Nâng cao chất lượng dân chủ số ở Việt Nam: Tiếp cận từ sự tham gia của người dân và trách nhiệm giải trình

CT&PT - Bài viết phân tích những chuyển biến và một số điểm nghẽn trong thực hành dân chủ trên môi trường số ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số định hướng nhằm chuyển trọng tâm từ “số hóa công cụ” sang nâng cao chất lượng thể chế và hiệu quả thực hành dân chủ trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

1. Dân chủ số - từ công cụ công nghệ đến đổi mới phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức và vận hành của nền kinh tế, Nhà nước và xã hội. Nếu trong lĩnh vực kinh tế, dữ liệu, nền tảng và công nghệ số làm giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường và hình thành các mô hình kinh doanh mới thì trong quản trị quốc gia, những công nghệ này cũng tạo điều kiện giảm chi phí tiếp cận thông tin, gia tăng khả năng tương tác giữa Nhà nước và công dân, đồng thời mở rộng các phương thức tham gia, giám sát và phản biện xã hội. Đây chính là một trong những tiền đề quan trọng của dân chủ số.

Dân chủ số, xét từ góc độ thể chế, không nên được đồng nhất với chính phủ số hoặc đơn thuần là đưa các thủ tục hành chính lên môi trường trực tuyến. Chính phủ số trước hết liên quan đến phương thức tổ chức, vận hành bộ máy nhà nước dựa trên công nghệ và dữ liệu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và cung cấp dịch vụ công. Trong khi đó, dân chủ số hướng trực tiếp hơn tới phương thức thực hiện quyền làm chủ của người dân trong điều kiện công nghệ mới. Theo cách tiếp cận này, có thể hiểu dân chủ số là phương thức thực hành quyền làm chủ của nhân dân dựa trên việc sử dụng công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, tham gia vào các vấn đề công, giám sát hoạt động công quyền và tiếp nhận phản hồi, giải trình từ các cơ quan có trách nhiệm.

Ở Việt Nam, dân chủ số là sự phát triển phương thức thực hành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong môi trường số, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và vận hành trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Công nghệ vì vậy chỉ là phương tiện; mục tiêu cuối cùng vẫn là bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Cách tiếp cận này cũng tương đồng với xu hướng nghiên cứu quốc tế gần đây. OECD cho rằng, dân chủ số cần được xem xét rộng hơn việc số hóa hoạt động của chính phủ, bởi công nghệ số đang làm thay đổi các điều kiện, thiết chế và phương thức tham gia của công dân vào đời sống công; đồng thời tạo ra những khả năng mới về minh bạch, giám sát và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, tác động của công nghệ đối với dân chủ không mang tính tự động: cùng với việc mở rộng không gian tham gia, số hóa cũng có thể làm phát sinh những rủi ro mới về bất bình đẳng trong tiếp cận, bảo vệ dữ liệu, thông tin sai lệch và chất lượng của quá trình tham gia1.

Từ góc nhìn kinh tế học thể chế, ý nghĩa quan trọng của dân chủ số nằm ở khả năng làm giảm ba loại “chi phí” trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Thứ nhất là chi phí tiếp cận thông tin. Khi dữ liệu và thông tin công được cung cấp đầy đủ, dễ tiếp cận và có khả năng kiểm chứng, người dân có điều kiện tốt hơn để biết và giám sát những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình. Thứ hai là chi phí tham gia. Thay vì phải tham dự trực tiếp các cuộc họp hoặc thực hiện những quy trình hành chính phức tạp, người dân có thể sử dụng các nền tảng số để gửi ý kiến, kiến nghị, phản ánh hoặc tham gia góp ý đối với chính sách. Thứ ba là chi phí giám sát và yêu cầu giải trình. Dữ liệu số cho phép lưu vết quá trình tiếp nhận, xử lý và phản hồi, qua đó tạo điều kiện để xác định trách nhiệm của cơ quan và cá nhân trong thực thi công vụ.

