Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, khẳng định vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Sự phát triển đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường và nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Thực tiễn cho thấy, công tác xây dựng Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân đã đạt được những kết quả bước đầu, song vẫn còn không ít hạn chế, nhất là về tổ chức, phương thức hoạt động và chất lượng sinh hoạt chi bộ. Dưới tác động của hội nhập quốc tế, môi trường sản xuất, kinh doanh, quan hệ lao động và hệ giá trị trong doanh nghiệp tư nhân có nhiều biến đổi, đòi hỏi công tác xây dựng Đảng phải được đổi mới cả về nội dung và phương thức, phù hợp với đặc thù doanh nghiệp và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
1. Thực trạng công tác xây dựng Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân hiện nay
Nhận thức và quyết tâm chính trị về xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân được nâng lên rõ rệt.
Trong những năm gần đây, nhiều cấp ủy đã chuyển mạnh từ tư duy “khó làm” sang “phải làm và làm đúng cách” đối với phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân (và rộng hơn là doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước). Chủ trương này được củng cố bằng các văn bản chỉ đạo ở tầm chiến lược về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên.
Nhận thức thống nhất hơn đã tạo tiền đề để địa phương, ngành chủ động ban hành kế hoạch, giao chỉ tiêu, bố trí cán bộ theo dõi, tháo gỡ vướng mắc “đầu vào” (nguồn phát triển đảng, điều kiện thành lập chi bộ) và “đầu ra” (chất lượng sinh hoạt, vai trò hạt nhân).
Mạng lưới tổ chức đảng, đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước từng bước mở rộng, có nơi tăng nhanh.
Nhiều địa phương, đô thị lớn đã hình thành mạng lưới tổ chức đảng khá rõ nét trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, cho thấy nỗ lực “phủ sóng tổ chức” và phát triển đảng viên là có kết quả. Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 1.435 tổ chức đảng với 23.245 đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước . Hoạt động của các tổ chức đảng này duy trì khá nền nếp, có quy chế làm việc và chất lượng sinh hoạt chi bộ từng bước được nâng cao. Tại Tuyên Quang, tính đến cuối năm 2023, có 39 tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước với 837 đảng viên; đồng thời có 160 tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp với hơn 20.627 đoàn viên, hội viên . Tại Quảng Ninh, trong giai đoạn 2020 - 2023, tổ chức đảng trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước đã kết nạp 1.004 đảng viên, chiếm 8,06% số đảng viên kết nạp hằng năm của địa phương.
Kết quả này phản ánh việc phát triển tổ chức đảng/đảng viên trong khu vực tư nhân không còn là vấn đề đơn lẻ, mà đã trở thành xu hướng tổ chức thực hiện có kế hoạch, có mục tiêu ở nhiều nơi.
Chất lượng hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp được củng cố, ngày càng phát huy vai trò “hạt nhân chính trị”.
Cùng với mở rộng số lượng, nhiều nơi chú trọng “làm thật”, tăng chất lượng sinh hoạt chi bộ: duy trì nền nếp, có quy chế làm việc, gắn nội dung sinh hoạt với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và công tác xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngày càng có điều kiện thể hiện vai trò định hướng chính trị, xây dựng đoàn kết nội bộ, tạo đồng thuận giữa chủ doanh nghiệp và người lao động, góp phần ổn định và phát triển.
Công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân có chuyển biến; xuất hiện các trường hợp chủ doanh nghiệp tham gia Đảng.
Một điểm tiến bộ là nhiều cấp ủy chú trọng hơn việc bồi dưỡng quần chúng ưu tú là công nhân, lao động kỹ thuật, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp; đồng thời từng bước vận động chủ doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia tổ chức Đảng. Ví dụ tại Đồng Nai: từ đầu năm 2020 đến nay, các tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước kết nạp 480 đảng viên, trong đó có 16 đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân . Khi có đảng viên là chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, tổ chức đảng có thêm điều kiện thuận lợi để gắn xây dựng Đảng với quản trị doanh nghiệp, thực thi pháp luật lao động, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.
Gắn xây dựng Đảng với trách nhiệm xã hội, xây dựng văn hóa doanh nghiệp và quan hệ lao động hài hòa.
Ở nhiều doanh nghiệp, tổ chức đảng đã thúc đẩy các hoạt động vì cộng đồng, chăm lo người lao động, qua đó tăng uy tín doanh nghiệp và tăng “độ bền” của quan hệ lao động. Một số mô hình tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chi bộ doanh nghiệp gắn hoạt động đảng với các quỹ thiện nguyện do tập thể người lao động cùng đóng góp (ví dụ quỹ “Trái tim yêu thương”). Trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (cũng thuộc ngoài nhà nước), có mô hình cho thấy tổ chức đảng phát triển mạnh từ rất ít đảng viên ban đầu lên quy mô hàng trăm đảng viên, góp phần giữ ổn định trong doanh nghiệp.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân vẫn còn một số hạn chế, bất cập:
Thứ nhất, tỷ lệ tổ chức đảng và đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân còn thấp so với quy mô và tốc độ phát triển của khu vực này.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, song số lượng tổ chức đảng, đảng viên trong các đơn vị kinh tế tư nhân hiện nay chưa tương xứng với vai trò, vị trí ngày càng quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chưa có tổ chức đảng; nhiều nơi chưa tạo được nguồn phát triển đảng viên ổn định, dẫn đến khó khăn trong việc thành lập và duy trì tổ chức đảng.
Thứ hai, chất lượng và hiệu quả hoạt động của một số tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế.
Ở không ít doanh nghiệp, tổ chức đảng mới dừng lại ở mức tồn tại về mặt hình thức, sinh hoạt chi bộ chưa thật sự nền nếp, nội dung sinh hoạt còn nghèo nàn, chậm đổi mới, chưa gắn chặt với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức đảng trong việc định hướng tư tưởng, xây dựng đoàn kết nội bộ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động chưa được phát huy đầy đủ.
Thứ ba, công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân gặp nhiều khó khăn.
Nguồn phát triển đảng trong khu vực kinh tế tư nhân còn hạn chế, do đặc điểm lao động phân tán, biến động lớn, áp lực việc làm cao. Một bộ phận người lao động chưa thực sự mặn mà với việc phấn đấu vào Đảng, trong khi một số chủ doanh nghiệp còn tâm lý e ngại, lo ngại việc có tổ chức đảng sẽ ảnh hưởng đến quyền điều hành hoặc hoạt động sản xuất – kinh doanh. Việc kết nạp đảng viên là chủ doanh nghiệp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa phổ biến, chưa tạo được sức lan tỏa rộng.
Thứ tư, mối quan hệ giữa tổ chức đảng với chủ doanh nghiệp ở một số nơi chưa thật sự hài hòa.
Trong thực tiễn, vẫn còn tình trạng thiếu sự đồng thuận, chia sẻ và phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức đảng với chủ doanh nghiệp. Ở một số doanh nghiệp, tổ chức đảng gặp khó khăn trong bố trí thời gian sinh hoạt, địa điểm hoạt động hoặc kinh phí hỗ trợ; quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân chưa được nhận thức đầy đủ và thống nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.
Thứ năm, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp tư nhân chưa phát huy đầy đủ.
Ở nhiều doanh nghiệp tư nhân, công đoàn, đoàn thanh niên và các tổ chức chính trị - xã hội chưa được thành lập hoặc hoạt động còn hình thức, chưa thực sự là cầu nối giữa người lao động với doanh nghiệp và tổ chức đảng. Điều này làm hạn chế việc tuyên truyền, vận động, tập hợp quần chúng và tạo nguồn phát triển đảng viên trong doanh nghiệp.
Thứ sáu, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và cơ chế phối hợp trong xây dựng Đảng ở khu vực kinh tế tư nhân còn bất cập.
Việc phân công trách nhiệm, phối hợp giữa cấp ủy địa phương, tổ chức đảng cấp trên với doanh nghiệp tư nhân ở một số nơi chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ. Công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân chưa thường xuyên; đội ngũ cán bộ làm công tác đảng trong khu vực này còn thiếu về số lượng, hạn chế về kinh nghiệm và kỹ năng thực tiễn.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do:
Thứ nhất, nhận thức về vị trí, vai trò của công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp tư nhân ở một số nơi chưa đầy đủ và thống nhất.
Mặc dù chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân đã được khẳng định rõ, song trên thực tế, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền và cả chủ doanh nghiệp vẫn còn chưa đồng đều. Ở một số nơi, công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp tư nhân chưa được coi là nhiệm vụ chính trị quan trọng, lâu dài, mà vẫn bị xem là việc “khó”, “nhạy cảm”, dẫn đến tâm lý e dè, thiếu quyết liệt trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
Thứ hai, đặc điểm của khu vực kinh tế tư nhân gây nhiều khó khăn cho công tác xây dựng Đảng.
Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và vừa, số lượng lao động ít, biến động lao động lớn, quan hệ lao động linh hoạt, thời gian làm việc không ổn định. Những đặc điểm này khiến việc tập hợp quần chúng, tạo nguồn phát triển đảng viên và duy trì sinh hoạt chi bộ gặp nhiều trở ngại, nhất là trong các ngành nghề có tính thời vụ cao hoặc phụ thuộc vào thị trường.
Thứ ba, tâm lý e ngại của một bộ phận chủ doanh nghiệp và người lao động.
Một số chủ doanh nghiệp tư nhân còn chưa hiểu đầy đủ vai trò của tổ chức đảng, lo ngại việc thành lập chi bộ có thể ảnh hưởng đến quyền điều hành, làm phát sinh thủ tục hoặc tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Về phía người lao động, do áp lực mưu sinh, thu nhập và việc làm, một bộ phận chưa thực sự mặn mà với việc phấn đấu vào Đảng, coi đó là nhiệm vụ “xa vời” so với lợi ích trước mắt.
Thứ tư, cơ chế, chính sách và hướng dẫn thực hiện còn thiếu cụ thể, chưa thật sự đồng bộ.
Một số quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân chưa đủ rõ ràng, linh hoạt, chưa theo kịp sự đa dạng và biến động nhanh của mô hình doanh nghiệp hiện nay. Cơ chế bảo đảm điều kiện hoạt động cho tổ chức đảng (thời gian sinh hoạt, địa điểm, kinh phí, cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách) ở nhiều nơi còn lúng túng, dẫn đến hoạt động thiếu ổn định.
Thứ năm, năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác đảng trong doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế.
Đội ngũ cán bộ theo dõi, hướng dẫn xây dựng tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân ở cơ sở vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về kỹ năng vận động, thuyết phục và am hiểu hoạt động sản xuất, kinh doanh. Một số cán bộ còn nặng về phương pháp hành chính, chưa linh hoạt, chưa thực sự “đồng hành” cùng doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả triển khai công tác xây dựng Đảng.
Thứ sáu, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành và các tổ chức trong doanh nghiệp chưa chặt chẽ.
Cơ chế phối hợp giữa cấp ủy địa phương, tổ chức đảng cấp trên, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp tư nhân chưa thật sự đồng bộ, thiếu tính liên thông. Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, nhân rộng mô hình hiệu quả chưa được tiến hành thường xuyên, kịp thời, dẫn đến khó phát hiện và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân
Một là, nâng cao nhận thức, thống nhất tư duy về xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân.
Trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và chủ doanh nghiệp về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân. Đây không chỉ là yêu cầu về mặt tổ chức, mà là nhiệm vụ chính trị lâu dài, gắn với củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cần làm rõ rằng, xây dựng tổ chức Đảng trong doanh nghiệp tư nhân không làm cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà trái lại góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định doanh nghiệp, nâng cao trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, tạo sự đồng thuận, ủng hộ từ phía chủ doanh nghiệp và người lao động.
Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân.
Cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định, hướng dẫn về thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân theo hướng rõ ràng, linh hoạt, phù hợp với đặc thù của khu vực này. Trong đó, quy định cụ thể, khả thi về điều kiện thành lập chi bộ, nhất là trong doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có lao động phân tán; làm rõ mối quan hệ giữa tổ chức đảng với chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trị, ban giám đốc, bảo đảm vừa giữ vững nguyên tắc của Đảng, vừa tôn trọng quyền tự chủ trong kinh doanh; có cơ chế bảo đảm điều kiện hoạt động cho tổ chức đảng như thời gian sinh hoạt, địa điểm, kinh phí, cán bộ phụ trách. Chính sách phù hợp sẽ tạo “điểm tựa thể chế” để tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân hoạt động ổn định, thực chất và lâu dài.
Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân.
Một giải pháp then chốt là đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức sinh hoạt chi bộ, khắc phục tình trạng hình thức, hành chính hóa. Nội dung sinh hoạt cần gắn chặt với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, chấp hành pháp luật lao động; tập trung giải quyết những vấn đề thiết thực của người lao động như việc làm, thu nhập, an toàn lao động, phúc lợi; phát huy dân chủ, đối thoại, tạo sự gắn kết giữa tổ chức đảng, người lao động và chủ doanh nghiệp.
Phương thức hoạt động cần linh hoạt về thời gian, hình thức sinh hoạt (trực tiếp kết hợp trực tuyến), phù hợp với đặc thù sản xuất, kinh doanh, nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.
Bốn là, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên và xây dựng đội ngũ đảng viên nòng cốt trong doanh nghiệp tư nhân.
Cần chú trọng tạo nguồn và phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân, coi đây là khâu then chốt để nâng cao chất lượng tổ chức đảng. Trọng tâm là phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú là công nhân lành nghề, lao động kỹ thuật, cán bộ quản lý, người có uy tín trong doanh nghiệp; quan tâm vận động, tạo điều kiện để chủ doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia Đảng, qua đó tăng tính đồng thuận và hiệu quả lãnh đạo; gắn công tác phát triển đảng viên với xây dựng tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, coi đây là “nguồn dự bị” quan trọng cho Đảng. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân, đề cao tính gương mẫu, trách nhiệm, kỷ luật lao động và đạo đức nghề nghiệp.
Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp tư nhân.
Các tổ chức như công đoàn, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh… cần được quan tâm củng cố và phát huy vai trò trong doanh nghiệp tư nhân, trở thành cầu nối giữa tổ chức đảng với người lao động. Thông qua hoạt động đoàn thể: Tuyên truyền, vận động người lao động chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; Phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú để giới thiệu cho Đảng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức đảng và các đoàn thể sẽ tạo thành “hệ sinh thái chính trị - xã hội” vững chắc trong doanh nghiệp.
Sáu là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp tư nhân.
Cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phụ trách công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp tư nhân, bảo đảm vừa vững vàng về chính trị, nghiệp vụ công tác đảng, vừa hiểu biết về kinh tế, quản trị doanh nghiệp và quan hệ lao động.
Cán bộ làm công tác Đảng trong doanh nghiệp tư nhân cần có phương pháp tiếp cận linh hoạt, kỹ năng vận động, thuyết phục, tinh thần đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tránh áp đặt hành chính. Đây là yếu tố quyết định để công tác xây dựng Đảng đi vào chiều sâu và bền vững.
Bảy là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cấp ủy các cấp.
Cấp ủy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên đối với công tác xây dựng Đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân; đồng thời, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
Việc sơ kết, tổng kết, nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hiệu quả trong xây dựng Đảng ở doanh nghiệp tư nhân cần được chú trọng, nhằm tạo sức lan tỏa và thúc đẩy phong trào chung.
1. Văn Minh: “Điểm sáng phát triển Đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước tại TPHCM”, Báo Sài Gòn Giải phóng online, ngày 08/12/2025, https://www.sggp.org.vn/diem-sang-phat-trien-dang-trong-cac-doanh-nghiep-ngoai-khu-vuc-nha-nuoc-tai-tphcm-post827472.html.
2. “Phát triển đảng viên ở doanh nghiệp ngoài Nhà nước”, Báo Tuyên Quang online, ngày 30/7/2024, https://baotuyenquang.com.vn/phat-trien-dang-vien-o-doanh-nghiep-ngoai-nha-nuoc-195776.html.
3. ThS. Đỗ Ngọc Huy: “Công tác phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước ở tỉnh Đồng Nai hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, ngày 19/4/2025, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/19/cong-tac-phat-trien-to-chuc-dang-trong-cac-doanh-nghiep-ngoai-khu-vuc-nha-nuoc-o-tinh-dong-nai-hien-nay/.