Quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng

CT&PT - Đồng chí Hà Huy Tập là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu và nhà lý luận xuất sắc của Đảng ta. Trong quá trình tham gia hoạt động và lãnh đạo cách mạng, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng trong việc khôi phục tổ chức Đảng và phát triển tư duy lý luận của Đảng, đặc biệt là tư duy lý luận về vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng.

Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906, là Tổng Bí thư của Đảng ta từ tháng 7/1936 đến tháng 3/1938. Trong những năm cách mạng gặp muôn vàn khó khăn, đồng chí Hà Huy Tập đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua phong ba, bão táp, đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng không ngừng tiến lên. Đồng chí là một trong những nhà lý luận chính trị xuất sắc của Đảng ta, đã soạn thảo nhiều văn kiện Đảng, viết sách, báo, tuyên truyền, giáo dục giác ngộ cách mạng cho các tầng lớp nhân dân1. Điểm nổi bật trong tư duy lý luận của đồng chí Hà Huy Tập là sự khẳng định nhất quán: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và sức mạnh cách mạng chỉ được phát huy đầy đủ khi quần chúng được giác ngộ, tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Từ thực tiễn tham gia hoạt động, lãnh đạo cách mạng và tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng 1930 - 1935 đến trực tiếp chỉ đạo cao trào dân chủ 1936 - 1939, đồng chí đã từng bước phát triển nhận thức về phương thức phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân theo hướng rộng mở, linh hoạt và phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Những quan điểm đó đã góp phần quan trọng vào việc phục hồi và phát triển phong trào cách mạng trong thời kỳ đầu dưới sự chỉ đạo của Đảng, đặt nền tảng cho quan điểm “lấy dân làm gốc” của cách mạng Việt Nam.

1. Quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định của cách mạng

Trong hệ thống quan điểm lý luận của đồng chí Hà Huy Tập, luận điểm về quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định của cách mạng giữ vị trí trung tâm, xuyên suốt và có ý nghĩa nền tảng. Đây không chỉ là sự tiếp thu nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò lịch sử của quần chúng nhân dân, mà còn là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX.

Thứ nhất, quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân không phải là sự khái quát thuần túy về mặt lý luận, mà được hình thành, phát triển trên nền tảng thực tiễn phong phú của xã hội Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XX và trong chính quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí. Sinh ra và lớn lên tại một vùng quê giàu truyền thống yêu nước (xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh) - nơi thường xuyên diễn ra các phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đồng chí sớm nhận thấy quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân và người lao động, không chỉ là đối tượng chịu áp bức, bóc lột, mà còn là lực lượng trực tiếp tham gia và duy trì các phong trào đấu tranh. Đồng chí nhận thấy, trong hoàn cảnh bị áp bức, bóc lột nặng nề, quần chúng nhân dân đã thể hiện tinh thần đấu tranh mạnh mẽ; nguồn gốc sâu xa của sức mạnh cách mạng chính là ở lợi ích thiết thân và nhu cầu giải phóng của đông đảo nhân dân lao động. Bởi vậy, ngay từ khi còn rất trẻ, người thanh niên Hà Huy Tập đã sớm tham gia đấu tranh trong phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên, công nhân, nông dân ở Huế, Nghệ An, Nha Trang (Khánh Hòa); đồng thời, gia nhập các hội, tổ chức tiền thân của Đảng, tiêu biểu là Hội Phục Việt (cuối năm 1925) nhằm đoàn kết các lực lượng yêu nước tiến bộ làm cách mạng để đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, đem lại tự do, độc lập cho nước nhà2. Đồng chí ra sức tập hợp, tuyên truyền, giác ngộ tinh thần yêu nước, cách mạng cho giáo viên, thanh niên, học sinh, công nhân; mở các lớp huấn luyện chính trị sơ đẳng và tổ chức nhiều cuộc bãi công cho công nhân; xuống các xóm thợ, thôn quê tìm hiểu tình hình sinh hoạt của anh em công nhân và đời sống, tâm tư, nguyện vọng của bà con nông dân; vận động anh em công nhân giúp đỡ nông dân, tổ chức ra Nông Hội và các hội tiến bộ khác. Đồng chí còn là linh hồn trong các cuộc bãi khóa của học sinh, khơi dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc trong thanh niên, học sinh. Từ thực tiễn phong trào này, đồng chí Hà Huy Tập đã sớm nhận thức được vai trò của các lực lượng quần chúng nhân dân như: công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên đối với cách mạng… Mặt khác, bằng khả năng ngoại ngữ tinh thông, năng lực nghiên cứu lý luận vượt trội, đồng chí đã tìm kiếm và tìm hiểu sâu các sách, báo cộng sản ở nước ngoài gửi về trong nước như: báo Le Paria (Người cùng khổ), báo L’Humanite (Nhân đạo)…, qua đó, đồng chí hiểu được động lực của cách mạng là những ai, xu hướng cộng sản là gì, vai trò to lớn của giai cấp vô sản trong cách mạng. Điều này lại càng thôi thúc đồng chí tích cực tham gia hoạt động cách mạng3

Thứ hai, trong quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập, cách mạng không phải là sự nghiệp của một cá nhân hay một nhóm nhỏ, mà là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân, trong đó nòng cốt là giai cấp công nhân và nông dân. Từ việc phân tích kết cấu xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, đồng chí chỉ rõ: công nhân và nông dân là những lực lượng bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, do đó có lợi ích gắn bó trực tiếp và triệt để với mục tiêu cách mạng. Đồng chí đã khẳng định nguyên nhân thắng lợi của các cuộc đấu tranh cách mạng là do “sự giác ngộ của công nhân và sự tham gia của tất cả quần chúng lao động làm thuê”4; “nông dân… chẳng những đấu tranh bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, mà cho cả lợi ích của giai cấp vô sản, là bạn đồng minh và lãnh tụ của mình nữa”5. Chính vì vậy, họ là lực lượng cơ bản, quyết định chiều hướng và kết quả của cách mạng.

Thứ ba, điểm nổi bật trong tư duy lý luận của đồng chí Hà Huy Tập về sức mạnh của quần chúng nhân dân không dừng lại ở việc khẳng định vai trò quyết định về mặt số lượng hay tiềm năng của quần chúng, mà được nâng lên thành nhận thức về điều kiện để sức mạnh đó được phát huy. Đặc biệt, khi tổng kết cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), đồng chí chỉ rõ đây là minh chứng sinh động cho vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong cách mạng. Chính sự tham gia rộng rãi của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động đã tạo nên sức mạnh chính trị to lớn, làm lung lay bộ máy thống trị của thực dân, phong kiến ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, đồng chí cũng chỉ rõ những hạn chế của phong trào, trong đó có nguyên nhân từ việc tổ chức và lãnh đạo chưa theo kịp sự phát triển của quần chúng, dẫn đến những tổn thất không nhỏ. Từ đó, đồng chí rút ra kết luận có tính nguyên lý: quần chúng là lực lượng quyết định, nhưng chỉ khi được tổ chức và lãnh đạo đúng đắn thì vai trò quyết định đó mới được phát huy đầy đủ. Trong bài viết "Đảng Cộng sản Đông Dương đứng trước chủ nghĩa cải lương quốc gia" (năm 1932), đồng chí nhận định: “Đảng Cộng sản Đông Dương muốn làm tròn nhiệm vụ của mình trong cách mạng thì phải phát triển phong trào quần chúng và lãnh đạo quần chúng, để có thể trong ngọn lửa của cuộc tranh đấu, xây dựng, củng cố Đảng, đội quân chính trị của quần chúng, vũ khí quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Đông Dương”6

Thứ tư, một điểm quan trọng trong quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập là sự phân biệt rõ ràng giữa vai trò quyết định của quần chúng nhân dân và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng chí không tuyệt đối hóa một phía, mà đặt hai yếu tố này trong mối quan hệ biện chứng: quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, Đảng là lực lượng lãnh đạo, tổ chức và định hướng cho sự sáng tạo đó. Nếu không có quần chúng nhân dân, cách mạng không có lực lượng vật chất, nhưng nếu không có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân khó có thể phát triển bền vững và đạt tới mục tiêu chiến lược. Đồng chí ủng hộ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, song cũng phê phán nghiêm khắc hành động đấu tranh bột phát, không xin chỉ thị của tổ chức Đảng, nhất là trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh7. Mặt khác, đồng chí cũng thẳng thắn phê phán tổ chức Đảng khi để xảy ra tình trạng “các tổ chức quần chúng đáng lẽ có thể phát triển được nhiều lắm, mà trái lại ở nhiều nơi không phát triển được”8. Quan điểm này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, khoa học về quy luật vận động của cách mạng vô sản, đồng thời khắc phục cả hai khuynh hướng sai lầm: coi nhẹ vai trò của quần chúng nhân dân và tuyệt đối hóa tính tự phát của quần chúng nhân dân. 

Thứ năm, đồng chí Hà Huy Tập không chỉ nhấn mạnh vai trò của công - nông, mà còn chủ trương mở rộng lực lượng quần chúng nhân dân sang các tầng lớp khác, như tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc… nhằm tạo thành một lực lượng chính trị rộng lớn. Đồng chí phê phán những lệch lạc, yếu kém trong nhận thức lý luận về lực lượng quần chúng nhân dân tham gia cách mạng, khẳng định bên cạnh công nhân, nông dân, Đảng phải lôi kéo và tranh thủ các bộ phận quần chúng khác tham gia đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là quần chúng tiểu tư sản và lao động thành thị. Do đó, việc đồng chí phê phán khuynh hướng xa rời quần chúng, coi đó là biểu hiện “biệt phái”, không chỉ là một nhận xét mang tính tình huống, mà là sự khái quát có giá trị lý luận về mối quan hệ sống còn giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Thực tiễn phong trào cách mạng, đặc biệt là phong dân chủ 1936 - 1939 đã chứng minh rằng, khi tất cả các giai cấp, các tầng lớp quần chúng nhân dân được tập hợp trên cơ sở lợi ích thiết thực và được dẫn dắt bởi một đường lối phù hợp, họ có thể tạo nên những cao trào đấu tranh rộng khắp, có sức ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị - xã hội.

Thứ sáu, đồng chí Hà Huy Tập đã đưa ra nhận thức và phương pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tính tự phát và tính tự giác của quần chúng nhân dân trong các phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Đây là một nội dung có chiều sâu lý luận đặc biệt quan trọng, không chỉ là vấn đề phương pháp luận trong lãnh đạo cách mạng, mà còn là cơ sở để lý giải vì sao có những phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ nhưng không bền vững, thậm chí bị thất bại, và ngược lại, vì sao có những phong trào được tổ chức, lãnh đạo tốt lại tạo ra bước phát triển có tính bước ngoặt. 

Đồng chí Hà Huy Tập nhìn nhận tính tự phát của quần chúng nhân dân trong một số phong trào đấu tranh như một hiện tượng khách quan, bắt nguồn từ chính điều kiện sống và mâu thuẫn xã hội. Trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, dưới sự áp bức, bóc lột nặng nề, quần chúng nhân dân luôn tiềm ẩn tinh thần phản kháng và có xu hướng đứng lên đấu tranh khi mâu thuẫn xã hội phát triển đến một mức độ nhất định. Chính vì vậy, các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân thường nảy sinh một cách tự phát, mang tính bột phát, thiếu định hướng chiến lược và không được tổ chức chặt chẽ. Tuy nhiên, đồng chí không phủ nhận vai trò của tính tự phát này, mà coi đó là “điểm khởi đầu” của phong trào cách mạng, là nguồn năng lượng ban đầu của sự biến đổi xã hội. Từ thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam, đặc biệt là cao trào cách mạng 1930 - 1931, đồng chí đã đi đến nhận định có tính khái quát: nếu chỉ dừng lại ở sự tự phát, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân khó có thể phát triển bền vững và đạt tới mục tiêu cách mạng. Thực tiễn phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh cho thấy, mặc dù quần chúng nhân dân đã vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, song ở nhiều nơi, do thiếu sự chỉ đạo thống nhất và trình độ tổ chức còn hạn chế, phong trào đã gặp phải những tổn thất đáng kể. Từ đó, đồng chí rút ra một luận điểm quan trọng: Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ thực sự được phát huy khi tính tự phát được chuyển hóa thành tính tự giác thông qua sự lãnh đạo của Đảng. 

Trên cơ sở đó, đồng chí Hà Huy Tập nhấn mạnh vai trò của Đảng trong việc thực hiện quá trình chuyển hóa này. Theo đồng chí, tính tự giác của quần chúng nhân dân không phải là yếu tố tự nhiên có sẵn, mà là kết quả của quá trình giác ngộ chính trị, tổ chức và rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh. Đảng Cộng sản, với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, có nhiệm vụ nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân, hiểu rõ mục tiêu, con đường và phương pháp đấu tranh cách mạng. Đồng thời, thông qua hệ thống tổ chức và các hình thức vận động phù hợp, Đảng đưa quần chúng nhân dân từ những hành động rời rạc, tự phát vào các hoạt động có tổ chức, có kỷ luật, hướng tới mục tiêu chung. Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng chính là nhân tố quyết định để biến tiềm năng cách mạng của quần chúng nhân dân thành sức mạnh hiện thực. Trong quá trình lãnh đạo phong trào dân chủ 1936 - 1939, quan điểm của đồng chí về mối quan hệ giữa tính tự phát và tính tự giác của quần chúng nhân dân trong các phong trào đấu tranh tiếp tục được phát triển. Trong điều kiện mới, khi các hình thức đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp được mở rộng, việc nâng cao tính tự giác của quần chúng nhân dân không chỉ thể hiện ở nhận thức về mục tiêu cách mạng lâu dài, mà còn ở khả năng tham gia các hoạt động chính trị - xã hội cụ thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn. Điều này cho thấy, đồng chí không nhìn nhận tính tự giác như một trạng thái tĩnh, mà đó là một quá trình vận động, phát triển cùng với thực tiễn phong trào.

Luận điểm quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định của cách mạng trong tư duy lý luận của đồng chí Hà Huy Tập không chỉ là sự khẳng định mang tính nguyên tắc, mà còn được luận chứng một cách chặt chẽ bằng cả lý luận và thực tiễn. Giá trị của luận điểm này không chỉ thể hiện trong việc định hướng phong trào cách mạng những năm 30 của thế kỷ XX, mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của nhân dân ngày càng trở nên cấp thiết trong quá trình phát triển đất nước, tư tưởng đó tiếp tục là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách nhằm khơi dậy và phát huy tối đa sức mạnh của toàn dân tộc.

2. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân

Trong hệ thống quan điểm lý luận của đồng chí Hà Huy Tập về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, luận điểm về vai trò lãnh đạo của Đảng có vị trí rất quan trọng và mang tính nguyên tắc, đồng thời là điều kiện quyết định để chuyển hóa tiềm năng của quần chúng nhân dân thành sức mạnh cách mạng hiện thực. 

Một là, nếu như quần chúng nhân dân được xác định là lực lượng quyết định của cách mạng, thì Đảng chính là nhân tố lãnh đạo, tổ chức và định hướng, bảo đảm cho sức mạnh đó phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả. Trong bài viết "Hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương" (năm 1932), dưới bút danh Hồng Thế Công, tổng kết hoạt động của Đảng trong gần hai năm kể từ khi được thành lập, đồng chí Hà Huy Tập nhận định: “Hoạt động cách mạng của Đảng không chỉ giới hạn trong việc mở rộng và tổ chức các tổ chức cách mạng. Ở mọi nơi và mọi lúc, Đảng đã tỏ rõ với quần chúng rằng mình là người lãnh đạo thực sự, người chỉ huy thực sự, người duy nhất bảo vệ kiên quyết, hết lòng và thường xuyên của tất cả những người bị bóc lột ở Đông Dương”9.

Từ việc tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, đồng chí Hà Huy Tập đã đi đến một nhận định có tính khái quát: Quần chúng nhân dân tuy đông đảo và có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, nhưng nếu thiếu sự lãnh đạo đúng đắn thì các phong trào đấu tranh dễ rơi vào tự phát, phân tán, thậm chí thất bại. Chính vì vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương không chỉ là một bước ngoặt về tổ chức, mà còn là điều kiện để nâng phong trào đấu tranh của quần chúng từ tự phát lên tự giác.  

Điểm đặc sắc trong tư duy lý luận của đồng chí Hà Huy Tập không dừng lại ở việc khẳng định vai trò “cần có” của Đảng, mà đi sâu làm rõ nội hàm của vai trò lãnh đạo đó. Theo đồng chí, sự lãnh đạo của Đảng đối với các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân không phải là sự áp đặt từ bên ngoài, mà là quá trình gắn bó hữu cơ, trong đó Đảng vừa là bộ phận tiên phong của giai cấp, vừa là người tổ chức, giáo dục và dẫn dắt quần chúng nhân dân. Đảng phải xuất phát từ lợi ích của quần chúng nhân dân, nắm bắt đúng nguyện vọng của quần chúng nhân dân, đồng thời nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cho quần chúng nhân dân. Nếu tách rời khỏi quần chúng nhân dân, Đảng sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo và có nguy cơ rơi vào tình trạng “biệt phái” - một nhận định mà đồng chí đã nhiều lần nhấn mạnh trong các tổng kết của mình.  