Theo Douglass C. North (1990), thể chế có vai trò làm giảm sự bất định trong tương tác xã hội và, cùng với công nghệ, định hình chi phí giao dịch của nền kinh tế2. Áp dụng cách tiếp cận này vào dân chủ số cho thấy: công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được đặt trong một hệ thống thể chế đủ khả năng chuyển hóa khả năng kết nối thành quyền tham gia, chuyển dữ liệu thành minh bạch và chuyển phản ánh của công dân thành trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền. Vì vậy, có thể xem mô hình dân chủ số ở Việt Nam được hình thành trên ba hợp phần có quan hệ chặt chẽ với nhau: hạ tầng và điều kiện công nghệ số; khả năng tham gia của công dân; cơ chế tiếp nhận, phản hồi và giải trình của bộ máy công quyền.

Nếu chỉ có hạ tầng nhưng thiếu cơ chế tham gia, chuyển đổi số chủ yếu mới dừng ở hiện đại hóa quản lý. Nếu có các kênh tham gia nhưng không có phản hồi, dân chủ số dễ trở thành sự mở rộng về hình thức mà chưa tạo ra thay đổi tương ứng về chất lượng quản trị. Vì thế, thước đo quan trọng của dân chủ số không phải số lượng ứng dụng hay nền tảng được xây dựng, mà là mức độ mà công nghệ làm cho tiếng nói của người dân được tiếp nhận, xử lý và có khả năng tạo ra phản hồi từ hệ thống công quyền. Nhận thức này càng có ý nghĩa khi Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt chuyển đổi số vào vị trí là động lực quan trọng của phát triển. Song, cùng với phát triển lực lượng sản xuất số, một vấn đề cần được quan tâm tương xứng là đổi mới phương thức quản trị xã hội và thực hành dân chủ phù hợp với môi trường số.

2. Những chuyển biến và điểm nghẽn trong thực hành dân chủ số ở Việt Nam

Để nhận diện một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn, nghiên cứu sử dụng kết hợp phân tích tài liệu với khảo sát xã hội học được thực hiện tháng 12/2025 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa và Cao Bằng. Tổng số bảng hỏi hợp lệ là 800, bao gồm 500 cán bộ lãnh đạo, quản lý và các chủ thể có liên quan cùng 300 người dân. Ba địa phương được lựa chọn khảo sát nhằm phản ánh những điều kiện khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội và mức độ chuyển đổi số. Kết quả khảo sát được xử lý chủ yếu thông qua thống kê mô tả và đối chiếu giữa các nhóm đối tượng, địa bàn.

Hạ tầng số đang tạo nền tảng ngày càng thuận lợi

Trước hết, quá trình phát triển chính phủ số, dữ liệu số và định danh điện tử đã tạo ra những điều kiện vật chất quan trọng để mở rộng các phương thức tương tác giữa Nhà nước và người dân.

Theo Báo cáo Khảo sát Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2024, Việt Nam xếp thứ 71/193 quốc gia về Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI), đạt 0,7709 điểm3. Xu hướng này tiếp tục được củng cố trong năm 2025. Theo Thông báo số 712/TB-VPCP ngày 21/12/2025 của Văn phòng Chính phủ, vùng phủ sóng 5G đã đạt gần 59% dân số; Internet của Việt Nam nằm trong nhóm 20 nước có tốc độ cao trên thế giới; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 36,8%4. Những kết quả này cho thấy nền tảng kỹ thuật cho tương tác số giữa Nhà nước và công dân đã được mở rộng đáng kể, tạo tiền đề để chuyển từ cung cấp dịch vụ công trực tuyến sang những hình thức tương tác, tham gia và giám sát ngày càng đa dạng hơn.

Sự phát triển của định danh điện tử, các cổng dịch vụ công, hệ thống phản ánh hiện trường và những nền tảng tương tác trực tuyến đã giúp người dân ngày càng quen thuộc hơn với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong môi trường số. Kết quả khảo sát 300 người dân cho thấy, 78,7% sử dụng điện thoại thông minh để tra cứu thông tin; 69,7% cho biết đã từng sử dụng các nền tảng số như cổng dịch vụ công hoặc ứng dụng phản ánh để gửi ý kiến, kiến nghị tới cơ quan nhà nước. Một minh chứng đáng chú ý về khả năng mở rộng quy mô tham gia của người dân thông qua công nghệ số là đợt lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 trong năm 2025. Một minh chứng đáng chú ý về khả năng mở rộng sự tham gia của người dân thông qua công nghệ số là đợt lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013. Theo Báo cáo số 472/BC-CP của Chính phủ, sau một tháng tổ chức lấy ý kiến đã có hơn 280,2 triệu lượt ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức và cá nhân; trong đó, việc lấy ý kiến qua ứng dụng VNeID thu hút hơn 20 triệu công dân tham gia. Thực tiễn này cho thấy, khi nền tảng định danh và tương tác số được tích hợp vào một quy trình tham vấn chính sách, công nghệ có thể góp phần giảm chi phí tham gia, mở rộng phạm vi tiếp cận và tạo điều kiện để người dân tham gia trực tiếp, thuận tiện hơn vào các vấn đề công5. Những số liệu này chứng tỏ “đầu vào công nghệ” của dân chủ số đã có sự cải thiện đáng kể. Khả năng tiếp cận công nghệ không còn là rào cản tuyệt đối đối với một bộ phận lớn người dân như ở giai đoạn đầu của chuyển đổi số. Đồng thời, nhận thức của đội ngũ cán bộ về dân chủ số cũng có sự chuyển biến nhất định. Qua khảo sát 500 cán bộ lãnh đạo, quản lý và các chủ thể liên quan, 55,8%  nhận diện dân chủ số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn bao gồm mở rộng sự tham gia của hân dân và nâng cao trách nhiệm giải trình của bộ máy. Đây là chuyển biến quan trọng, bởi chất lượng dân chủ số phụ thuộc không chỉ vào công nghệ mà trước hết phuc thuộc vào cách thức cơ quan công quyền nhìn nhận vai trò của công nghệ trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Khoảng cách giữa “có khả năng tham gia” và “tham gia thực chất” còn khá lớn

Cũng qua khảo sát cho thấy, mức độ tiếp cận công nghệ tương đối cao nhưng mức độ tham gia thường xuyên của người dân lại thấp hơn đáng kể. Trong khi 69,7% người được hỏi từng sử dụng các nền tảng số để gửi ý kiến hoặc kiến nghị, tỷ lệ tham gia phản ánh một cách thường xuyên chỉ đạt 15,3%; 30,3% cho biết chưa bao giờ tham gia. Điều này cho thấy, cần nhìn nhận lại khái niệm “khoảng cách số”. Ở giai đoạn trước, khoảng cách số  được hiểu là sự chênh lệch về hạ tầng, thiết bị và khả năng truy cập internet. Hiện nay, khoảng cách đó đang chuyển dần sang một cấp độ khác: khoảng cách giữa khả năng tiếp cận công nghệ và khả năng sử dụng công nghệ để thực hiện quyền tham gia một cách có hiệu quả. Nói cách khác, việc sở hữu điện thoại thông minh không đồng nghĩa với năng lực công dân số; có tài khoản trên một nền tảng không đồng nghĩa với việc người dân thực sự sử dụng nền tảng đó để tham gia vào các vấn đề công.

Đáng chú ý hơn, rào cản được người dân lựa chọn nhiều nhất không phải thiếu kỹ năng công nghệ. Tỷ lệ cho rằng thiếu kỹ năng là trở ngại chiếm 19,3%, trong khi 28% cho biết nguyên nhân quan trọng hơn là thiếu niềm tin rằng ý kiến, phản ánh của mình sẽ được cơ quan chức năng xử lý nghiêm túc. Điều này gợi mở một vấn đề quan trọng: điểm nghẽn của dân chủ số ngày càng dịch chuyển từ công nghệ sang thể chế và niềm tin. Người dân chỉ duy trì động lực tham gia khi họ thấy sự tham gia của mình tạo ra kết quả có thể nhận biết. Nếu gửi ý kiến nhưng không biết ý kiến đó được chuyển đến đâu, cơ quan nào xử lý, xử lý như thế nào và kết quả cuối cùng ra sao thì chi phí tâm lý của việc tham gia sẽ tăng lên, trong khi lợi ích kỳ vọng giảm xuống. Về lâu dài, điều này có thể làm suy giảm động lực tham gia dù hạ tầng kỹ thuật tiếp tục được cải thiện.

“Nút thắt” đáng lưu ý nằm ở khâu phản hồi và giải trình

Kết quả khảo sát cũng cho thấy sự thiếu cân đối khá rõ giữa khả năng truyền đạt thông tin từ cơ quan nhà nước tới người dân và khả năng phản hồi từ cơ quan nhà nước sau khi tiếp nhận ý kiến của người dân. Trong khi khâu cung cấp, phổ biến thông tin được đánh giá tương đối tích cực, việc công khai kết quả xử lý kiến nghị còn hạn chế. Có 29,2% ý kiến khảo sát cho rằng cơ quan chức năng có công bố kết quả xử lý nhưng không thường xuyên; 35,6% đánh giá kết quả xử lý hầu như không hoặc hoàn toàn không được công khai đầy đủ để người dân theo dõi. Vấn đề ở đây không phải là thiếu kênh tiếp nhận, mà là chu trình tham gia chưa thực sự khép kín. Một cơ chế dân chủ số đầy đủ phải hình thành được chu trình: Thông tin → tham gia → tiếp nhận → xử lý → phản hồi → công khai → giám sát. Nếu chu trình dừng lại ở bước tiếp nhận, việc mở thêm ứng dụng hoặc cổng thông tin chưa chắc làm tăng chất lượng dân chủ.

Từ góc độ kinh tế học thông tin, phản hồi và giải trình có vai trò làm giảm tình trạng bất cân xứng thông tin giữa cơ quan thực thi quyền lực công và người dân. Khi quy trình xử lý có thể được theo dõi và kết quả được công khai, người dân có thêm thông tin để đánh giá hoạt động của bộ máy; đồng thời cán bộ, cơ quan thực thi cũng có động lực cao hơn để hoàn thành trách nhiệm được giao. Bởi vậy, giai đoạn tiếp theo của dân chủ số cần chuyển từ tư duy “mở rộng kênh tiếp nhận” sang “nâng cao chất lượng phản hồi”.

Dữ liệu và năng lực thực thi đang trở thành những điều kiện quyết định

Một hạn chế khác nằm ở khả năng liên thông dữ liệu giữa các cơ quan và các chủ thể tham gia quản trị. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ phối hợp giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và doanh nghiệp công nghệ chưa cao. Dữ liệu vẫn có thể nằm phân tán tại nhiều cơ quan và nền tảng khác nhau, làm gia tăng chi phí xử lý và hạn chế khả năng theo dõi toàn bộ quá trình giải quyết một phản ánh hoặc kiến nghị.

Trong môi trường số, dữ liệu không chỉ là nguồn lực phục vụ quản lý, mà còn là hạ tầng của minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nếu người dân phải nhiều lần cung cấp cùng một thông tin cho các cơ quan khác nhau hoặc một phản ánh phải chuyển qua nhiều hệ thống không kết nối, lợi thế giảm chi phí giao dịch của công nghệ sẽ không được phát huy đầy đủ. 

Cùng với đó, quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức và vận hành chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực công vụ số ở cấp cơ sở. Cán bộ không chỉ cần biết sử dụng phần mềm, mà còn phải có khả năng xử lý dữ liệu, phản hồi kiến nghị trực tuyến, giao tiếp với công dân trên môi trường số, bảo vệ thông tin cá nhân và thực hiện trách nhiệm giải trình trong điều kiện các quy trình nghiệp vụ ngày càng được số hóa.

Như vậy, những điểm nghẽn hiện nay của dân chủ số ở Việt Nam không hoàn toàn nằm ở thiếu hụt công nghệ. Khó khăn lớn hơn là khả năng chuyển hóa hạ tầng số thành năng lực thể chế, tức là biến khả năng kết nối thành sự tham gia thực chất, biến dữ liệu thành minh bạch và biến ý kiến của công dân thành trách nhiệm phản hồi của cơ quan công quyền.

3. Chuyển trọng tâm từ phát triển nền tảng sang nâng cao chất lượng thể chế dân chủ số

Từ những vấn đề trên, phát triển dân chủ số trong giai đoạn tới không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc xây dựng thêm nhiều nền tảng mới. Điều quan trọng hơn là nâng cao chất lượng vận hành của các nền tảng hiện có và hoàn thiện những cơ chế thể chế bảo đảm sự tham gia của người dân tạo ra phản hồi thực chất.

Thứ nhất, xây dựng cơ chế phản hồi - giải trình thành mắt xích trung tâm của dân chủ số.

Nếu giai đoạn đầu của chính phủ số tập trung vào việc đưa dịch vụ công và các kênh tương tác lên môi trường trực tuyến thì giai đoạn tiếp theo cần chuyển mạnh sang quản trị chất lượng của quá trình tương tác. Mỗi phản ánh, kiến nghị của người dân sau khi được tiếp nhận cần có khả năng xác định trạng thái xử lý, đơn vị chịu trách nhiệm và kết quả cuối cùng. Với những vấn đề có phạm vi tác động rộng, việc công khai căn cứ và kết quả xử lý cần trở thành một thành phần bình thường của quản trị công. Quan trọng hơn, trách nhiệm phản hồi không nên được xem đơn thuần là chức năng kỹ thuật của phần mềm mà phải trở thành một phần của trách nhiệm công vụ.

Theo đó, đánh giá hiệu quả của các nền tảng dân chủ số cần chuyển từ những chỉ số đầu vào như số lượng tài khoản, lượt truy cập hay số phản ánh được tiếp nhận sang những chỉ số phản ánh kết quả: tỷ lệ xử lý, thời gian phản hồi, mức độ công khai, mức độ hài lòng và khả năng theo dõi kết quả của người dân. Sự thay đổi này có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành một cơ chế khuyến khích mới đối với bộ máy công quyền: chất lượng phục vụ và khả năng giải trình trở thành những kết quả có thể nhận diện và đánh giá.

Thứ hai, coi dữ liệu công là một hạ tầng của minh bạch và giám sát xã hội.

Phát huy dân chủ số đòi hỏi thay đổi cách nhìn về dữ liệu. Dữ liệu không chỉ phục vụ Nhà nước ra quyết định mà, trong phạm vi pháp luật cho phép, còn phải giúp người dân thực hiện quyền biết, quyền tham gia và quyền giám sát. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thu thập, chia sẻ, sử dụng và công khai dữ liệu trên cơ sở bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật có liên quan.

Đối với những nhóm dữ liệu gắn trực tiếp với quyền và lợi ích của cộng đồng như quy hoạch, đầu tư công, ngân sách địa phương, tiến độ giải quyết thủ tục hành chính và kết quả xử lý kiến nghị, cần ưu tiên cung cấp theo hướng dễ tiếp cận, tìm kiếm và đối chiếu. Đồng thời, cần thúc đẩy khả năng liên thông giữa các hệ thống để giảm tình trạng người dân phải khai báo lại cùng một thông tin và hạn chế việc một phản ánh bị chia cắt khi chuyển qua nhiều cơ quan.

Trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và các công nghệ mới có thể hỗ trợ việc phân loại phản ánh, nhận diện nhóm vấn đề được xã hội quan tâm và nâng cao chất lượng dự báo chính sách. Tuy nhiên, việc ứng dụng phải đi cùng với các nguyên tắc về minh bạch thuật toán, bảo vệ dữ liệu cá nhân và trách nhiệm của con người đối với quyết định cuối cùng. Công nghệ càng phát triển thì yêu cầu kiểm soát quyền lực dựa trên công nghệ càng phải rõ ràng.

Thứ ba, chuyển từ phổ cập kỹ năng số sang nâng cao năng lực tham gia số của công dân.

Thu hẹp khoảng cách số trong giai đoạn mới không thể chỉ đo bằng tỷ lệ người dân có internet hoặc điện thoại thông minh. Một xã hội có mức độ kết nối cao nhưng người dân ít tham gia vào các vấn đề công chưa thể được coi là đã khai thác đầy đủ tiềm năng dân chủ của chuyển đổi số. Do đó, chính sách cần chuyển từ “phổ cập khả năng truy cập” sang “nâng cao năng lực tham gia”. Người dân không chỉ cần biết sử dụng thiết bị mà còn cần biết tìm kiếm và kiểm chứng thông tin, lựa chọn kênh phản ánh chính thức, tham gia góp ý chính sách, theo dõi quá trình xử lý và bảo vệ quyền lợi của mình trên môi trường số. Các nền tảng của cơ quan nhà nước phải được thiết kế theo nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm: thao tác đơn giản, ngôn ngữ dễ hiểu, giảm số bước không cần thiết và phù hợp với các nhóm người dùng có trình độ công nghệ khác nhau. Đối với người cao tuổi, người dân ở khu vực khó khăn và các nhóm dễ bị tổn thương về khả năng tiếp cận số,  cần duy trì những hình thức hỗ trợ trực tiếp. Số hóa không nên tạo ra một rào cản mới đối với quyền tham gia. Quan trọng hơn, đào tạo kỹ năng chỉ có tác dụng lâu dài nếu đi cùng cải thiện chất lượng phản hồi của cơ quan nhà nước. Niềm tin đối với dân chủ số không được hình thành từ tuyên truyền về lợi ích của nền tảng mà chủ yếu từ những trải nghiệm cụ thể: ý kiến được lắng nghe, vấn đề được xử lý và kết quả có thể kiểm chứng.

Thứ tư, nâng cao năng lực công vụ số và thiết lập cơ chế khuyến khích dựa trên kết quả.

Cán bộ, công chức là cầu nối trực tiếp chuyển hóa thể chế và công nghệ thành trải nghiệm thực tế của người dân. Vì vậy, chất lượng dân chủ số phụ thuộc đáng kể vào năng lực thực thi của đội ngũ này.

Đào tạo cán bộ trong giai đoạn tới cần vượt khỏi phạm vi kỹ năng sử dụng phần mềm. Những năng lực quan trọng hơn bao gồm quản trị và khai thác dữ liệu; tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị trên môi trường trực tuyến; giao tiếp số; bảo vệ dữ liệu cá nhân; nhận diện thông tin sai lệch và thực hiện trách nhiệm giải trình.

Cùng với đào tạo, cần thay đổi cơ chế đánh giá. Dữ liệu phát sinh trong quá trình xử lý công việc có thể trở thành nguồn thông tin khách quan để đánh giá chất lượng công vụ: thời gian giải quyết, số nhiệm vụ quá hạn, tỷ lệ phản hồi, mức độ công khai và phản hồi của người dân. Tuy nhiên, sử dụng dữ liệu để đánh giá phải hướng đến tăng trách nhiệm và cải thiện quy trình, không làm phát sinh thêm các tầng nấc tiền kiểm hoặc tâm lý e ngại trách nhiệm. Một nền công vụ số hiệu quả phải tạo động lực cho cán bộ chủ động giải quyết vấn đề, đồng thời làm rõ trách nhiệm đối với những trường hợp trì hoãn, né tránh hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phản hồi.

Thứ năm, đặt an toàn dữ liệu và quyền của công dân vào trung tâm của thiết kế dân chủ số.

Mức độ tham gia của người dân phụ thuộc trực tiếp vào mức độ họ tin tưởng môi trường số. Người dân khó có thể chủ động phản ánh những vấn đề nhạy cảm nếu không biết dữ liệu của mình được sử dụng như thế nào, ai có quyền truy cập và trách nhiệm được xử lý ra sao nếu xảy ra rò rỉ hoặc lạm dụng thông tin. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân phải được xem là một điều kiện cấu thành của dân chủ số chứ không phải vấn đề kỹ thuật đứng bên ngoài. Các nền tảng cần áp dụng nguyên tắc an toàn ngay từ thiết kế; phân loại dữ liệu theo mức độ nhạy cảm; kiểm soát quyền truy cập; lưu vết các hoạt động xử lý; xây dựng cơ chế phát hiện và ứng phó sự cố. Đồng thời, người dân cần được biết rõ mục đích thu thập dữ liệu, phạm vi sử dụng và chia sẻ, thời gian lưu giữ cũng như phương thức bảo vệ quyền lợi khi xảy ra vi phạm. Bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ quyền công dân không phải hai yêu cầu đối lập. Một môi trường số an toàn, minh bạch và có trách nhiệm chính là điều kiện để mở rộng sự tham gia một cách bền vững.


1. OECD: Building Trust and Reinforcing Democracy: The OECD Reinforcing Democracy Initiative, OECD Publishing, Paris, 2022.

2. North, D. C: Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, Cambridge, 1990.

3. United Nations: United Nations E-Government Survey 2024: Accelerating Digital Transformation for Sustainable Development, United Nations Department of Economic and Social Affairs, New York, 2024.

4. Văn phòng Chính phủ: Thông báo số 712/TB-VPCP ngày 21-12-2025 về kết luận Hội nghị sơ kết 01 năm triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 05 năm thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính, 04 năm triển khai Đề án 06, Hà Nội, 2025.

5. Diệu Anh: “Sửa Hiến pháp nhằm đáp ứng chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị”, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 06/6/2025, https://baochinhphu.vn/sua-hien-phap-2013-vua-doi-moi-tu-duy-phap-luat-vua-phat-huy-dan-chu-thuc-chat-102250606213252299.htm.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin