp. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện sinh động trong cuộc Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là sự tiếp nối tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” của lãnh tụ Hồ Chí Minh, được Đảng ta dày công xây dựng, bồi đắp và phát huy trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng. Yêu nước, khát vọng độc lập dân tộc trở thành mẫu số chung để đoàn kết toàn Đảng, các tầng lớp nhân dân, đoàn kết khu vực và đoàn kết quốc tế. Trong suốt quá trình kháng chiến, Đảng ta đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của toàn thể nhân dân. Nhân dân, bất kể dân tộc, tôn giáo, vùng miền, đều đồng lòng tham gia vào công cuộc giải phóng đất nước. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ hai, luôn chú trọng xây dựng khối đoàn kết, nhất trí trong Đảng và sự lãnh đạo của Đảng. Đảng phải trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là Đại thắng mùa xuân năm 1975, sức mạnh của khối đoàn kết, thống nhất có nguồn gốc trước hết từ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng và phát huy trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có nền tảng vững chắc từ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương. Nhờ có sự đoàn kết, thống nhất ấy, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới sau Hiệp định Pari, trong suốt cuộc chiến, Đảng đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo tối cao, luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ. Những quyết sách quan trọng luôn được Đảng đưa ra một cách chính xác và kịp thời, dựa trên sự tham gia, đóng góp ý kiến từ nhiều tầng lớp nhân dân, tạo nên sự đồng thuận cao. 

Thứ ba, phát huy sức mạnh của các lực lượng vũ trang nhân dân, tranh thủ hiệu quả sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 không chỉ là chiến thắng của quân đội mà còn là chiến thắng của toàn dân. Các lực lượng vũ trang nhân dân, từ bộ đội chính quy đến dân quân du kích, đã phát huy hết sức mạnh trong việc bảo vệ và giải phóng từng địa phương, vùng miền. Đảng đã xây dựng và phát huy hiệu quả sự đoàn kết giữa các lực lượng cách mạng trong nước và sự hỗ trợ quốc tế. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả của sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng cách mạng trong nước và sự giúp đỡ, hỗ trợ to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế. Sự đồng lòng giữa các lực lượng này đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam giành thắng lợi quyết định.

Thứ tư, với chủ trương “Đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết được”, Đảng ta đã vận dụng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của từng chiến lược cách mạng ở mỗi miền để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, mà không rập khuôn, máy móc. Ở miền Nam, Đảng ta chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, và sau đó “Thành lập một Mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng”2 . Thực hiện nhất quán lấy liên minh công - nông làm nền tảng cho Mặt trận dân tộc thống nhất, song việc xây dựng khối đại đoàn kết ở mỗi miền lại có mục tiêu, cương lĩnh, hình thức tổ chức, cơ cấu thành phần không giống nhau. 

3. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong xây dựng và phát triển Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật hiện nay 

Vận dụng kinh nghiệm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nhằm xây dựng và phát triển Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung những nội dung sau:

Một là, luôn bám sát, vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Nhà xuất bản. Qua đó, xây dựng sứ mệnh, tầm nhìn, khơi dậy khát vọng cống hiến trong cán bộ, viên chức, người lao động, tạo dựng ý chí thống nhất, đoàn kết, quyết tâm xây dựng và phát triển Nhà xuất bản. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị trong Nhà xuất bản; tận dụng hiệu quả các nguồn lực; xây dựng môi trường làm việc dân chủ, khơi dậy sáng tạo để tạo động lực cho sự phát triển, gắn kết giữa các đơn vị, cá nhân trong Nhà xuất bản.

Hai là, chú trọng xây dựng và phát huy khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ, các chi bộ trực thuộc, trở thành hạt nhân của khối đoàn kết, thống nhất của Nhà xuất bản. Khối đoàn kết trong Đảng ủy, các chi ủy phải trở thành nền tảng vững chắc trong xây dựng và củng cố khối đoàn kết, thống nhất của trong toàn Nhà xuất bản; là cơ sở để Lãnh đạo Nhà xuất bản đưa ra các định hướng đúng đắn nhằm xây dựng và phát triển đơn vị trong bối cảnh mới. Chú trọng xây dựng một tập thể đoàn kết, thống nhất từ cấp lãnh đạo đến từng cán bộ, viên chức, người lao động dưới sự chỉ đạo thống nhất của Đảng ủy. Tinh thần đoàn kết phải được thể hiện qua sự đồng lòng hỗ trợ trong công việc, cũng như trong cuộc sống. Đặc biệt, trong công tác biên tập, biên dịch, xuất bản và phát hành các sách, tài liệu chính trị quan trọng, việc tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động là vô cùng quan trọng, đảm bảo tính chính xác, khách quan và phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng.

Ba là, phát huy tốt vai trò của các tổ chức đoàn thể, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu Chiến binh và các đơn vị trong Nhà xuất bản. Các tổ chức đoàn thể cần thực hiện tốt nhiệm vụ và phát huy vai trò trong xây dựng khối đại đoàn kết trong Nhà xuất bản, trước hết là giữa các đơn vị, chi nhánh, các trung tâm. Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo và ủng hộ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các cơ quan, ban Đảng ở Trung ương, ở địa phương và mở rộng ra ngoài xã hội, với các cơ quan, đơn vị, tổ chức và các đối tác khác trong và ngoài hệ thống xuất bản. Điều này bao gồm sự hợp tác giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, học viện, các chuyên gia, tác giả, cộng tác viên cũng như các đối tác xuất bản khác trong và ngoài nước. Việc mở rộng và phát triển mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, lắng nghe ý kiến đóng góp từ các bên liên quan sẽ giúp Nhà xuất bản ngày càng làm tốt chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng các ấn phẩm; cải thiện hoạt động nghiên cứu khoa học, biên soạn, biên tập, biên dịch, phát hành sách, đồng thời tạo ra mạng lưới kết nối rộng lớn để đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục lý luận, chính trị, pháp luật trong và ngoài nước.

Bốn là, không ngừng đổi mới, sáng tạo trong tập hợp, vận động đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, viên chức, người lao động trong Nhà xuất bản nhằm xây dựng, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong suy nghĩ và hành động. Phát động và triển khai hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, thi đua xây dựng và phát triển Nhà xuất bản nhằm tạo sự đồng thuận, nhất trí trong công tác, huy động nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ chính trị dài hạn và ngắn hạn của Nhà xuất bản. 


1. Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 1138.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 29, tr. 70.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin