Bảo vệ mô hình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trước sự xuyên tạc của “Ngụy thuyết hội tụ”

CT&PT - Việc lợi dụng “Ngụy thuyết hội tụ” để đánh tráo khái niệm, phủ nhận mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch. Mục tiêu của chúng là làm suy giảm nền tảng lý luận, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trước thực tế đó, cần nâng cao nhận thức lý luận và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

1. “Ngụy thuyết hội tụ” - Bản chất phản khoa học và thủ đoạn “lập lờ” đánh tráo khái niệm

Về bản chất, “ngụy thuyết hội tụ” không đơn thuần là một lý thuyết kinh tế mà là một học thuyết chính trị - xã hội tư sản hiện đại, hình thành từ những năm 50 - 60 của thế kỷ XX; mà là “một trong những học thuyết cơ bản của xã hội học, kinh tế chính trị học và chính trị học tư sản hiện đại, nhận thấy xu hướng xích lại gần nhau của hai hệ thống xã hội - chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội - đang trở thành xu hướng áp đảo trong sự phát triển xã hội hiện đại”1. Về thực chất, đây là “một trong những cơ sở “khoa học” của chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc nhằm phá vỡ từ bên trong những cơ sở chính trị, kinh tế và tư tưởng của chủ nghĩa xã hội”2. “Ngụy thuyết hội tụ” cố tình tạo ra một vẻ ngoài “trung dung”, “khoan hòa” để làm lu mờ ranh giới lập trường giai cấp và dần xóa nhòa bản chất đối kháng giữa hai hình thái kinh tế - xã hội. Về cơ bản, các thế lực thù địch xây dựng “Ngụy thuyết hội tụ” trên 3 trụ cột lý luận cơ bản: 
(1) Xu hướng “xích lại gần nhau” (Convergence), các thế lực thù địch dựa vào những điểm tương đồng hình thức (kỹ thuật, quản trị) để cho rằng chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đang hòa nhập; đây là cách tiếp cận phi lịch sử, cố tình phớt lờ sự khác biệt cốt lõi về chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và mục tiêu xóa bỏ bất công của chủ nghĩa xã hội.  
(2) Sự “lai tạo” để hình thành xã hội thống nhất, chúng cổ súy cho sự xuất hiện của một “xã hội lai” nhằm xóa bỏ ranh giới giữa hai hệ thống; thực chất, đây là mưu đồ dẫn dắt các nước xã hội chủ nghĩa đi chệch hướng, gây ra sự “hòa tan” thể chế để tiến tới phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. 
(3) Sự “vay mượn” và đánh tráo khái niệm quản lý, luận điệu này cho rằng việc gắn “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào kinh tế thị trường là khiên cưỡng, thiếu nhất quán; đây là thủ đoạn “lập lờ đánh lận con đen”, cố tình đồng nhất kinh tế thị trường (văn minh nhân loại) với chủ nghĩa tư bản; chúng phủ nhận thực tế: kinh tế thị trường chỉ là phương thức vận hành, còn bản chất xã hội được quyết định bởi mục tiêu phát triển vì lợi nhuận thiểu số hay vì hạnh phúc của toàn dân.
Nếu như thuyết tư sản khẳng định, “do sự phát triển của tiến hóa và sự thâm nhập lẫn nhau giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, nên dường như đang xuất hiện một xã hội thống nhất nào đó dựa trên cơ sở kết hợp những tính chất tích cực của cả hai hệ thống kinh tế - xã hội”3, thì các nhà Mác - xít cho rằng, “thuyết hội tụ toan tính vĩnh viễn hóa trật tự tư sản, nên tìm cách làm gần chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở hợp nhất hai hệ thống dưới dạng cải biến, đồng thời vay mượn từ chủ nghĩa xã hội phương pháp quản lý kế hoạch hóa nền kinh tế”4… Tuy góc độ tiếp cận khác nhau, song các nhà nghiên cứu đều thừa nhận, Ngụy thuyết hội tụ “mang tính chất biện bộ của giai cấp tư sản mưu toan chứng minh tính tất yếu của sự xích lại gần nhau giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội và dựng lên một thứ xã hội lai tạo thống nhất”5.