Hai là, đồng chí Hà Huy Tập đặc biệt coi trọng vai trò của công tác tổ chức và vận động quần chúng nhân dân của Đảng, xem đây là một trong những phương thức cụ thể để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng. Theo đồng chí, để phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, Đảng phải xây dựng được hệ thống tổ chức rộng khắp, từ các tổ chức công hội, nông hội đến các đoàn thể quần chúng khác, qua đó đưa quần chúng nhân dân vào các hình thức hoạt động có tổ chức, kỷ luật. Đồng thời, Đảng phải chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức chính trị của quần chúng nhân dân, hiểu rõ mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Chính quá trình tổ chức và giáo dục đó làm cho quần chúng nhân dân chuyển từ trạng thái đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác, từ lực lượng cách mạng tiềm năng trở thành lực lượng cách mạng thực sự.

Thực tiễn phong trào dân chủ 1936 - 1939 đã minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn trong quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập về vai trò lãnh đạo của Đảng. Trên cương vị là Tổng Bí thư của Đảng (từ tháng 7/1936 đến tháng 3/1938), đồng chí đã cùng Trung ương Đảng đề ra những chủ trương mới về tổ chức lực lượng cách mạng, giải quyết mối quan hệ giữa sách lược - đường lối chính trị cụ thể với tổ chức lực lượng để thực hiện thắng lợi đường lối đó, trong đó điều chỉnh sách lược về tổ chức lực lượng quần chúng nhân dân trong tình hình mới theo hướng mở rộng mặt trận và đa dạng hóa hình thức đấu tranh. Về tổ chức lực lượng, phải đưa ra những khẩu hiệu thích hợp để tranh thủ, tập hợp quần chúng nhân dân chung quanh Đảng. Cần tận dụng hoàn cảnh để tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân một cách công khai và nửa công khai; không câu nệ về tên gọi của tổ chức, nhưng phải bảo đảm nội dung hoạt động hướng tới bảo vệ quyền lợi của quần chúng nhân dân và  thống nhất các hội quần chúng trên cơ sở thống nhất với quyền lợi của giai cấp vô sản. Về tổ chức các hội quần chúng nhân dân, phải chú trọng số lượng. Muốn thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia các tổ chức hội, cần đề ra chủ trương đấu tranh gắn với những quyền lợi thiết thực hằng ngày, nội dung rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với nhận thức của quần chúng. Đối với các hội quần chúng do các đảng phái thành lập, Đảng cần chủ động đưa lực lượng tham gia hoạt động để tranh thủ tập hợp quần chúng, định hướng họ theo ảnh hưởng của Đảng. Cần nhận thức rõ, việc thành lập các tổ chức, hội quần chúng nhằm phục vụ đấu tranh, thông qua đấu tranh để củng cố và phát triển tổ chức. Đồng thời, khắc phục tình trạng chỉ chú trọng động viên quần chúng đấu tranh, mà chưa quan tâm đúng mức việc xây dựng và củng cố tổ chức10. Thông qua việc lãnh đạo các phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, Đảng đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, từ công nhân, nông dân đến trí thức, tiểu tư sản và cả một bộ phận tư sản dân tộc. Điều này cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng không chỉ phát huy sức mạnh của từng giai cấp, tầng lớp, mà còn tạo sự liên kết, phối hợp giữa các lực lượng xã hội, hình thành sức mạnh tổng hợp của phong trào cách mạng. 

Ba là, đồng chí Hà Huy Tập nhấn mạnh yêu cầu tự đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng để đáp ứng yêu cầu phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong từng giai đoạn. Đảng không thể giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng nếu không thường xuyên tổng kết thực tiễn, điều chỉnh đường lối và phương thức hoạt động phù hợp. Việc chuyển hướng chiến lược trong giai đoạn 1936 - 1939 là một minh chứng rõ nét, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là bất biến về hình thức, mà luôn vận động, phát triển cùng với thực tiễn cách mạng. Đây là một bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận về mối quan hệ giữa đường lối chính trị và tổ chức lực lượng. Sự chỉ đạo của Đảng thể hiện rõ tính cụ thể, linh hoạt, sáng tạo trong việc lựa chọn các hình thức tổ chức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và từng lực lượng cách mạng nhất định, qua đó thu hút đông đảo quần chúng tham gia đấu tranh trong thời kỳ vận động dân chủ vì các quyền tự do, dân chủ và lợi ích thiết thực hằng ngày, chống lại kẻ thù cụ thể là phản động thuộc địa và tay sai phong kiến. Điều đó phản ánh năng lực chỉ đạo và trưởng thành nhanh chóng của Trung ương Đảng, trước hết là của đồng chí Tổng Bí thư Hà Huy Tập. 

Bốn là, Đảng lãnh đạo quần chúng nhân dân nhưng không tách mình khỏi quần chúng nhân dân, ngược lại, Đảng luôn gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Đây là một nguyên tắc nhất quán bảo đảm phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Đồng chí Hà Huy Tập nhận thấy rằng, mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân là mối quan hệ hữu cơ, sống còn. Đảng chỉ có thể giữ vững vai trò lãnh đạo khi mọi chủ trương, đường lối cũng như mọi hoạt động của Đảng phản ánh đúng lợi ích, nguyện vọng và gắn bó chặt chẽ với đời sống của quần chúng nhân dân. Nếu tách rời quần chúng nhân dân, Đảng không chỉ suy giảm uy tín, mà còn có nguy cơ mất phương hướng. Theo đồng chí, “Đảng phải dùng cách chỉ đạo các hội quần chúng về mặt chính trị một cách xác đáng và lanh lẹ, tuy nhiên phải tránh sự bao biện, tránh sự làm mất tư cách độc lập của đoàn thể quần chúng về mặt tổ chức… các cấp đảng bộ phải chú ý lấy những phần tử công nhân, nông dân, phụ nữ, người dân tộc thiểu số và người lao động ngoại quốc vào cơ quan chỉ đạo của Đảng; các đảng bộ phải đem những phần tử chân thành, triệt để xuất thân ở các giai cấp trung gian và các lớp dân chúng khác vào Đảng”11. Chính vì vậy, trong các tổng kết, đồng chí đã phê phán nghiêm khắc khuynh hướng “biệt phái”, xa rời quần chúng, coi đây là một trong những nguyên nhân làm suy yếu phong trào cách mạng.   

Điểm sâu sắc trong quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập là không dừng lại ở việc nhấn mạnh yêu cầu “gần dân”, mà đi vào nội hàm cụ thể của sự gắn bó đó. Theo đồng chí, gắn bó với quần chúng nhân dân, trước hết là phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân, lấy đó làm cơ sở để xác định chủ trương, đường lối và phương thức vận động. Bên cạnh đó, gắn bó với quần chúng nhân dân còn được đồng chí nhấn mạnh là quá trình hai chiều: không chỉ “đi đến với quần chúng”, mà còn phải “dựa vào quần chúng”, lắng nghe và học hỏi từ thực tiễn của quần chúng. Điều này thể hiện nhận thức tiến bộ về vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân: quần chúng nhân dân không chỉ là đối tượng vận động, mà còn là chủ thể kiểm nghiệm và bổ sung, phát triển đường lối của Đảng. Chính vì vậy, đồng chí đặc biệt coi trọng việc duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa tổ chức Đảng với quần chúng nhân dân, coi đây là điều kiện để bảo đảm tính đúng đắn và sức sống của đường lối cách mạng. Trong tác phẩm Tờrốtxky và phản cách mạng, với bút danh Thanh Hương, đồng chí đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối liên hệ giữa các đảng cộng sản với các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội và khẳng định: Vô sản mà không tổ chức và chỉ đạo các tầng lớp nhân dân theo mình, theo ảnh hưởng của mình, thì bọn tư bản sẽ lợi dụng kéo các tầng lớp ấy mà chống lại thợ thuyền... Giai cấp vô sản mà không đồng minh với nông dân, các giai cấp trung gian, các tầng lớp bị áp bức khác, thì sẽ thành lực lượng cô độc không đủ sức hoạt động và tranh đấu, làm cho cuộc vận động của công nhân không tránh khỏi thất bại12.  

Như vậy, trong quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập, vai trò lãnh đạo của Đảng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Đây là quan điểm mang tính nguyên tắc, được luận chứng bằng thực tiễn phong trào cách mạng và được cụ thể hóa thành những yêu cầu rõ ràng về tổ chức, phương thức lãnh đạo và mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Quan điểm này tiếp tục là cơ sở lý luận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.

3. Phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân thông qua xây dựng và mở rộng mặt trận thống nhất 

Trong hệ thống quan điểm lý luận của đồng chí Hà Huy Tập, vấn đề xây dựng và mở rộng mặt trận thống nhất được đặt ra như một tất yếu nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng. Điểm nổi bật trong tư duy lý luận của đồng chí là sự kết hợp chặt chẽ giữa phân tích hiện thực xã hội, tổng kết thực tiễn và khái quát thành lý luận, qua đó hình thành một hệ thống luận điểm có tính logic và nhất quán.

Thứ nhất, về cơ sở của nhận thức lý luận, xuất phát từ đặc điểm cấu trúc xã hội Việt Nam dưới ách thống trị thực dân, đồng chí Hà Huy Tập khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng mặt trận thống nhất. Thực tiễn cho thấy, quần chúng nhân dân không tồn tại như một chỉnh thể đồng nhất, mà phân hóa thành nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội với vị trí kinh tế - xã hội và lợi ích khác nhau. Trong khi giai cấp công nhân và nông dân giữ vị trí trọng yếu trong cơ cấu xã hội, giai cấp và chịu sự tác động lớn nhất của chế độ thuộc địa, thì các tầng lớp xã hội khác như tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc… cũng chịu những tác động nhất định của chế độ thuộc địa, từ đó hình thành những yêu cầu khách quan về dân sinh, dân chủ. Trên cơ sở đó, đồng chí đưa ra nhận định có tính phương pháp luận: Muốn phát huy đầy đủ sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng, cần phải vượt qua cách tiếp cận riêng rẽ đối với từng giai cấp, tầng lớp xã hội và phải biết cách liên kết các giai cấp, tầng lớp xã hội trên cơ sở những lợi ích chung. Nhận định này thể hiện bước phát triển trong tư duy lý luận, từ chỗ nhấn mạnh lực lượng nòng cốt của cách mạng sang nhận thức về tính đa dạng và khả năng liên kết của quần chúng nhân dân.

Thứ hai, đồng chí Hà Huy Tập khẳng định, việc xác lập mặt trận thống nhất là một hình thức tổ chức có tính chiến lược để hiện thực hóa sức mạnh của quần chúng trong đấu tranh cách mạng. Theo quan điểm của đồng chí, mặt trận thống nhất không phải là sự tập hợp mang tính hình thức, càng không phải là sự cộng gộp cơ học các lực lượng xã hội, mà là một chỉnh thể chính trị - xã hội được tổ chức trên nền tảng mục tiêu chung và sự thống nhất về hành động, gắn phong trào đấu tranh yêu nước cách mạng với tổ chức thống nhất chặt chẽ, đặt dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp vô sản. Đồng chí tổng kết: Mặt trận thống nhất “là hình thức tối cao về sự liên hiệp hành động của toàn thể nhân dân bị áp bức trong giai đoạn hiện thời của phong trào quần chúng”13. Trong quá trình lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng, đồng chí nhấn mạnh việc gắn xây dựng mặt trận thống nhất với những mục tiêu cụ thể, thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, như đấu tranh bảo vệ hòa bình, đòi quyền dân sinh, dân chủ, dân quyền, tự do và cơm áo. Chính việc xác định đúng mục tiêu trong xây dựng và mở rộng mặt trận thống thất đã tạo cơ sở để liên kết các lực lượng vốn bị phân tán thành một sức mạnh chính trị tập trung, qua đó nâng cao hiệu quả của phong trào đấu tranh.

Thứ ba, về phương thức thực hiện, đồng chí Hà Huy Tập đặc biệt coi trọng vai trò của công tác vận động và tổ chức quần chúng, coi đây là một trong những điều kiện quyết định để hình thành và phát triển mặt trận thống nhất. Xuất phát từ thực tiễn, đồng chí chỉ rõ, việc tập hợp các lực lượng xã hội không thể diễn ra một cách tự phát, mà phải thông qua quá trình vận động chính trị có tổ chức, với những hình thức linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể. Đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ đạo việc sử dụng báo chí, diễn đàn công khai và các hình thức hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp để tuyên truyền, giác ngộ và tập hợp quần chúng. Đồng chí nhấn mạnh nguyên tắc “tùy theo điều kiện từng nơi”, “tùy hoàn cảnh, tùy trình độ của quần chúng” để xây dựng các hình thức tổ chức và hoạt động của mặt trận thống nhất cho phù hợp, qua đó, thể hiện rõ tư duy linh hoạt, chống giáo điều, máy móc trong tổ chức lực lượng.

Thứ tư, về xây dựng mặt trận thống nhất, coi đây là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mở rộng lực lượng và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn phong trào yêu nước cách mạng cho thấy, nếu tuyệt đối hóa việc mở rộng lực lượng mà buông lỏng vai trò lãnh đạo, phong trào có thể bị phân tán hoặc lệch hướng; ngược lại, nếu thu hẹp lực lượng trong phạm vi hẹp sẽ dẫn đến cô lập, làm suy yếu sức mạnh của quần chúng nhân dân. Nhận thức rõ điều đó, đồng chí đã kiên quyết đấu tranh chống cả hai khuynh hướng sai lầm: khuynh hướng “biệt phái”, xa rời quần chúng và khuynh hướng thỏa hiệp, buông lỏng nguyên tắc lãnh đạo. Từ đó, đồng chí xác lập một nguyên tắc có tính quy luật: Mặt trận thống nhất phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải bảo đảm tính rộng rãi trong việc tập hợp lực lượng. Đây chính là sự giải quyết biện chứng mối quan hệ chiến lược giữa yêu cầu chiến lược và yêu cầu tổ chức.

Thứ năm, về phương diện thực tiễn và giá trị khái quát lý luận, quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập đã được kiểm nghiệm thông qua sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cách mạng trong giai đoạn 1936 - 1939. Nhờ việc mở rộng mặt trận thống nhất và đa dạng hóa phương thức vận động, phong trào đã thu hút được sự tham gia của đông đảo các giai cấp, tầng lớp xã hội, tạo thành một cao trào chính trị rộng lớn, có sức lan tỏa sâu rộng. Trên cơ sở đó, đồng chí đã từng bước khái quát thành luận điểm có ý nghĩa lý luận sâu sắc: Sức mạnh của quần chúng nhân dân không chỉ nằm ở từng bộ phận riêng lẻ, mà nằm ở khả năng tổ chức, liên kết các giai cấp, tầng lớp xã hội thành một chỉnh thể thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhận thức lý luận đó của đồng chí có sự phát triển theo hướng kết hợp chặt chẽ hơn giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc.

Quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng thông qua xây dựng và mở rộng mặt trận thống nhất là một hệ thống luận điểm có tính khoa học và thực tiễn sâu sắc. Hệ thống đó không chỉ giải quyết một cách logic các vấn đề về cơ sở xã hội, phương thức tổ chức và nguyên tắc lãnh đạo, mà còn phản ánh sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư duy lý luận của đồng chí. Chính điều này đã làm nên giá trị bền vững trong quan điểm của đồng chí, đồng thời góp phần quan trọng vào sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình cách mạng Việt Nam.

Quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng có giá trị bền vững cả về lý luận và thực tiễn, thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin với tổng kết sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Về phương diện lý luận, đồng chí Hà Huy Tập đã góp phần quan trọng hoàn thiện tư duy lý luận và nhận thức lý luận về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, khẳng định đây không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng; đồng thời làm rõ điều kiện để phát huy vai trò đó là phải được giác ngộ, tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở đó, đồng chí xác lập và luận giải mối quan hệ biện chứng giữa Đảng và quần chúng nhân dân: Quần chúng nhân dân là nền tảng, nòng cốt, Đảng là lực lượng lãnh đạo; hai yếu tố này tạo thành chỉnh thể thống nhất hữu cơ, không thể tách rời nhau. Đồng chí đã phát triển tư duy lý luận về công tác vận động quần chúng nhân dân và xây dựng mặt trận thống nhất, mở rộng phạm vi tập hợp lực lượng cách mạng trên cơ sở kết hợp lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc. Qua đó, từng bước khắc phục những hạn chế trong nhận thức một chiều về vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc cũng như mối quan hệ giữa chúng, tiệm cận với tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về phương diện thực tiễn, những quan điểm trên của đồng chí Hà Huy Tập có ý nghĩa sâu sắc trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Trước hết, đó là cơ sở để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân và tăng cường đồng thuận xã hội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đồng thời, tư tưởng “gắn bó mật thiết với quần chúng” đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác dân vận, nhất là trong điều kiện chuyển đổi số, nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận, tương tác và truyền thông chính sách. Bên cạnh đó, những luận điểm cụ thể của đồng chí về vấn đề này còn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là trong việc phòng, chống quan liêu, xa dân và đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, qua đó củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân. Đây chính là nền tảng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. 


1. Xem Văn Hiếu: “Tổng Bí thư Tô Lâm dâng hương tưởng niệm các Tổng Bí thư Trần Phú và Hà Huy Tập”, Báo điện tử VOV, ngày 29/01/2026, https://vov.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-to-lam-dang-huong-tuong-niem-cac-tong-bi-thu-tran-phu-va-ha-huy-tap-post1265245.vov.

2, 3, 7, 10, 12. Xem Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước: Hà Huy Tập - Tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 37, 39, 102, 169, 199.

4, 5, 13. Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước: Hà Huy Tập - Tiểu sử, Sđd, tr. 99, 100-101, 193.

6, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 4, tr. 240-241; t. 3, tr. 415.

8, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 271, 288-289.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin