1. Cơ sở lý luận và khung tiêu chí đánh giá mô hình tổ chức thực thi chiến lược, chính sách phát triển quốc gia và địa phương
Đánh giá mô hình tổ chức thực thi chiến lược, chính sách phát triển không chỉ căn cứ vào mức độ hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, mà cần làm rõ cách thức mục tiêu chính sách được chuyển hóa thành hành động, kết quả thực chất và năng lực phát triển nội sinh của hệ thống. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), các tiêu chí đánh giá cần được tiếp cận như những “lăng kính” phân tích đa chiều, giúp nhận diện các phương diện khác nhau của một can thiệp chính sách. Việc lựa chọn và vận dụng tiêu chí phải phù hợp với mục đích, bối cảnh, thời điểm và khả năng cưng cấp bằng chứng thực chứng. Do đó, tiêu chí đánh giá không phải là một phương pháp cố định hay một “bảng kiểm” (checklist) mang tính thủ tục. Đối với mô hình tổ chức thực thi chiến lược, chính sách phát triển, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết, bởi kết quả thực thi không chỉ phụ thuộc vào chất lượng xây dựng chính sách, mà còn phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức, phân định thẩm quyền và trách nhiệm, cơ chế phối hợp liên thông, mức độ bảo đảm nguồn lực, năng lực của chủ thể thực thi và khả năng phản ứng, điều chỉnh của bộ máy trước những biến động của môi trường phát triển. Vì vậy, đánh giá mô hình tổ chức thực thi cần xem xét mức độ tuân thủ các quy định để giải đáp sáu câu hỏi quản trị cốt lõi: Mô hình có phù hợp với mục tiêu, bối cảnh và điều kiện thực thi không? Mô hình có bảo đảm hiệu lực trong tổ chức thực hiện không? Mô hình có tạo ra hiệu quả thực chất với nguồn lực sử dụng không? Mô hình có khả năng thích ứng trước những biến động thực tiễn không? Kết quả và năng lực thực thi của mô hình có bảo đảm tính bền vững không? Mô hình có khả năng tạo ra những thay đổi mang tính đột phá hay không?
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc lý luận quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản trị nhà nước, bài viết đề xuất khung đánh giá gồm 6 tiêu chí: (1) Tính phù hợp; (2) Hiệu lực; (3) Hiệu quả; (4) Khả năng thích ứng; (5) Tính bền vững; (6) Khả năng tạo đột phá. Sáu tiêu chí trên kế thừa cách tiếp cận đánh giá đa tiêu chí của OECD, đồng thời được điều chỉnh theo đặc điểm của mô hình tổ chức thực thi chiến lược, chính sách phát triển. Trong đó, "khả năng thích ứng" và "khả năng tạo đột phá" được đề xuất như những chiều cạnh phản ánh năng lực động của hệ thống quản trị hiện đại.
Xét về mối quan hệ nội tại, 6 tiêu chí có thể được cấu trúc thành 3 nhóm có quan hệ chặt chẽ với nhau: Nhóm "tính phù hợp - hiệu lực" phản ánh những điều kiện bảo đảm mô hình vận hành đúng mục tiêu và thẩm quyền; nhóm "hiệu quả - tính bền vững" phản ánh khả năng tạo lập và duy trì giá trị; nhóm "khả năng thích ứng - tạo đột phá" thể hiện năng lực đổi mới và phát triển của mô hình trước những yêu cầu mới. Do đó, việc kiểm chứng thực tiễn không nhằm khẳng định hệ 6 tiêu chí như một hệ chuẩn bất biến, mà hướng tới đánh giá mức độ phù hợp của từng tiêu chí; qua đó nhận diện những giới hạn cần khắc phục và cơ sở để tiếp tục hoàn thiện phương pháp đo lường, cách thức vận dụng. Đây là nền tảng lý luận và công cụ phân tích để đối chiếu, kiểm chứng qua các trường hợp tổ chức thực thi chuyển đổi số ở cấp quốc gia và địa phương.
2. Kiểm chứng khung tiêu chí qua mô hình tổ chức thực thi chiến lược chuyển đổi số ở cấp quốc gia và tỉnh Quảng Ninh
Về tính phù hợp
"Tính phù hợp" của mô hình tổ chức thực thi được đánh giá trên cơ sở mức độ tương thích giữa thiết kế mô hình với mục tiêu chiến lược, thể chế chính trị - pháp lý, nguồn lực triển khai, năng lực của chủ thể thực thi và bối cảnh phát triển. Đối với những chiến lược, chính sách có tầm nhìn dài hạn, tính phù hợp không phải là thuộc tính cố định tại thời điểm xây dựng, mà là một trạng thái động đòi hỏi phải được duy trì và tự điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện. Tiêu chí này nhằm trả lời câu hỏi: Mô hình có phù hợp với mục tiêu, điều điện thực thi và có khả năng điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi của thực tiễn hay không?
Ở cấp độ quốc gia, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ) được xây dựng dựa trên ba trụ cột: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, cùng các nền tảng về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nền tảng số, nhân lực và an toàn, an ninh mạng. Từ Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến đến Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045, mục tiêu và phương thức tổ chức thực hiện tiếp tục được điều chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Chiến lược giai đoạn mới đặt chuyển đổi số được trong tầm nhìn chiến lược dài hạn, gắn kết kết quả đánh giá thực thi với việc điều chỉnh nhiệm vụ, hoàn thiện chính sách và xác định lại thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực.
Ở cấp độ địa phương, tính phù hợp trong mô hình của tỉnh Quảng Ninh thể hiện ở sự kế thừa và phát triển. Tỉnh đã nâng cấp nền tảng chính quyền điện tử được hình thành trong các giai đoạn trước để triển khai mô hình chuyển đổi số toàn diện. Tính đến tháng 4/2026, tỉnh đã hoàn thành và cơ bản hoàn thành 17/20 mục tiêu của Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/02/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đạt 85%; toàn bộ 2.267 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết trên địa bàn được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến1.
Tuy nhiên, quá trình thực thi trong thực tiễn cũng bộc lộ những hạn chế về khả năng thích ứng của mô hình khi bối cảnh thay đổi. Điển hình là việc chuyển đổi sang mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp đã làm thay đổi căn bản cơ cấu phân công nhiệm vụ, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới về chuẩn hóa dữ liệu, hạ tầng kết nối, đặc biệt là năng lực số của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở. Thực tế này cho thấy, một mô hình được đánh giá là phù hợp tại thời điểm thiết kế chưa thể bảo đảm duy trì tính phù hợp trong suốt quá trình thực thi nếu thiếu cơ chế thích ứng linh hoạt.
Thực tiễn vận hành mô hình tổ chức thực thi Chiến lược chuyển đổi số ở cấp độ quốc gia và tỉnh Quảng Ninh cho thấy tiêu chí "tính phù hợp" được củng cố rõ nét, song đòi hỏi phải tiếp cận tiêu chí này theo hướng "động". Theo đó, mô hình tổ chức thực thi chiến lược, chính sách phát triển phải thường xuyên duy trì sự tương thích ứng với mục tiêu, thể chế, nguồn lực và bối cảnh phát triển. Kết quả này khẳng định tính ứng dụng quan trọng của tiêu chí đối với việc đánh giá chất lượng mô hình. Cách tiếp cận này giúp đánh giá về chất lượng thiết kế ban đầu, tính khả thi trong quá trình triển khai và khả năng điều chỉnh của mô hình trước những thay đổi của môi trường thể chế, kinh tế và xã hội.
Về hiệu lực
"Hiệu lực" phản ánh năng lực chuyển hóa mục tiêu, quyết định chính trị, quản lý thành các nhiệm vụ cụ thể, được tổ chức thực hiện trên cơ sở phân công rõ trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát tiến độ và bảo đảm kỷ luật thực thi. Tiêu chí này nhằm trả lời câu hỏi: Mô hình có khả năng tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách trong thực tiễn và bảo đảm các nhiệm vụ được thực hiện đúng thẩm quyền, tiến độ hay không?
Ở cấp độ quốc gia, cơ chế thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được thiết lập theo mô hình chỉ đạo, điều phối tập trung gắn với theo dõi, giám sát nhiệm vụ trên môi trường số. Tính đến ngày 29/6/2026, toàn hệ thống đã ghi nhận 1.937 nhiệm vụ được giao, bao gồm 468 nhiệm vụ thường xuyên và 1.469 nhiệm vụ có thời hạn. Trong đó, đã hoàn thành 1.245 nhiệm vụ có thời hạn (đạt 84,8%), 168 nhiệm vụ đang thực hiện trong hạn (chiếm 11,4%) và còn 56 nhiệm vụ quá hạn (chiếm 3,8%)2. Kết quả này phản ánh năng lực huy động, phân công và theo dõi việc thực hiện nhiệm vụ trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, số nhiệm vụ chưa hoàn thành đúng hạn và sự khác biệt về năng lực triển khai giữa các cơ quan, đơn vị cho thấy hiệu lực thực thi vẫn cần tiếp tục được nâng cao.
Ở cấp độ địa phương, tỉnh Quảng Ninh đã cụ thể hóa cơ chế tổ chức thực hiện từ cấp tỉnh đến các sở, ban, ngành và địa phương, gắn liền với hệ thống chỉ số theo dõi, đánh giá định lượng. Năm 2024, chỉ số chuyển đổi số (DTI) của các sở, ngành và địa phương trên địa bàn tỉnh ghi nhận mức tăng trưởng từ 9,1% đến 21% so với năm trước; trong đó, Trung tâm Phục vụ hành chính công của tỉnh dẫn đầu khối sở, ban, ngành khi đạt 888,79 điểm DTI3.
Qua đối chiếu thực tiễn vận hành mô hình tổ chức thực thi Chiến lược chuyển đổi số ở cấp quốc gia và tỉnh Quảng Ninh cho thấy, tiêu chí "hiệu lực" được thể hiện trên các phương diện chủ yếu như phân công trách nhiệm, tổ chức phối hợp, kiểm soát tiến độ và duy trì kỷ luật thực thi. Tiêu chí này giúp phân biệt mô hình có khả năng chuyển hóa mục tiêu chính sách thành nhiệm vụ và kết quả cụ thể với mô hình chỉ dừng lại ở việc xác lập chủ trương, cam kết trên văn bản.
Về hiệu quả
"Hiệu quả" phản ánh mối quan hệ giữa nguồn lực được sử dụng với kết quả và giá trị mà mô hình tổ chức thực thi tạo ra. Việc đánh giá theo tiêu chí này cần dựa vào 4 cấp độ: đầu vào, đầu ra, kết quả, tác động. Sự phân biệt này giúp tránh tình trạng sử dụng số lượng nhiệm vụ hoàn thành hoặc mức độ mở rộng hạ tầng để thay thế cho việc đo lường giá trị kinh tế - xã hội thực chất.
Ở cấp độ quốc gia, tính đến tháng 6/2026, mạng 5G đã phủ sóng khoảng 91,9% dân số; hơn 71 triệu tài khoản định danh điện tử (VNeID) được kích hoạt; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại địa phương đạt 93,54%4, ước tính quá trình chuyển đổi số đã góp phần tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm cho người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.
Ở cấp độ địa phương, năm 2024, tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính đạt 95,97% (tăng 0,69 điểm phần trăm); Chỉ số hiệu quả quản trị cấp huyện đạt 92,29% (tăng 1,29 điểm)5. Đáng chú ý, tính đến tháng 4/2026, toàn tỉnh có 2.267 thủ tục hành chính được triển khai ở 2 cấp, trong đó cấp tỉnh 1.860 thủ tục, cấp xã 407 thủ tục; tỉnh đã thực hiện cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục đối với 1.323 thủ tục hành chính (đạt 58,35%), tương ứng giảm 10.287 ngày làm việc (đạt 37,8% so với quy định ban đầu)6. Những kết quả này cho thấy mô hình thực thi chiến lược, chính sách phát triển đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, cải thiện chất lượng phục vụ và tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở góc độ tác động kinh tế vĩ mô, tính đến năm 2025, kinh tế số chiếm khoảng 14,02% GDP7, trong khi mục tiêu tối thiểu đến năm 2030 là 30%8; tỷ lệ giải ngân vốn dành cho chuyển đổi số còn thấp. Một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ vẫn trong giai đoạn thiết kế, chuẩn bị đầu tư hoặc thử nghiệm; số sản phẩm công nghệ được thương mại hóa và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế còn hạn chế. Thực tế này cho thấy, các chỉ số về số hóa, độ phủ hạ tầng hay mức độ hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu dừng lại ở mức độ ghi nhận kết quả đầu ra. Việc đánh giá hiệu quả thực chất đòi hỏi phải đo lường sâu hơn ở cấp độ kết quả và tác động, như: giảm chi phí vận hành, năng suất lao động xã hội tăng trưởng, mức độ thụ hưởng của người dân và doanh nghiệp, sự đóng góp của mô hình tổ chức thực thi chiến lược, chính sách vào tăng trưởng phát triển bền vững.
Về khả năng thích ứng
"Khả năng thích ứng" phản ánh năng lực của mô hình tổ chức thực thi trong việc chủ động nhận diện những biến động của môi trường, tiếp nhận thông tin phản hồi, học hỏi và điều chỉnh cấu trúc, phương thức vận hành nhằm duy trì và hoàn thành các mục tiêu chiến lược trong bối cảnh mới. Tiêu chí nhằm trả lời câu hỏi: Mô hình có khả năng dự báo, kịp thời điều chỉnh và duy trì hiệu quả hoạt động trước những thay đổi từ thực tiễn hay không?
Ở cấp độ quốc gia, định hướng chuyển đổi số từng bước được điều chỉnh và mở rộng, từ Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ) đến Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045. Qua đó cho thấy, chuyển đổi số ngày càng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị dữ liệu và hiện đại hóa quản trị quốc gia. Sự điều chỉnh về định hướng và phạm vi chính sách cho thấy yêu cầu cập nhật mô hình thực thi trước những thay đổi của bối cảnh phát triển. Tuy nhiên, để khẳng định đầy đủ khả năng thích ứng, cần làm rõ những điều chỉnh cụ thể về cơ cấu tổ chức, cơ chế phối hợp, nguồn lực và phương thức vận hành được thực hiện trên cơ sở kết quả đánh giá và phản hồi từ thực tiễn.
Ở cấp độ địa phương, mô hình của tỉnh Quảng Ninh chuyển dịch từ mô hình chính quyền điện tử và thành phố thông minh sang chuyển đổi số toàn diện; sau đó tiếp tục được điều chỉnh để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Điểm sáng trong năng lực thích ứng của mô hình là việc thiết lập và vận hành các cơ chế đo lường, phản hồi đa chiều. Dữ liệu từ các bộ chỉ số định kỳ như DTI (chuyển đổi số), SIPAS (sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính), DGI (hiệu quả quản trị cấp huyện) được sử dụng làm căn cứ nhận diện điểm nghẽn và cải thiện chất lượng quản trị. Năm 2024, Quảng Ninh ghi nhận chỉ số SIPAS đạt 95,97%, DGI đạt 92,29% và mức độ chuyển đổi số của các đơn vị tăng trưởng từ 9,1% đến 21%9. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy khả năng thích ứng không thể chỉ dừng ở việc xử lý vấn đề sau khi phát sinh. Việc chuyển sang mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra những yêu cầu mới về tái cấu trúc nhân lực, chuẩn hóa dữ liệu, tối ưu hóa quy trình và nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, đòi hỏi mô hình phải chủ động và duy trì năng lực thích ứng.
Có thể thấy, "khả năng thích ứng" là tiêu chí cần thiết để đánh giá năng lực của mô hình tổ chức thực thi. Tiêu chí này giúp nhận diện chính xác mô hình có chất lượng vận hành linh hoạt, có năng lực tự học hỏi và sức chống chịu bền bỉ trước bối cảnh có nhiều biến động.
Về tính bền vững
"Tính bền vững" của mô hình tổ chức thực thi không chỉ thể hiện ở khả năng duy trì kết quả đã đạt được, mà còn ở khả năng duy trì, tái tạo năng lực thực thi thông qua quá trình thể chế hóa đồng bộ các nguồn lực: thể chế pháp lý, tài chính, nhân lực, dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật và năng lực quản trị tổ chức. Tiêu chí này nhằm trả lời câu hỏi: Mô hình có khả năng tự duy trì, củng cố và tái tạo năng lực thực thi lâu dài mà không bị đứt gãy hay phụ thuộc quá mức vào các nguồn lực ngắn hạn hay không?
Ở cấp độ quốc gia, tiến trình chuyển đổi số được thể chế hóa xuyên suốt từ Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ đến Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Việc đưa chuyển đổi số thành định hướng phát triển mang tính quy phạm và dài hạn cho thấy mức độ bền vững của chiến lược.
Ở cấp độ địa phương, tỉnh Quảng Ninh duy trì nhất quán định hướng phát triển từ chính quyền điện tử đến chuyển đổi số toàn diện, thể hiện qua Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 05/02/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Việc Quảng Ninh hoàn thành và cơ bản hoàn thành 17/20 mục tiêu của Nghị quyết 09-NQ/TU là minh chứng cho thấy khả năng duy trì và củng cố kết quả thực thi trong dài hạn.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy sự bền vững của kết quả không đồng nhất với tính bền vững của năng lực hệ thống. Khi tổ chức bộ máy thay đổi, như trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, những thiếu hụt về năng lực số và nhân lực chuyên trách ở cấp cơ sở có thể bộc lộ rõ hơn.
Có thể thấy, tiêu chí "bền vững" mang giá trị lý luận và thực tiễn cao nhưng khó đo lường hơn so với tiêu chí "hiệu lực" và "hiệu quả". Việc kiểm chứng tiêu chí này đòi hỏi phải chuyển từ câu hỏi "kết quả tạo ra có tiếp tục tồn tại không?" sang "năng lực tạo ra và duy trì kết quả đó có được thể chế hóa và tự tái tạo hay không?". Tiêu chí này giúp phân biệt mô hình có nền tảng thực thi dài hạn với mô hình chủ yếu tạo ra kết quả ngắn hạn và dễ suy giảm khi nguồn lực, tổ chức bộ máy hoặc nhân sự lãnh đạo thay đổi.
Về khả năng tạo đột phá
"Khả năng tạo đột phá" là tiêu chí đo lường ở cấp độ cao hơn so với "hiệu lực" và "hiệu quả". Nếu như mô hình hiệu quả giúp tạo ra kết quả tốt hơn trong phạm vi khuôn khổ, phương thức hiện hành, thì mô hình tạo đột phá phải thể hiện năng lực tháo gỡ điểm nghẽn cốt lõi, thay đổi căn bản phương thức thực thi, hình thành các năng lực quản trị mới và làm thay đổi tích cực quỹ đạo phát triển. Tiêu chí này nhằm trả lời câu hỏi: Mô hình có khả năng thay đổi phương thức vận hành truyền thống, giải quyết các điểm nghẽn và tạo ra năng lực, giá trị phát triển mới mang tính nhảy vọt hay không?
Ở cấp độ quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược hàng đầu, gắn với đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy số lượng công nghệ cốt lõi được làm chủ, sản phẩm thương mại hóa tạo tác động lan tỏa kinh tế còn hạn chế; nhiều nhiệm vụ trọng tâm vẫn dừng ở giai đoạn thiết kế, chuẩn bị đầu tư hoặc thử nghiệm. Điều này cho thấy, mục tiêu chính trị mang tính đột phá không đồng nghĩa với việc mô hình đã tạo ra kết quả đột phá trong thực tiễn.
Ở cấp độ địa phương, kinh nghiệm của Quảng Ninh được thể hiện rõ nét qua hai trường hợp:
Thứ nhất, tái cấu trúc phương thức cung cấp dịch vụ công: Quảng Ninh triển khai giải quyết 2.267 thủ tục hành chính trực tuyến, không phụ thuộc vào địa giới hành chính; 100% thủ tục được cấu hình quy trình điện tử. Tỉnh đã thực hiện cắt giảm thời gian giải quyết đối với 1.323 thủ tục, tiết kiệm 10.287 ngày làm việc (giảm 37,8%). Đây không phải là việc "số hóa" một quy trình thủ công sẵn có, mà là một chuỗi logic đột phá: Giải quyết điểm nghẽn (thủ tục phân tán, phụ thuộc vào địa giới hành chính) → Thay đổi mô hình (hệ thống dữ liệu liên thông) → Thay đổi phương thức (xử lý trực tuyến, phân cấp sâu) → Kết quả đột phá (cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục).
Thứ hai, tổ chức dịch vụ công theo trải nghiệm người dùng: Việc xác thực qua VNeID, kết nối Cổng Dịch vụ công quốc gia và vận hành trên một hệ thống thống nhất đã tạo điều kiện để người dân tương tác với cơ quan nhà nước trên môi trường số. Đến giữa tháng 5/2026, Quảng Ninh tiếp nhận hơn 342.000 hồ sơ, giải quyết trên 327.000 hồ sơ với tỷ lệ đúng và trước hạn đạt 98,4%; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, số hóa kết quả đạt trên 96% và 100% phí, lệ phí được thanh toán không dùng tiền mặt.
Từ thực tiễn kiểm chứng, "khả năng tạo đột phá" có thể đánh giá theo ba cấp độ: Cấp độ 1 - Đột phá về phương thức thực thi: Thay đổi quy trình, đẩy mạnh phân cấp, tái lập cơ chế phối hợp và đổi mới cách thức cung cấp dịch vụ công. Cấp độ 2 - Đột phá về năng lực hệ thống: Hình thành các năng lực quản trị mới dựa trên dữ liệu, hạ tầng liên thông và ra quyết định trên môi trường số. Cấp độ 3 - Đột phá về kết quả phát triển: Chuyển hóa năng lực thực thi mới thành sự tăng trưởng rõ rệt về năng suất lao động xã hội, chất lượng quản trị công, năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Đối chiếu với ba cấp độ trên, thực tiễn Quảng Ninh đã cung cấp bằng chứng rõ nét về đổi mới phương thức thực thi ở cấp độ thứ nhất. Một số điều kiện của cấp độ thứ hai đang được hình thành thông qua hạ tầng số, dữ liệu liên thông và quy trình điện tử. Tuy nhiên, chưa có chuỗi dữ liệu đủ dài và hệ thống chỉ báo vĩ mô cần thiết để khẳng định mô hình đã tạo ra đột phá ở cấp độ thứ ba. Sự phân định này giúp làm rõ ranh giới giữa kết quả đầu ra, hiệu quả hoạt động và sự chuyển biến mang tính đột phá.
Qua kiểm chứng thực tiễn vận hành mô hình tổ chức thực thi Chiến lược chuyển đổi số ở cấp quốc gia và tỉnh Quảng Ninh, tiêu chí "khả năng tạo đột phá" cần được đo lường bằng chuỗi bằng chứng gồm: điểm nghẽn cốt lõi, thay đổi mô hình, phương thức vận hành mới, năng lực hệ thống mới, kết quả phát triển vượt trội, lan tỏa và thể chế hóa. Cách tiếp cận này giúp tránh việc đánh đồng mục tiêu hoặc tuyên bố mang tính đột phá với kết quả đột phá trong thực tiễn; đồng thời phân biệt đổi mới có khả năng làm thay đổi trạng thái phát triển với những cải tiến tiệm tiến trong khuôn khổ hiện hành.
3. Giải pháp phát hoàn thiện và vận dụng hệ tiêu chí đánh giá mô hình tổ chức thực thi chiến lược, chính sách phát triển quốc gia và địa phương
Thứ nhất, chuyển từ đánh giá tiêu chí riêng lẻ sang đánh giá theo cấu trúc hệ thống.
Sáu tiêu chí đánh giá không nên được sử dụng độc lập như những "ô điểm" riêng lẻ hay các chỉ số cộng dồn cơ học, mà cần được tổ chức lại theo cấu trúc hệ thống 3 tầng có mối quan hệ tương tác hữu cơ: Tầng 1 - Năng lực vận hành cơ bản: Tính "phù hợp" - "hiệu lực" (đánh giá khả năng mô hình đi vào thực tiễn và tính kỷ cương trong tổ chức thực thi). Tầng 2 - Năng lực tạo dựng và duy trì giá trị: Tính "hiệu quả" - "bền vững" (đánh giá khả năng tối ưu hóa nguồn lực và duy trì năng lực thực thi lâu dài). Tầng 3 - Năng lực đổi mới và phát triển: Khẳng năng "thích ứng" - "tạo đột phá" (đánh giá khả năng phản hồi, tự điều chỉnh và tạo ra bước chuyển về chất của mô hình). Cách tiếp cận cấu trúc hệ thống này giúp các nhà quản lý nhận diện mức độ thực chất của mô hình, tránh được các điểm mù quản trị, như: trường hợp mô hình có hiệu lực cao (hoàn thành đúng tiến độ nhiều nhiệm vụ hành chính) nhưng hiệu quả thấp (không tạo ra giá trị kinh tế - xã hội tương ứng), hoặc mô hình tạo được kết quả ngắn hạn nhưng lại thiếu tính bền vững…
Thứ hai, chuyển từ đánh giá trạng thái tĩnh sang đánh giá năng lực vận hành động.
Đánh giá mô hình tổ chức thực thi không chỉ là hoạt động mang tính thời điểm để xếp hạng hay nghiệm thu, mà phải hình thành một vòng lặp phản hồi khép kín: "Mục tiêu" → "Tổ chức thực thi" → "Kết quả/Tác động" → "Đo lường" → "Phản hồi" → "Điều chỉnh mô hình" → "Chu trình thực thi mới". Theo chu trình này, dữ liệu thu thập từ đánh giá không chỉ dừng lại ở chức năng báo cáo thành tích hay xác định tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ, mà còn phải trở thành nguồn thông tin đầu vào mang tính quyết định cho quá trình hoạch định lại chính sách, tái cấu trúc bộ máy và phân bổ lại nguồn lực.
Thứ ba, chuẩn hóa hệ thống chỉ báo theo chuỗi giá trị: đầu vào - đầu ra - kết quả - tác động.
Hệ thống chỉ báo đánh giá cần được chuẩn hóa đồng bộ theo từng tiêu chí dựa trên chuỗi giá trị: Phù hợp: Đo lường mức độ tương thích giữa mô hình với mục tiêu chiến lược, thể chế pháp lý, nhu cầu phát triển của xã hội, điều kiện bối cảnh và năng lực thực thi thực tế. Hiệu lực: Đo lường tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ, mức độ phân định rõ trách nhiệm, tính hiệu quả của cơ chế phối hợp, tiến độ, tính tuân thủ pháp lý và năng lực giải quyết các điểm nghẽn hành chính. Hiệu quả: Đo lường tỷ lệ tối ưu hóa chi phí/thời gian, giá trị thực tế của kết quả đầu ra (output), kết quả chuyển hóa (outcome) và lợi ích thực chất mang lại cho người dân, doanh nghiệp. Thích ứng: Đo lường năng lực chủ động phát hiện bất cập, cơ chế tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn, mức độ linh hoạt điều chỉnh chính sách và khả năng học hỏi của hệ thống. Bền vững: Đo lường mức độ thể chế hóa, khả năng bảo đảm nguồn lực tài chính, chất lượng nhân lực, độ tin cậy của hạ tầng - dữ liệu, cùng khả năng duy trì và nhân rộng mô hình. Tạo đột phá: Đo lường năng lực tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, mức độ chuyển đổi phương thức thực thi, việc hình thành các năng lực quản trị mới, các chuyển biến về chất và khả năng lan tỏa giá trị phát triển.
Trong quá trình vận dụng, mọi tiêu chí không nhất thiết phải khiên cưỡng lượng hóa bằng một chỉ số đơn lẻ, mà cần phối hợp hài hòa giữa dữ liệu định lượng, bằng chứng định tính, phương pháp so sánh đối chiếu (trước - sau) và phân tích sâu tiến trình vận hành.
Thứ tư, cụ thể hóa tiêu chí "tạo đột phá" thành chỉ báo có khả năng kiểm chứng thực chứng.
Yêu cầu "tạo đột phá" không thể chỉ đánh giá bằng việc chính sách hay đề án có sử dụng các thuật ngữ, tuyên bố đột phá hay không. Tiêu chí này chỉ thực sự có giá trị khi được kiểm chứng qua chuỗi logic thực chứng: "Điểm nghẽn cốt lõi", "Thay đổi mô hình", "Phương thức vận hành mới", "Năng lực hệ thống mới", "Kết quả phát triển khác biệt", "Lan tỏa và thể chế hóa". Đồng thời, quá trình đánh giá cần phân định rõ 3 cấp độ đột phá: Cấp độ 1: Đột phá về phương thức thực thi (tái cấu trúc quy trình, đẩy mạnh phân cấp, ứng dụng công nghệ). Cấp độ 2: Đột phá về năng lực hệ thống (tạo lập hạ tầng dữ liệu dùng chung, cơ chế điều phối liên thông, quản trị dựa trên dữ liệu). Cấp độ 3: Đột phá về kết quả phát triển (thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động xã hội, cải thiện năng lực cạnh tranh).
Thứ năm, thiết lập cơ chế đánh giá hai chiều tương tác: quốc gia - địa phương.
Đối với các chiến lược, chính sách phát triển có quy mô toàn quốc, công tác đánh giá mô hình phải được triển khai đồng bộ trên cả hai trục không gian: Trục dọc (phân cấp hành chính): Trung ương → Bộ, ngành → Địa phương (tỉnh/thành) → Cấp cơ sở → Người dân và Doanh nghiệp. Trục ngang (tương tác chủ thể): giữa các bộ, ngành, địa phương, khu vực công và khu vực tư với các chủ thể thụ hưởng chính sách. Cơ chế này bảo đảm không chỉ đánh giá theo chiều từ trên xuống - xem xét mục tiêu có được quán triệt và thực thi đúng hay không, mà còn mở ra chiều từ dưới lên - thu thập thông tin phản hồi từ cơ sở để kịp thời điều chỉnh mô hình ở cấp hoạch định). Đây là tiền đề cốt lõi để xây dựng một mô hình tổ chức thực thi có năng lực học hỏi hai chiều, thay vì một hệ thống truyền đạt mệnh lệnh một chiều xơ cứng.
1. Nguyễn Hoa: "Chuyển đổi số - đột phá phát triển trong kỷ nguyên mới", Cổng thông tin điện tử chuyển đổi số thành phố Quảng Ninh, ngày 15/6/2026, https://quangninh.gov.vn/chuyen-de/chuyendoiso/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=166309.
2, 4. Thu Phương: "Xác định rõ 6 định hướng lớn trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW", Báo điện tử VietnamPlus, Thông tấn xã Việt Nam, ngày 01/7/2026, https://www.vietnamplus.vn/xac-dinh-ro-6-dinh-huong-lon-trong-trien-khai-nghi-quyet-so-57-nqtw-post1121616.vnp.
3, 5. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Báo cáo kết quả các chỉ số PAR INDEX, SIPAS, DDCI, DGI, DTI năm 2024 của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, 2025.
6. Mạnh Trường: "Liên thông giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp", Báo Quảng Ninh điện tử, ngày 04/4/2026, https://baoquangninh.vn/lien-thong-giai-quyet-thu-tuc-hanh-chinh-cho-nguoi-dan-doanh-nghiep-post3402293.html.
7. "Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021 - 2025", Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/.
8. Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030.
9. "Công bố Chỉ số PAR INDEX, SIPAS, DDCI, DGI, DTI năm 2024", Cổng Thông tin điện tử Sở Tài chính thành phố Quảng Ninh, ngày 17/3/2025, https://quangninh.gov.vn/So/sotaichinh/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=4952.