1. Khái quát về công tác tuyên truyền về chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh
Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc UNEP (United Nations Environment Programme) và Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP), chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hóa sản lượng kinh tế, trong khi giảm thiểu gánh nặng sinh thái, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường thông qua thay đổi căn bản trong phương thức sản xuất và tiêu dùng xã hội, hướng tới ít phát thải, trung hòa carbon, tiết kiệm tài nguyên, nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt hệ sinh thái. Trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với những hệ lụy nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh đã trở thành xu thế phát triển tất yếu, không chỉ về mặt kinh tế, mà còn mang tính chiến lược đối với an ninh môi trường, năng lượng và phát triển bền vững. Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định đây là một nội dung trọng tâm trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Cùng với sự kiên định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bao trùm và xuyên suốt, Việt Nam đang có nhiều nỗ lực chuyển đổi và phát triển xanh như một định hướng ưu tiên và giải pháp quan trọng để phát triển nhanh, bền vững đất nước theo mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Trên hành trình đó, công tác tuyên truyền có vai trò đặc biệt quan trọng, được coi là một trụ cột mềm nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và khơi dậy tinh thần trách nhiệm xã hội của cả hệ thống chính trị và các lực lượng xã hội. Có được nhận thức đúng mới dẫn tới hành động đúng, do vậy, công tác tuyên truyền đã góp phần phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển bền vững, lan tỏa các giá trị “xanh” trong sản xuất, tiêu dùng và lối sống. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, các hoạt động giáo dục, truyền thông, vận động đội ngũ cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân từng bước nhận thức sâu sắc hơn về sự cần thiết của chuyển đổi mô hình phát triển sang hướng xanh, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuyên truyền đóng vai trò cầu nối giữa chính sách với thực tiễn, giữa tầm nhìn chiến lược với hành động cụ thể của toàn xã hội. Chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh được Đảng và Nhà nước xác định là trụ cột trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia. Trong những năm qua, hệ thống chính trị đã có nhiều nỗ lực để cụ thể hóa các định hướng lớn thành chương trình hành động, văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế điều phối thực thi đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng liên quan đến bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Đặc biệt, nội dung chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được tích hợp sâu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, các chương trình mục tiêu quốc gia và các quy hoạch ngành, lĩnh vực. Quốc hội đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2022, 2023, 2024), Luật Quy hoạch, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thuế bảo vệ môi trường... cùng với các chương trình quốc gia về năng lượng tái tạo, đô thị xanh, nông nghiệp thông minh. Những hành lang pháp lý này góp phần kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi cho chuyển đổi xanh. Việt Nam cũng chủ động hội nhập sâu rộng vào các cam kết quốc tế về khí hậu và phát triển bền vững, tiêu biểu là Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, Tuyên bố cam kết tại COP26 (trung hòa carbon vào năm 2050) và các sáng kiến hợp tác khu vực về phát triển bền vững sông Mê Kông, ASEAN xanh... Thực hiện tinh thần chỉ đạo đó, các bộ, ngành và địa phương rất tích cực triển khai và đã đạt được một số kết quả quan trọng, trong đó nổi bật là việc hoàn thiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; xây dựng Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị COP26; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050; Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí metan của ngành giao thông vận tải; Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030; Kế hoạch hành động giảm phát thải khí metan đến năm 2030. Một số bộ, ngành đã và đang xây dựng Kế hoạch hành động của ngành triển khai cam kết của Việt Nam tại COP26 hướng tới mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng “0”. Thực tiễn cho thấy, sau hơn một thập niên triển khai Chiến lược tăng trưởng xanh (2011 - 2020), Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng: lượng phát thải khí nhà kính bình quân đầu người và trên đơn vị GDP giảm; tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo tăng; diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ, tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 42%; các mô hình sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững ngày càng lan tỏa trong cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Đặc biệt, một số ngành, lĩnh vực như năng lượng mặt trời, điện gió, giao thông đô thị xanh, công nghệ môi trường đang nổi lên như động lực phát triển mới. Thời gian qua, công tác tuyên truyền về chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh đã được quan tâm, triển khai tương đối đồng bộ trên nhiều phương diện, từ báo chí, xuất bản, truyền hình, mạng xã hội cho đến hoạt động giáo dục, hội thảo, tập huấn chuyên đề. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là các cơ quan tuyên giáo và dân vận, báo chí - truyền thông và tổ chức chính trị - xã hội, nhận thức và hành động của các tầng lớp nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều mô hình hay về sản xuất xanh, tiêu dùng xanh, sử dụng năng lượng tái tạo, giảm thiểu rác thải nhựa và tăng cường tái chế đã xuất hiện, phản ánh kết quả bước đầu trong việc lan tỏa thông điệp phát triển bền vững từ công tác tuyên truyền đến đời sống xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả công tác tuyên truyền vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân chưa nhận thức đầy đủ về tính tất yếu, tính cấp bách và cơ hội phát triển mà chuyển đổi xanh mang lại. Phương thức tuyên truyền tại một số nơi còn nặng về hình thức, thiếu tính tương tác, chưa thực sự phù hợp với từng nhóm đối tượng và đặc thù từng vùng, miền. Nội dung tuyên truyền đôi khi còn dàn trải, thiếu tính chuyên sâu, chưa gắn kết chặt chẽ với các chính sách cụ thể và thực tiễn. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị chưa đồng bộ, dẫn đến thiếu thống nhất về thông tin và hiệu ứng lan tỏa chưa cao. Các nguồn lực cho hoạt động truyền thông xanh còn hạn chế, nhất là ở cấp cơ sở. Tất cả những điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền trong giai đoạn tới, theo hướng chiến lược hơn, chuyên nghiệp hơn, lấy việc chuyển hóa nhận thức thành hành vi cụ thể làm trọng tâm, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện trong thực tế phát triển kinh tế - xã hội.
2. Một số giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền về chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh
2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò chiến lược của chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh đối với sự phát triển bền vững
Chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh không chỉ là xu thế tất yếu của phát triển toàn cầu mà còn là yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và tiến bộ xã hội. Đây là một trong những nội dung xuyên suốt được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu;... quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”1. Thực tế cho thấy, nhận thức đúng và đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh có tác động trực tiếp đến chất lượng hoạch định chính sách, hiệu quả thực thi và mức độ lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai cực đoan và các hình thái thời tiết bất thường. Những tác động này gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường sống, cơ sở hạ tầng và hoạt động sản xuất, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh sinh thái quốc gia. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh trở thành xu hướng tất yếu, đồng thời cũng là yêu cầu chiến lược gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia và phát triển đất nước theo hướng hiện đại, bền vững.
Mặt khác, đại dịch Covid-19 đã làm bộc lộ những bất ổn mang tính hệ thống trong mô hình phát triển truyền thống, qua đó càng khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển sang mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp. Việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính không chỉ là một cam kết chính trị quốc tế (thể hiện qua tuyên bố tại COP26), mà còn là động lực mới để phục hồi và tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực chống chịu với các cú sốc trong tương lai. Do đó, công tác tuyên truyền cần đi trước một bước trong việc phổ biến, làm rõ bản chất, nội hàm, mục tiêu và yêu cầu của chuyển đổi xanh, gắn với các giá trị căn bản về phát triển bền vững, phù hợp với đặc điểm từng nhóm đối tượng. Đặc biệt, cần chú trọng tuyên truyền trong hệ thống chính trị, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và các cộng đồng dân cư ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
2.2. Nâng cao sự thống nhất, đồng thuận trong xã hội về chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh, gắn với khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển bền vững đất nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định rõ tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước đến năm 2045, với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, có nền kinh tế hiện đại, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh không chỉ là giải pháp kỹ thuật hay một chính sách môi trường đơn lẻ, mà là định hướng phát triển mang tính hệ thống, tích hợp sâu vào mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, như lời phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị Thượng đỉnh Diễn đàn Đối tác vì Tăng trưởng xanh và Mục tiêu toàn cầu 2030 (P4G) lần thứ 4 với chủ đề Chuyển đổi xanh bền vững, lấy con người làm trung tâm: Cùng với chuyển đổi số, Việt Nam xác định chuyển đổi xanh là yêu cầu tất yếu khách quan, là yếu tố then chốt và động lực đột phá để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, hiện thực hóa mục tiêu chiến lược trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 trong thời gian tới, đồng thời góp phần từng bước hiện thực hóa các cam kết của Việt Nam tại COP26 về đưa mức phát thải ròng về bằng “0” vào năm 20502. Để hiện thực hóa khát vọng đó, sự thống nhất nhận thức và sự đồng thuận cao trong xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc tuyên truyền phải giúp từng cán bộ, đảng viên, nhà hoạch định chính sách, cộng đồng doanh nghiệp và người dân nhận thức rõ rằng: chuyển đổi xanh là yêu cầu nội sinh từ chính thực trạng phát triển của Việt Nam, không phải áp lực ngoại sinh hay “xu hướng thời thượng”. Bên cạnh đó, cần chú trọng tuyên truyền làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa chuyển đổi xanh với các mục tiêu phát triển quốc gia: phục hồi kinh tế hậu đại dịch; nâng cao chất lượng thể chế; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; phát triển công nghiệp công nghệ cao; cải thiện chất lượng sống; bảo đảm công bằng xã hội và thích ứng với biến đổi khí hậu. Qua đó, lan tỏa động lực, cảm hứng và trách nhiệm thực hiện trong toàn xã hội, hình thành tinh thần quyết tâm “Một nền kinh tế xanh cần các doanh nghiệp xanh. Một xã hội xanh cần các công dân xanh. Một thế giới xanh cần các quốc gia xanh. Việc tham gia, đóng góp và hưởng thụ thành quả từ quá trình chuyển đổi xanh vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi của tất cả các quốc gia, dân tộc theo tinh thần cùng làm, cùng thắng, cùng hưởng và cùng phát triển”3. Công tác tuyên truyền trong thời gian tới cần đồng bộ hơn giữa các cấp, ngành; ứng dụng hiệu quả công nghệ truyền thông số; khai thác tối ưu các nền tảng truyền thông đa phương tiện để định hình và dẫn dắt nhận thức xã hội. Bên cạnh tuyên truyền phổ biến, cần mở rộng truyền thông đối thoại, truyền thông chính sách có trọng tâm, trọng điểm; gắn kết thông tin, giáo dục, truyền thông với hành động cụ thể, thiết thực trong từng lĩnh vực phát triển.
2.3. Làm sâu sắc tính nhân văn, cơ sở khoa học, nhất quán quan điểm phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường
Chuyển đổi xanh không chỉ là giải pháp công nghệ hay chính sách môi trường đơn thuần, mà là định hướng phát triển tổng thể có tính hệ giá trị sâu sắc, gắn với triết lý nhân văn, phát triển vì con người và do con người. Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh nguyên tắc phát triển nhanh nhưng phải bền vững, không đánh đổi môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội để đạt được tốc độ tăng trưởng ngắn hạn. Chuyển đổi xanh gắn liền với việc bảo đảm an toàn sinh thái, công bằng trong tiếp cận tài nguyên, bảo vệ các thế hệ tương lai, giảm thiểu tổn thương xã hội, nhất là với nhóm yếu thế. Tăng trưởng xanh đặt con người vào trung tâm, lấy chất lượng sống làm mục tiêu cuối cùng, thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải, nâng cao năng lực thích ứng với rủi ro khí hậu, cải thiện hệ sinh thái và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện. Về phương diện khoa học, chuyển đổi xanh dựa trên nền tảng đổi mới sáng tạo, công nghệ sạch, quản trị thông minh và mô hình kinh tế tuần hoàn. Tăng trưởng xanh không thể đạt được nếu không có sự chuyển dịch từ tư duy phát triển truyền thống sang mô hình tăng trưởng bền vững dựa vào tri thức, khoa học và công nghệ, nhân lực chất lượng cao. Điều này đòi hỏi sự đầu tư bài bản cho khoa học môi trường, công nghệ năng lượng mới, kinh tế xanh và phát triển thể chế quản lý xanh. Về mặt chính sách, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 đã cụ thể hóa các mục tiêu trung hạn và dài hạn, gồm: giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP; xanh hóa sản xuất và tiêu dùng; xây dựng kết cấu hạ tầng xanh, đô thị xanh; thúc đẩy đổi mới công nghệ và kinh tế tuần hoàn. Chiến lược cũng nhấn mạnh nguyên tắc: chuyển đổi xanh phải bảo đảm tính bao trùm, công bằng và nâng cao khả năng chống chịu xã hội. Tuyên truyền cần làm rõ sự khác biệt giữa “phát triển xanh hình thức” và “chuyển đổi xanh thực chất”, tránh xu hướng tô hồng phong trào mà không gắn với đổi mới mô hình phát triển. Cần phổ biến sâu rộng tư duy mới về phát triển, coi bảo vệ môi trường là điều kiện tiên quyết chứ không phải hệ quả, nhằm hình thành lối sống xanh, văn hóa tiêu dùng bền vững và tinh thần trách nhiệm xã hội trong toàn dân.
2.4. Phát huy vai trò của các chủ thể trong thực hiện chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh
Chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh là quá trình chuyển hóa toàn diện và sâu rộng cả về nhận thức, thể chế, hành vi và mô hình phát triển. Để hiện thực hóa thành công quá trình này, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, tích cực và có trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt là cấp ủy, chính quyền các cấp, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ báo chí, truyền thông và từng người dân.
Một là, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp. Cấp ủy, chính quyền các cấp cần nhận thức rõ vai trò tiên phong trong thúc đẩy chuyển đổi xanh, không chỉ ở góc độ ban hành chính sách mà còn ở năng lực điều hành, quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Cần đẩy mạnh lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu chuyển đổi xanh, phát triển bền vững vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và trung hạn, dài hạn; ban hành các cơ chế khuyến khích đầu tư xanh, sản xuất sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả; chủ động huy động nguồn lực xã hội hóa và nguồn vốn quốc tế cho các chương trình chuyển đổi xanh. Đồng thời, cần thực hiện nghiêm công tác kiểm soát ô nhiễm, đánh giá tác động môi trường, rà soát và xử lý các dự án gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Tăng cường năng lực cho bộ máy quản lý nhà nước về môi trường ở các địa phương; bảo đảm kỷ cương pháp luật, minh bạch, công khai trong cấp phép và giám sát thực hiện các tiêu chuẩn “xanh” trong đầu tư, xây dựng, sản xuất và tiêu dùng.
Hai là, phát huy vai trò của doanh nghiệp trong thực hiện trách nhiệm xã hội và dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng. Doanh nghiệp cần chủ động thích ứng với xu thế phát triển xanh như một yêu cầu sống còn trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Việc tuân thủ các quy định về môi trường, áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất sạch, sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải carbon, phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường không chỉ là nghĩa vụ pháp lý, mà còn là lợi thế cạnh tranh bền vững. Cộng đồng doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược phát triển xanh dài hạn, hướng tới kinh tế tuần hoàn, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực xanh và tham gia tích cực vào các liên minh, sáng kiến xanh trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần hình thành và bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân “xanh”, những người vừa có năng lực quản trị, vừa có tầm nhìn phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội.
Ba là, nâng cao năng lực định hướng dư luận và truyền cảm hứng thay đổi hành vi của đội ngũ báo chí, truyền thông. Đội ngũ nhà báo, cơ quan báo chí có vai trò đặc biệt trong việc truyền tải kịp thời, chính xác các thông tin, chính sách, mô hình tốt về chuyển đổi xanh, giúp định hướng nhận thức xã hội và tạo đồng thuận trong hành động. Cần xây dựng đội ngũ báo chí chuyên sâu về môi trường, phát triển bền vững, có hiểu biết đa ngành, khả năng phân tích chính sách và truyền thông khoa học. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan thông tấn, báo chí với các tổ chức khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp để lan tỏa các giá trị, hành vi “xanh”, phản ánh trung thực, khách quan các vấn đề môi trường và những bất cập trong thực hiện chuyển đổi xanh, qua đó thúc đẩy trách nhiệm giải trình và minh bạch chính sách.
Bốn là, phát huy vai trò chủ thể, trung tâm của người dân trong thực hiện lối sống xanh và tiêu dùng bền vững. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể quan trọng của quá trình chuyển đổi xanh. Mỗi cá nhân cần hình thành ý thức tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm thiểu rác thải nhựa, sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường, ưu tiên tiêu dùng sản phẩm xanh, tham gia các hoạt động cộng đồng như phân loại rác, trồng cây, bảo vệ rừng... Đặc biệt, cần đẩy mạnh giáo dục môi trường và lối sống xanh trong các cấp học, từ mầm non đến đại học, từ đó hình thành nếp sống bền vững trong thế hệ trẻ, lực lượng kế thừa và định hình tương lai của đất nước.
Năm là, tăng cường liên kết, phối hợp giữa các bên liên quan. Chuyển đổi xanh là một quá trình liên ngành, liên vùng, liên lĩnh vực và liên chủ thể. Do đó, cần thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương; giữa khu vực công và tư; giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội dân sự trong xây dựng và thực thi chính sách, chương trình, dự án chuyển đổi xanh. Trong đó, công tác tuyên truyền phải trở thành chất keo kết dính các chủ thể, tạo nên sự lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 330-331.
2, 3. Xem https://nhandan.vn/viet-nam-khang-dinh-cam-ket-manh-me-trong-thuc-hien-cac-muc-tieu-phat-trien-xanh-ben-vung-post872902.html.