Với những tìm hiểu cơ bản nêu trên, có thể hiểu khái niệm “Ngụy thuyết hội tụ” một cách cô đọng như sau: “Ngụy thuyết hội tụ là một học thuyết chính trị - xã hội tư sản hiện đại, được các thế lực thù địch sử dụng như một “vũ khí tư tưởng” tinh vi nhằm phá hoại chủ nghĩa xã hội từ bên trong; đây được xem là công cụ quan trọng để xóa bỏ thành tựu cách mạng thông qua việc phủ nhận tính khoa học và thực tiễn của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam”. 
Hiện nay, các thế lực thù địch không công khai mục tiêu xóa bỏ chế độ, mà thường sử dụng các thủ đoạn tinh vi dưới lớp vỏ bọc học thuật để từng bước làm suy yếu niềm tin của chúng ta. Cụ thể, có thể nhận diện 5 thủ đoạn đội lốt  “Ngụy thuyết hội tụ” sau: 
Một là, đánh tráo khái niệm “kinh tế thị trường” và “chủ nghĩa tư bản”; hiện nay, chúng cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, rêu rao rằng kinh tế thị trường đồng nghĩa tất yếu với chủ nghĩa tư bản; ý đồ của chúng là dẫn dắt dư luận tới kết luận sai lầm: Một khi chọn kinh tế thị trường thì tất yếu phải đi theo con đường tư bản; tuy nhiên thực tế, kinh tế thị trường là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất hàng hóa trong tiến trình văn minh nhân loại, không phải là phát minh riêng hay đặc quyền của bất kỳ hệ thống nào. 
Hai là, sử dụng tư tưởng phi lịch sử để phớt lờ bản chất hệ thống. “Ngụy thuyết hội tụ” cố tình xóa nhòa ranh giới giai cấp và bản chất đối kháng giữa hai hình thái kinh tế - xã hội; chúng lấp liếm sự khác biệt giữa nền tảng tư hữu của chủ nghĩa tư bản với sứ mệnh của chủ nghĩa xã hội là thủ tiêu mầm mống bất công từ tư hữu đó; việc phủ nhận tính lịch sử này nhằm làm mơ hồ bản chất chế độ và suy giảm nhận thức về tính ưu việt của mô hình xã hội chủ nghĩa. 
Ba là, thổi phồng các đặc điểm hình thức để lấp liếm nội dung kinh tế, chúng viện dẫn việc cả hai hệ thống cùng ứng dụng kỹ thuật mới hay cải tiến quản lý để cho rằng chúng đang “hòa nhập”; thực chất, đây là sự tuyệt đối hóa hiện tượng bên ngoài để che đậy sự khác biệt có tính nguyên tắc; trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, kỹ thuật và quản lý là công cụ phục vụ lợi ích số đông; còn ở chủ nghĩa tư bản, chúng được dùng để tối đa hóa lợi nhuận cho tầng lớp sở hữu. 
Bốn là, núp dưới vỏ bọc học thuật “cởi mở” và “tiến bộ”, chúng đưa ra giả định mang tính định mệnh rằng mọi quốc gia cuối cùng đều sẽ tiến tới một điểm chung là mô hình kinh tế thị trường phương Tây; chúng quảng bá tư nhân hóa toàn diện là “tối ưu hóa hiệu quả”, nhưng thực tế là để đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo; cái mác “khoa học” này thực chất là để dẫn dắt Việt Nam đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa một cách tự nguyện. 
Năm là, xuyên tạc lý luận về “định hướng xã hội chủ nghĩa”, chúng xảo biện rằng việc gắn định hướng xã hội chủ nghĩa vào cơ chế thị trường là gán ghép chủ quan, tạo nên thực thể “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, phi thực tiễn; thực tế, sau 40 năm đổi mới, những thành tựu to lớn về quy mô GDP và đời sống nhân dân là bằng chứng sống động nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc.

8022f431d935586b0124-1777428369.jpg

5 thủ đoạn "lập lờ", xuyên tạc của "Ngụy thuyết hội tụ".

Có thể thấy, “Ngụy thuyết hội tụ” không chỉ là một trào lưu học thuật mà đã trở thành một “vũ khí tư tưởng” đặc biệt nguy hiểm; những nguy cơ trực tiếp mà nó gây ra đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta, bao gồm: (1) Bào mòn nền tảng lý luận và ranh giới lập trường giai cấp, nếu để “Ngụy thuyết hội tụ” phát triển không có sự đấu tranh, phản bác và biện pháp ngăn ngừa hiệu quả, Ngụy thuyết này đánh vào gốc rễ tư tưởng bằng cách làm lu mờ ranh giới giữa hai hình thái kinh tế - xã hội đối kháng; khi người cán bộ, đảng viên tin vào sự “xích lại gần nhau” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, họ sẽ mất đi sự cảnh giác cách mạng, xóa nhòa bản chất giai cấp trong các chính sách kinh tế, từ đó làm yếu đi sức chiến đấu của nền tảng tư tưởng Mác - Lênin. (2) Gây mơ hồ về con đường phát triển, tạo ra “khoảng trống tư tưởng”, bằng cách tung hô các giá trị phương Tây là “đích đến tất yếu”, ngụy thuyết này tạo ra tâm lý dao động, hoài nghi về tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; sự mơ hồ này dẫn đến một “khoảng trống tư tưởng” nguy hiểm; khi niềm tin vào mục tiêu xã hội chủ nghĩa bị rạn nứt, nó sẽ mở đường cho các tư tưởng tư sản xâm nhập, dễ dẫn đến hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và chệch hướng trong thực thi chính sách. (3) Mưu toan xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, đây chính là mục tiêu cuối cùng và thâm độc nhất của các thế lực thù địch; chúng lập luận rằng trong một nền kinh tế “hội tụ”, vai trò lãnh đạo trực tiếp của Đảng là “vật cản” đối với các quy luật thị trường; chúng kích động đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” và tách rời sự lãnh đạo của Đảng ra khỏi quản lý kinh tế, nhằm vô hiệu hóa vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với vận mệnh dân tộc. (4) Đồng hóa thể chế dưới áp lực của cơ chế thị trường, cổ súy cho quan điểm “hòa tan”, chúng lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế để tạo áp lực buộc Việt Nam phải từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu ta “hòa tan” thay vì “hòa nhập”, nền kinh tế sẽ bị dẫn dắt bởi các định chế tài chính quốc tế theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, khiến chúng ta mất quyền tự chủ về chiến lược phát triển và đánh mất bản sắc thể chế chính trị. (5) Gây bất ổn chính trị - xã hội từ hệ lụy kinh tế, việc tuyệt đối hóa thị trường tự do kiểu phương Tây như “Ngụy thuyết hội tụ” gợi ý sẽ phá vỡ các mục tiêu an sinh xã hội; sự tích tụ tài sản quá mức vào tay một nhóm nhỏ (nhóm lợi ích) và việc nới rộng khoảng cách giàu nghèo sẽ làm gia tăng các mâu thuẫn tầng lớp; đây chính là “ngòi nổ” để các thế lực thù địch kích động biểu tình, gây mất ổn định chính trị và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Bước đột phá lý luận và lời đáp trả đanh thép qua thực tiễn 40 năm đổi mới

Thứ nhất, kinh tế thị trường là phương thức vận hành, không phải đặc quyền của chủ nghĩa tư bản. Cần khẳng định kinh tế thị trường là thành quả văn minh nhân loại, hình thành từ quá trình phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, không phải sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Việt Nam lựa chọn kinh tế thị trường là sự vận dụng khoa học quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh để giải phóng sức sản xuất. “Ngụy thuyết hội tụ” cố tình đánh tráo khái niệm khi cho rằng có “thị trường” là có “tư bản”. Thực tế, kinh tế thị trường chỉ là công cụ; bản chất chế độ được quyết định bởi việc công cụ đó phục vụ lợi ích của giai cấp nào. Từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, Đảng ta đã hoàn thiện lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: hiện đại, hội nhập, vận hành đầy đủ theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo. Đây không phải sự “gán ghép” chủ quan mà là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “bàn tay vô hình” (thị trường) và “bàn tay hữu hình” (Nhà nước) vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”6. Mô hình này không rập khuôn theo kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cũng không quay trở lại mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, càng “không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường”7, đặt trên nền tảng sự kết hợp giữa “bàn tay vô hình” của thị trường với “bàn tay hữu hình” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”8, mà mục tiêu cuối cùng là thực hiện khát vọng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”9.
Thứ hai, khác biệt về bản chất và tính nhất quán của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác biệt căn bản với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở ba phương diện: Về phương diện mục tiêu, không tối đa hóa lợi nhuận cho thiểu số tài phiệt mà phục vụ lợi ích đại đa số nhân dân. Về phương diện phân phối, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, gắn liền với an sinh xã hội, công bằng trong từng bước phát triển thay vì chờ kinh tế giàu mạnh mới làm phúc lợi. Về phương diện quản lý, Nhà nước điều tiết để khắc phục các khuyết tật của thị trường như độc quyền, khủng hoảng, phân hóa giàu nghèo, đảm bảo phát triển bền vững; mô hình này là sự kế thừa tinh hoa nhân loại kết hợp với bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội; thực tiễn 40 năm đổi mới chứng minh đây là hệ thống thống nhất, nơi các yếu tố bổ trợ lẫn nhau, giúp Việt Nam giữ vững ổn định chính trị - xã hội trước các biến động toàn cầu.
Thứ ba, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định. Cần bác bỏ luận điệu tách rời Đảng khỏi kinh tế hoặc cho rằng sự lãnh đạo của Đảng là “vật cản” thị trường; thực chất, đây là âm mưu “phi chính trị hóa” kinh tế để chuyển đổi thể chế. Trong mô hình của Việt Nam, Đảng là nhân tố bảo đảm nền kinh tế không chệch hướng sang quỹ đạo tư bản tự phát; sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò là “bộ lọc” và “người cầm lái”: Đề ra chiến lược độc lập, tự chủ, không để các tập đoàn tài phiệt chi phối; chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực và chống tham nhũng chính là tạo môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng để các quy luật thị trường vận hành đúng nghĩa; trong khủng hoảng (như đại dịch Covid-19), sự lãnh đạo tập trung của Đảng là chìa khóa để điều tiết vĩ mô, bảo vệ nền kinh tế khỏi đổ vỡ.
Thứ tư, lấy thành tựu thực tiễn làm luận cứ thuyết phục nhất để bác “bỏ “Ngụy thuyết hội tụ”. Cần khẳng định “thực tiễn sẽ là thước đo khách quan” nhất đối với mọi học thuyết; cần khẳng định rằng, “Ngụy thuyết hội tụ”, “lai tạo” hay các luận điệu xuyên tạc về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều trở nên vô nghĩa và thiếu sức thuyết phục trước những thành tựu thực tế sinh động; “Ngụy thuyết hội tụ” cho rằng mô hình của Việt Nam là “phi thực tiễn”, là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, nhưng thực tế phát triển của Việt Nam đã chứng minh điều ngược lại, đây là một mô hình năng động, tự chủ và đầy sức sống. Không những thế, các thế lực thù địch dùng giả định “định mệnh” rằng mọi quốc gia phải đi theo con đường tư bản kiểu phương Tây mới có thể thành công. Tuy nhiên, Việt Nam đã chứng minh rằng một quốc gia có thể phát triển mạnh mẽ bằng cách vận dụng quy luật thị trường nhưng vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững bản sắc và độc lập dân tộc mà không cần phải “hòa tan” vào quỹ đạo tư bản. Những con số “biết nói” sau 40 năm đổi mới không chỉ là báo cáo lý thuyết, mà là minh chứng sống động cho sự thay đổi diện mạo của cả dân tộc, là bằng chứng đanh thép bác bỏ các luận điệu xuyên tạc; từ một quốc gia nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới (1975 - 1985) với thu nhập chỉ khoảng 125 đến 200 USD/năm10, đến giai đoạn 2016 - 2025, Việt Nam đã bứt phá mạnh mẽ, với quy mô nền kinh tế vượt mốc trên 510 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người trên 5.000 USD11, chúng ta đã ghi nhận mức tăng trưởng thu nhập gấp ít nhất 25 lần tính theo giá trị hiện hành; Việt Nam không chỉ thoát nghèo mà đã khẳng định vị thế là một quốc gia thu nhập trung bình có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện; quan hệ đối ngoại tiếp tục mở rộng với “195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghệ phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20)”12; đặc biệt, Việt Nam “có quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 FTA với trên 60 quốc gia, đối tác lớn trên toàn cầu”13... Năng lực về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng và an ninh được củng cố và phát triển toàn diện, góp phần vào việc duy trì hòa bình, ổn định khu vực và thế giới, khẳng định hình ảnh một Việt Nam đổi mới, năng động và có trách nhiệm trên trường quốc tế. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới chính là lời khẳng định đanh thép về tính đúng đắn, khoa học của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là luận cứ sắc bén nhất để củng cố niềm tin của nhân dân và đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

3. Kiên định bản lĩnh chính trị và hoàn thiện thể chế - “lá chắn” vững chắc trước các luồng tư tưởng độc hại

“Ngụy thuyết hội tụ” thực chất là một thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lợi dụng vỏ bọc học thuật và tính cởi mở để che đậy mưu đồ xuyên tạc, tiến tới phủ nhận mô hình xã hội chủ nghĩa và làm suy giảm quyền tự chủ của dân tộc. Trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới, khi yêu cầu phát triển bao trùm, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra ngày càng cao việc bảo vệ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ tư tưởng - lý luận, mà là yêu cầu khách quan gắn liền với bảo vệ nền tảng chính trị, giữ vững định hướng phát triển và củng cố niềm tin xã hội. Cần nhận thức rõ, bảo vệ mô hình không đồng nghĩa với bảo thủ hay hoãn cải cách; trái lại, đó là quá trình chủ động, thường xuyên hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và từng bước khẳng định bằng thực tiễn những giá trị ưu việt của mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường. Trên cơ sở đó, trong thời gian tới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, tăng cường “sức đề kháng” xã hội và chủ động phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các thông tin xấu độc do “Ngụy thuyết hội tụ” lan truyền.

Thứ nhất, kiên định và nâng tầm nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, đòi hỏi sự kiên định tuyệt đối về bản lĩnh chính trị và sự nhạy bén về lý luận. Đây là vấn đề nguyên tắc, đòi hỏi bản lĩnh chính trị vững vàng để không tạo “khoảng trống tư tưởng” cho “Ngụy thuyết hội tụ” xâm nhập. Cần thực hiện các nội dung trọng tâm sau: Khẳng định tính nhất quán tuyệt đối kiên định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ, theo đúng tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Văn kiện các kỳ Đại hội XIII, XIV của Đảng. Phát triển lý luận hiện đại, như đẩy mạnh tổng kết thực tiễn gắn với các xu thế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, chuyển đổi năng lượng bền vững; làm rõ các đặc trưng cốt lõi: mục tiêu vì con người, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. 
Thứ hai, coi hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên; bởi thể chế mạnh chính là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc; các nội dung cốt lõi bao gồm: Vận hành hiện đại và hội nhập, triển khai quyết liệt Nghị quyết Đại hội XIII, XIV và các Nghị quyết Trung ương về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới. Xác lập vai trò các thành phần kinh tế, cụ thể hóa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực chiến lược; đồng thời thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, bền vững theo đúng định hướng. Đồng bộ các loại thị trường: Tập trung hoàn thiện thị trường vốn, lao động, đất đai và khoa học - công nghệ; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nâng cao năng lực quản trị, tăng cường kỷ cương thị trường và hiệu lực quản lý của Nhà nước; khẳng định vai trò Nhà nước xã hội chủ nghĩa không đứng ngoài mà giữ vị thế kiến tạo và định hướng nền kinh tế. 
Thứ ba, bảo đảm phát triển kinh tế gắn chặt với tiến bộ, công bằng xã hội và an sinh xã hội; đây là ranh giới bản chất phân biệt với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Cần thực hiện nhất quán việc phát triển nhanh đi đôi với bền vững, thực hiện công bằng ngay trong từng bước đi và chính sách theo tinh thần Đại hội XIV. Trọng tâm là: Triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia và cải cách chính sách an sinh, bảo hiểm theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; điều tiết thu nhập, kiểm soát phân hóa giàu nghèo và gắn phát triển kinh tế với xây dựng văn hóa, con người Việt Nam.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trụ cột bảo đảm nền kinh tế vận hành đúng hướng; nhiệm vụ trọng tâm gồm: Thực hiện đồng bộ Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; đẩy mạnh cải cách hành chính, kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực nhạy cảm (đất đai, đầu tư công) gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng (Nghị quyết Trung ương 4, Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII), qua đó, khẳng định vai trò dẫn dắt, kiến tạo của Nhà nước.
Thứ năm, bảo vệ mô hình kinh tế là nhiệm vụ thường xuyên của mặt trận tư tưởng nhằm vô hiệu hóa sự thẩm thấu của “Ngụy thuyết hội tụ”. Cần chủ động chiếm lĩnh không gian mạng bằng thông tin chính thống, không né tránh các vấn đề nhạy cảm; xây dựng đội ngũ chuyên gia kinh tế - chính trị bản lĩnh, đủ sức phản bác trực diện các quan điểm sai trái; lấy thành tựu thực tiễn về phát triển bền vững làm luận cứ thuyết phục nhất để bác bỏ mọi sự xuyên tạc.


 1. Từ điển Bách khoa toàn thư Triết học, Nxb. Bách thư toàn khoa Liên Xô, Mát-xcơ-va, 1983, tr. 271.
 2. A.M. Ru-mi-an-txép: Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1986, tr. 176.
 3. M.I. Vôn-cốp: Từ điển kinh tế chính trị học, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1987, tr. 162.  
 4. Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính, Trần Quang Thái: Giáo trình Triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2019, tr. 356. 
5 . A.M. Ru-mi-an-txép: Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1986, tr.176, tr. 175. 
6,8,9. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 128, 114, 56.
7. Nguyễn Phú Trọng: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Quan niệm và giải pháp phát triển”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 22/01/2007, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/2081/kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia---quan-niem-va-giai-phap-phat-trien.aspx?utm_source=chatgpt.com. 
10 ,11,12,13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 15, 18, 143-144, 112.
 

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin