Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về đầu tư phát triển du lịch ở Việt Nam

CT & PT - Giai đoạn 2011 - 2025, ngành Du lịch Việt Nam đã nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước. Nhiều quan điểm, chủ trương, định hướng và chính sách đầu tư phát triển du lịch đã được ban hành, đi vào cuộc sống. Điều này không chỉ tạo động lực, đòn bẩy thúc đẩy du lịch phát triển mà còn là hành lang pháp lý vững chắc để thu hút mọi nguồn lực đầu tư xã hội vào du lịch. Trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm, định hướng của Đảng, Nhà nước về đầu tư phát triển du lịch, tổng kết những kết quả đạt được của ngành Du lịch trong vòng 15 năm qua, bài viết đề xuất một số giải pháp tiếp tục hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước và hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian tới.

1. Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về đầu tư phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 - 2025

1.1. Giai đoạn 2011 - 2019

Trong giai đoạn này, nhiều văn bản quan trọng của Đảng, Nhà nước đã được ban hành khẳng định những chủ trương, định hướng, chính sách lớn về du lịch nói chung và đầu tư phát triển du lịch nói riêng, với nhiều quan điểm, tư tưởng đổi mới và cởi mở. 

Bảng 1: Một số văn bản quan trọng của Đảng, Nhà nước về du lịch và đầu tư phát triển du lịch,

giai đoạn 2011 - 2019

Tên văn bản

Số văn bản

Ngày ban hành

Cấp ban hành

Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

2473/QĐ-TTg

30/12/2011

Thủ tướng

Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

201/QĐ-TTg

22/01/2013

Thủ tướng

Nghị quyết về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới

92/NQ-CP

08/12/2014

Chính phủ

Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn 2016 - 2020

1861/QĐ-TTg

23/11/2017

Thủ tướng

Luật Du lịch năm 2017

09/2017/QH14

19/6/2017

Quốc hội

Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch

168/2017/NĐ-CP

31/12/2017

Chính phủ

Nghị quyết về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

08-NQ/TW

16/01/2017

Bộ Chính trị

Quyết định Phê duyệt Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025

1671/QĐ-TTg

30/11/2018

Thủ tướng

Quyết định Phê duyệt Đề án cơ cấu lại ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn

1685/QĐ-TTg

05/12/2018

Thủ tướng

Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

2473/QĐ-TTg

30/12/2011

Thủ tướng

Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

201/QĐ-TTg

22/01/2013

Thủ tướng

Nghị quyết về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới

92/NQ-CP

08/12/2014

Chính phủ

Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn 2016 - 2020

1861/QĐ-TTg

23/11/2017

Thủ tướng

Luật Du lịch năm 2017

9/2017/QH14

19/6/2017

Quốc hội

Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch

168/2017/NĐ-CP

31/12/2017

Chính phủ

Nghị quyết về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

08-NQ/TW

16/01/2017

Bộ Chính trị

Quyết định Phê duyệt Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025

1671/QĐ-TTg

30/11/2018

Thủ tướng

Quyết định Phê duyệt Đề án cơ cấu lại ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn

1685/QĐ-TTg

05/12/2018

Thủ tướng

Nguồn: Tác giả tổng hợp.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011  phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây là hai văn bản lớn hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam trong suốt thời kỳ 10 năm. Những quan điểm, định hướng đột phá về đầu tư phát triển du lịch Việt Nam đã được thể hiện như: Nhà nước có chính sách ưu tiên hỗ trợ đầu tư phát triển đồng bộ, hiện đại cơ sở hạ tầng du lịch; phát triển sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh và khẳng định thương hiệu du lịch quốc gia, hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế; khuyến khích đầu tư phát triển các khu vui chơi giải trí hiện đại; thực hiện chính sách xã hội hóa đầu tư phát triển du lịch; tăng cường vốn ngân sách cho xúc tiến quảng bá du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Bộ Chính trị cũng đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về lĩnh vực du lịch và cũng lần đầu tiên ngành Du lịch được định hướng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Về đầu tư phát triển du lịch, Nghị quyết xác định: Ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào du lịch, nhất là các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa có tiềm năng du lịch. Tăng cường hợp tác công - tư để huy động các nguồn lực trong xã hội cho phát triển du lịch. Nhà nước ưu tiên bố trí vốn cho công tác xây dựng quy hoạch, đào tạo nguồn nhân lực, quảng bá xúc tiến du lịch. Đối với phát triển hạ tầng giao thông phục vụ du lịch, Nghị quyết chỉ rõ “dành nguồn lực thích hợp từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông” với 4 trọng tâm: (1) Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ kết nối với các khu, điểm du lịch, đầu tư các điểm dừng nghỉ trên các tuyến đường bộ; (2) Thực hiện chính sách “mở cửa bầu trời”, triển khai thực hiện thương quyền 5 về hàng không, mở các đường bay mới kết nối Việt Nam với thị trường nguồn, giải quyết điểm nghẽn và tình trạng quá tải tại các cảng hàng không; (3) Đầu tư một số cảng biển và cảng thuỷ nội địa chuyên dùng tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch đường biển và đường sông; (4) Cải thiện hạ tầng và chất lượng dịch vụ đường sắt phục vụ khách du lịch. Đối với đầu tư tư nhân trong nước, Nghị quyết xác định: Khuyến khích các nhà đầu tư chiến lược đầu tư hình thành các khu dịch vụ du lịch phức hợp, dự án dịch vụ du lịch quy mô lớn, các trung tâm mua sắm, giải trí chất lượng cao tại các địa bàn trọng điểm.
Cũng trong năm 2017, Luật Du lịch mới đã được Quốc hội thông qua để thay thế cho Luật Du lịch năm 2005 với nhiều điểm nhấn quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển của du lịch trong bối cảnh mới. Tại Điều 5, Luật Du lịch đã xác định nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động đầu tư phát triển du lịch: Nhà nước có chính sách huy động mọi nguồn lực cho phát triển du lịch để bảo đảm du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch được hưởng mức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cao nhất khi Nhà nước ban hành, áp dụng các chính sách về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư. Nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí cho các hoạt động: Điều tra, đánh giá, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch; lập quy hoạch về du lịch; xúc tiến du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia, địa phương; xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các hoạt động: Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mới; ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại phục vụ quản lý và phát triển du lịch; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; đầu tư hình thành khu dịch vụ du lịch phức hợp, có quy mô lớn. Để triển khai các dự án đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1861/QĐ-TTg ngày 23/11/2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn 2016 - 2020 với tổng kinh phí thực hiện Chương trình là 30.664,551 tỷ đồng. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng ban hành nhiều văn bản, phê duyệt nhiều chương trình, dự án, đề án nhằm hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về đầu tư phát triển du lịch. 

1.2. Giai đoạn 2020 - 2025:

Đây là giai đoạn ngành Du lịch trải qua nhiều thăng trầm trước tác động của đại dịch Covid-19 cũng như sự biến đổi phức tạp về bối cảnh, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên thế giới và trong nước. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn có nhiều văn bản quan trọng được ban hành, thể hiện chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với phát triển du lịch trong bối cảnh mới.

Bảng 2: Một số văn bản quan trọng của Đảng, Nhà nước về du lịch và đầu tư phát triển du lịch, giai đoạn 2020 - 2025

Tên văn bản

Số văn bản

Ngày ban hành

Cấp ban hành

Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030

147/QĐ-TTg

22/01/2020

Thủ tướng

Nghị quyết về nhiệm vụ và giải pháp đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững

82/NQ-CP

18/5/2023

Chính phủ

Quyết định phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045

509/QĐ-TTg

13/6/2024

Thủ tướng

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững thời gian tới

08/CT-TTg

23/02/2024

Thủ tướng

Quyết định ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045

382/QĐ-TTg

21/02/2025

Thủ tướng

Luật Đầu tư công năm 2024

58/2024/QH15

29/11/2024

Quốc hội

Luật đầu tư năm 2020

61/2020/QH14

17/6/2020

Quốc hội

Luật Doanh nghiệp năm 2020

59/2020/QH14

17/6/2020

Quốc hội

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hai văn bản này cơ bản vẫn thể hiện tính kế thừa, nhất quán, liên tục, liền mạch quan điểm, chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch từ giai đoạn trước, đặc biệt là trong các lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đào tạo nhân lực du lịch, nghiên cứu thị trường, xúc tiến quảng bá, phát triển sản phẩm du lịch. Điểm mới của hai văn bản này là nhấn mạnh hơn đến yếu tố tăng trưởng xanh, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và áp dụng các mô hình hiện đại: kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn trong phát triển du lịch. Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định tổng nhu cầu đầu tư, cơ cấu nguồn vốn và phân kỳ đầu tư cho giai đoạn phát triển mới đến năm 2030 khoảng 3.600 nghìn tỷ đồng (tương đương 160 tỷ USD). Trong đó, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chiếm 3% - 5% (bao gồm vốn ODA); nguồn vốn huy động từ khu vực tư nhân chiếm 95% - 97% (bao gồm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài). Phân kỳ đầu tư: Giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 1.600 nghìn tỷ đồng và giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 2.000 nghìn tỷ đồng.
Trước tác động của đại dịch Covid-19 và các vấn đề toàn cầu đối với ngành Du lịch trong những năm đầu của thời kỳ phát triển mới 2021 - 2030, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 18/5/2023 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững. Theo đó, Chính phủ đã giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá. Về đầu tư phát triển du lịch, Nghị quyết xác định: Tăng cường thu hút đầu tư phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên đầu tư cho khu vực động lực, khu vực tiềm năng phát triển thành khu du lịch quốc gia; triển khai hiệu quả các dự án đầu tư công về hạ tầng; đẩy mạnh thu hút đầu tư, hình thành và kết nối một số cụm, cực, khu vực động lực phát triển du lịch có chất lượng, quy mô lớn; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp du lịch xây dựng, phát triển các sản phẩm mới. Nghị quyết số 82/NQ-CP cũng thể hiện nhiều quan điểm, chủ trương, định hướng mới về đầu tư du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới như: Đầu tư phát triển điểm đến du lịch theo định hướng “Điểm đến du lịch xanh, sạch, đẹp, văn minh, thân thiện”, “lấy trải nghiệm của khách du lịch làm trung tâm”, xây dựng Việt Nam thật sự là điểm đến an toàn, hấp dẫn, nhân văn, hiếu khách, thuận lợi, “làm hài lòng du khách, ấm lòng chủ nhà”; Phát triển, làm mới loại hình, dịch vụ du lịch, đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa trong đó coi trọng du lịch văn hóa; Đẩy nhanh thực hiện chuyển đổi số, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực du lịch; xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh, phát triển trang mạng du lịch quốc gia, ứng dụng du lịch quốc gia phát triển nền tảng số “Quản trị và kinh doanh du lịch”. Ngoài ra, trong giai đoạn 2020 - 2025, Thủ tướng Chính phủ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện các Chiến lược, Quy hoạch, Chương trình, Nghị quyết về phát triển du lịch. Bên cạnh đó, nhiều văn bản luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh cũng đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh phát triển mới.

2. Kết quả đầu tư phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 - 2025

2.1. Về đầu tư công 

Giai đoạn 2011 - 2025 Nhà nước đã quan tâm, dành nguồn lực vốn lớn từ ngân sách nhà nước phục vụ đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, du lịch nói riêng. Tổng vốn đầu tư phát triển hạ tầng du lịch theo Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn 2016 - 2020 là 30.664,551 tỷ đồng cơ bản được giải ngân; trong đó, ngân sách Trung ương là 3.802,551 tỷ đồng, ngân sách địa phương 1.000 tỷ đồng, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 3.662 tỷ đồng, vốn huy động hợp pháp khác 22.200 tỷ đồng. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã dành nguồn lực từ ngân sách hơn 1.500 tỷ đồng hỗ trợ cho các hoạt động du lịch giai đoạn 2011 -2018, trong đó: ngân sách hỗ trợ Chương trình Xúc tiến du lịch quốc gia và Chương trình Hành động quốc gia về du lịch là 368,7 tỷ đồng; ngân sách chi cho các sự kiện du lịch là 535,1 tỷ đồng; ngân sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ bản cho các trường đào tạo về du lịch là 613 tỷ đồng. 
Kết quả đầu tư toàn giai đoạn đã giúp hệ thống hạ tầng giao thông phục vụ du lịch ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối giữa các địa phương, tỉnh/thành phố, kết nối liên vùng, miền. Nhiều cao tốc, quốc lộ được xây mới hoặc mở rộng, nâng cấp, tạo thuận lợi cho khách du lịch di chuyển, rút ngắn thời gian di chuyển của khách như: Cao tốc Bắc - Nam phía Đông, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, Bắc Giang - Lạng Sơn, Thái Nguyên - Chợ Mới, Tuyên Quang - Phú Thọ, Hòa Liên - Túy Loan, Quy Nhơn - Pleiku, Trung Lương - Mỹ Thuận, Mỹ Thuận - Cần Thơ,... Giao thông hàng không cũng được chú trọng đầu tư nâng cấp, cải tạo, mở rộng như sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Phú Quốc, Vân Đồn, Điện Biên và xây mới sân bay Long Thành. Hạ tầng điện, nước, thông tin - viễn thông, môi trường cũng được quan tâm đầu tư, phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Du lịch.

2.2. Về đầu tư tư nhân trong nước

Giai đoạn 2011 - 2025, đã có trên 1.000 dự án du lịch với nguồn vốn hàng chục nghìn tỷ đồng được các nhà đầu tư trong nước đầu tư với nhiều hình thức, quy mô khác nhau. Nhiều dự án du lịch của các nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn lớn trong nước đã được triển khai và đi vào vận hành như các dự án của Vingroup, Sun Group, FLC Group, Mường Thanh, Saigontourist, Hanoitourist,... Sự tham gia của các tập đoàn lớn trong nước đã đóng góp tích cực trong việc hình thành các trung tâm giải trí lớn, chuỗi du lịch nghỉ dưỡng đẳng cấp, trung tâm mua sắm hiện đại, cùng nhiều sản phẩm, dịch vụ du lịch chất lượng. Một số tổ hợp dịch vụ vui chơi giải trí lớn như đã hình thành và vận hành như: chuỗi VinWonders và Vinpearl của tập đoàn Vingroup tại Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc; chuỗi Sun World của tập đoàn Sun Group tại Đà Nẵng (Ba Na Hills), Quảng Ninh (Hạ Long), Phú Quốc (Hòn Thơm), Lào Cai (Fansipan), Thanh Hóa (Sầm Sơn), Hải Phòng (Cát Bà); Công viên Ấn tượng Hội An của Công ty Cổ phần Gami Hội An;...

2.3. Về đầu tư trực tiếp nước ngoài 

Số liệu tổng kết của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2019 cho thấy, giai đoạn 2011 - 2019 có hơn 900 dự án FDI vào du lịch, với tổng số vốn đạt trên 15 tỷ USD; trong đó: 839 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống, với tổng số vốn gần 12 tỷ USD; 135 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực nghệ thuật và vui chơi giải trí, với tổng số vốn gần 3,4 tỷ USD. Số lượng các dự án và quy mô vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực du lịch tiếp tục tăng trong giai đoạn 2020 - 2025. Một số khách sạn cao cấp có vốn FDI đã và đang hoạt động tại Việt Nam như: chuỗi khách sạn Sofitel, Metropole, Pullman, Novotel, Mercure của tập đoàn Accor Group; chuỗi khách sạn Marriott, Sheraton của tập đoàn Marriott International; chuỗi khách sạn InterContinental của tập đoàn InterContinental Hotels Group; chuỗi khách sạn Park Hyatt của tập đoàn Hyatt Hotels Corporation;...

2.4. Về kết quả phát triển du lịch 

Giai đoạn 2011 - 2019: Ngành Du lịch đã đạt được chuỗi tăng trưởng liên tục trong vòng 10 năm, khách quốc tế tăng từ 6 triệu lượt năm 2011 lên 18 triệu lượt năm 2019, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14,7%/năm; khách nội địa tăng từ 30 triệu lượt năm 2011 lên 85 triệu lượt năm 2019, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,9%/năm (Hình 1). Tổng thu du lịch và đóng góp của ngành Du lịch vào GDP cũng tăng lên đáng kể: Năm 2011, tổng thu từ khách du lịch mới chỉ đạt 130.000 tỷ đồng, đóng góp 3,1% vào GDP, đến năm 2019 tổng thu từ khách du lịch đã tăng lên 726.000 tỷ đồng, đóng góp vào GDP đạt 9,2%. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ngày càng được cải thiện, nâng cao cả về chất và lượng. Năm 2011, cả nước có khoảng 13.756 cơ sở lưu trú, với tổng số 256.739 buồng, năm 2019 tăng lên 30.000 cơ sở lưu trú với 650.000 buồng.

Giai đoạn 2020 - 2025: Trước tác động của đại dịch Covid-19, lượng khách du lịch và tổng thu du lịch trong hai năm 2020 - 2021 sụt giảm đáng kể, tăng trưởng âm ở tất cả các chỉ tiêu ngành. Năm 2020, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt gần 3,7 triệu lượt, khách nội địa chỉ đạt 55 triệu lượt, tổng thu du lịch chỉ đạt 312.000 tỷ đồng. Năm 2021, Việt Nam chỉ đón được 3.500 khách quốc tế theo hình thức “hộ chiếu vắc xin”, khách nội địa chỉ đạt 40 triệu lượt, tổng thu du lịch chỉ đạt 180.000 tỷ đồng. Năm 2022, khi đại dịch cơ bản được kiểm soát, ngành du lịch từng bước phục hồi, phát triển. Đến năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đã vượt mốc năm 2019, đạt 21.168.291 lượt, tăng 17,6%; khách nội địa đạt khoảng 137.000.000 lượt, tăng 61,18%; tổng thu du lịch đạt khoảng 1.000.000 tỷ đồng, tăng 37,7%.

Kết quả phát triển của ngành Du lịch được phản ánh qua chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch toàn cầu và các giải thưởng du lịch quốc tế mà Việt Nam đã nhận được trong suốt giai đoạn 2011 - 2025. Theo “Báo cáo năng lực cạnh tranh lữ hành và du lịch” (The Travel & Tourism Competitiveness Report) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF): năm 2011, năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam xếp hạng 80/139 nền kinh tế; đến năm 2019, vị trí của du lịch Việt Nam trên bảng xếp hạng được cải thiện đáng kể, thứ hạng 63/140 nền kinh tế, tăng 17 bậc so với năm 2011. Giai đoạn 2020 - 2025, WEF điều chỉnh phương pháp đánh giá và thay đổi thành “Chỉ số năng lực phát triển lữ hành và du lịch” (Travel & Tourism Development Index), theo đó: năm 2021, Việt Nam xếp hạng 56/117 nền kinh tế; năm 2024 xếp hạng 59/119 nền kinh tế. Ngành du lịch đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá của Tổ chức Giải thưởng Du lịch thế giới (World Travel Awards) và giải thưởng du lịch ASEAN, trong đó có nhiều giải thưởng được nhận nhiều năm liên tiếp như: “Điểm đến di sản hàng đầu thế giới”, “Điểm đến di sản hàng đầu châu Á”; “Điểm đến Golf tốt nhất thế giới”, “Điểm đến Golf tốt nhất châu Á”; “Điểm đến Ẩm thực tốt nhất châu Á”; “Điểm đến Thiên nhiên hàng đầu châu Á”, “Điểm đến Văn hóa hàng đầu châu Á”... Có thể nói, du lịch Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, từng bước khẳng định vị trí, thương hiệu của mình trong khu vực và trên thế giới. 

3. Giải pháp tiếp tục hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước và hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch, doanh nghiệp và cộng đồng làm du lịch

Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Du lịch về vị trí, vai trò, tầm quan trọng và yêu cầu của việc hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về đầu tư phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới; hiện thực hóa bằng các chính sách, quy định, hướng dẫn cụ thể. Cần nhận thức rằng, chính sách đầu tư phát triển du lịch thể hiện sự nhất quán trong quan điểm chỉ đạo, định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với ngành du lịch; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện; có hiệu lực mạnh mẽ và tác động sâu rộng, tích cực đối với phát triển du lịch Việt Nam; là căn cứ để thu hút mọi nguồn lực đầu tư xã hội vào lĩnh vực du lịch.
Đổi mới tư duy trong công tác tham mưu, xây dựng chính sách du lịch và chính sách đầu tư phát triển du lịch theo hướng “hiện đại - minh bạch - khả thi - hiệu quả”. Chính sách đầu tư phát triển du lịch được xây dựng, ban hành phải phù hợp với bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước; phù hợp với năng lực và tình hình phát triển của ngành du lịch; linh hoạt trước xu thế du lịch mới và những thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng du lịch.
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, hiểu biết của doanh nghiệp, người dân về quan điểm, chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước về đầu tư phát triển du lịch. Doanh nghiệp, cộng đồng là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách, do đó cần được tiếp cận đầy đủ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đầu tư phát triển du lịch; được hưởng những ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước nhưng đồng thời phải thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm trong hoạt động đầu tư, kinh doanh du lịch.

3.2. Tăng cường công tác nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về đầu tư và chính sách đầu tư phát triển du lịch

Để hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước, tham mưu xây dựng, ban hành và thực thi chính sách đầu tư phát triển du lịch hiệu quả, cần thiết phải tăng cường công tác nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về chính sách đầu tư phát triển du lịch.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tạo thuận lợi cho các tổ chức khoa học công nghệ, cơ quan tham mưu thuộc Bộ triển khai các chương trình, dự án, đề án, đề tài nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lý luận, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và thực thi chính sách đầu tư phát triển du lịch. Khuyến khích các cơ sở nghiên cứu trong nước và quốc tế tham gia nghiên cứu, chuyển giao kết quả nghiên cứu xây dựng chính sách đầu tư phát triển du lịch Việt Nam.
Tăng cường công tác nghiên cứu dự báo về du lịch, đặc biệt là dự báo về bối cảnh, xu hướng, nhu cầu đầu tư, các chỉ tiêu tăng trưởng du lịch. Kết quả nghiên cứu phục vụ công tác quản lý ngành cũng như tham mưu xây dựng chính sách đầu tư phát triển du lịch một cách hiệu quả, phù hợp với bối cảnh mới.
Tăng cường năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để kịp thời phát hiện vấn đề, xác định những thành công, hạn chế và nguyên nhân để có cơ sở để tham mưu xây dựng, ban hành chính sách phù hợp.

3.3. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về du lịch, đầu tư du lịch

Xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về du lịch nói chung, cơ sở dữ liệu về đầu tư phát triển du lịch nói riêng để tạo căn cứ cho công tác nghiên cứu, tra cứu dữ liệu phục vụ tham mưu xây dựng chính sách đầu tư phát triển du lịch.
Xây dựng và đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư tra cứu, nghiên cứu về chính sách đầu tư du lịch.
Nâng cao hiệu quả công tác thống kê du lịch, đặc biệt là dữ liệu thống kê khách du lịch, thị trường du lịch, tài nguyên du lịch, đầu tư du lịch, nguồn nhân lực du lịch để phục vụ công tác quản lý và tham mưu xây dựng chính sách đầu tư phát triển du lịch.
Công khai dữ liệu các dự án đầu tư, tổng vốn đầu tư, giai đoạn đầu tư, chủ đầu tư, địa bàn đầu tư, lĩnh vực đầu tư,... để tạo thuận lợi cho công tác tra cứu, tham khảo cho các nhà đầu tư cũng như phục vụ công tác xây dựng chính sách đầu tư phát triển du lịch.

3.4. Cân bằng chính sách đầu tư phát triển du lịch

Chính sách đầu tư phát triển du lịch được xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện cần đảm bảo tính “cân bằng” hợp lý.  “Cân bằng chính sách” được thể hiện ở sự phù hợp giữa các khu vực đầu tư: khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch tại các khu vực ưu tiên, khu vực trọng điểm du lịch, trung tâm du lịch có mức độ thuận lợi về hạ tầng và các điều kiện đảm bảo đầu tư cân bằng với các khu vực khác có điều kiện khó khăn hơn như vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo có tiềm năng du lịch. “Cân bằng chính sách” còn được thể hiện ở sự phù hợp giữa các lĩnh vực đầu tư: Chính sách được xây dựng, ban hành không chỉ chú trọng đến những lĩnh vực ưu tiên có khả năng mang lại giá trị và giá trị gia tăng cao như nghỉ dưỡng cao cấp, cơ sở lưu trú 4 - 5 sao, tổ hợp vui chơi giải trí hiện đại, công viên chủ đề,... mà còn phải chú trọng đến các lĩnh vực đầu tư khác yếu thế hơn nhưng mang tính bền vững, đảm bảo lợi ích cộng đồng như du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn, du lịch giáo dục, giáo dục môi trường,... “Cân bằng chính sách” cũng được thể hiện ở sự phù hợp giữa các chủ thể đầu tư: các chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch đối với các chủ thể là nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư có tiềm lực tài chính và công nghệ nguồn hiện đại cũng cần phải cân bằng với các chủ thể yếu thế hơn là các nhà đầu tư nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ gia đình và cộng đồng tham gia làm du lịch.

3.5. Cơ chế hợp tác và hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch

Tạo lập mối quan hệ giữa chính quyền với nhà đầu tư là mối quan hệ “hợp tác” thay vì cơ chế “xin - cho”. Nhà nước tạo thuận lợi tốt nhất các điều kiện đảm bảo đầu tư để nhà đầu tư dễ dàng triển khai các dự án đầu tư.
Chính quyền, cán bộ quản lý hợp tác, hỗ trợ nhà đầu tư trong việc xây dựng hồ sơ đầu tư, thực hiện quy trình đàu tư, thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật nhưng bảo đảm thông thoáng, thuận tiện, tránh nhiêu khê, quan liêu, rườm rà ảnh hưởng đến tiến độ và tâm lý của nhà đầu tư.
Đối với những khu vực có điều kiện khó khăn về hạ tầng giao thông, điện, nước, thông tin, viễn thông,... chính quyền ưu tiên hỗ trợ hoàn thiện các điều kiện này để tạo thuận lợi thu hút đầu tư cũng như để các nhà đầu tư có thể triển khai các dự án đầu tư một cách hiệu quả.

3.6. Kiểm soát và xử lý sai phạm trong đầu tư phát triển du lịch

Để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách đầu tư, cần thiết phải có cơ chế giám sát và xử lý sai phạm.
Đối với các dự án được thụ hưởng hưởng ưu đãi, hỗ trợ từ chính sách đầu tư phát triển du lịch, nếu không đảm bảo triển khai đầu tư theo đúng tiến độ và vận hành hoạt động du lịch theo đăng ký; dự án gây ảnh hưởng xấu, tác động tiêu cực đến tài nguyên, môi trường và các sai phạm khác, chính quyền nghiên khắc xử lý, tạm dừng và thu hồi giấy phép đầu tư.
Đối với những trường hợp sai phạm nghiêm trọng, có thể xem xét để xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin