1. Cách mạng Tháng Tám - Thắng lợi vĩ đại mang tính bước ngoặt của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khi Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, chủ nghĩa phátxít bị đánh bại, hệ thống thuộc địa của các đế quốc, thực dân bắt đầu có sự rung chuyển, rạn nứt. Ở Việt Nam, tình hình chính trị, xã hội rơi vào khủng hoảng toàn diện, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phátxít Nhật. Ngay sau khi phátxít Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh, ngày 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước. Với đường lối đúng đắn của Đảng và tư duy chính trị sắc bén của lãnh tụ Hồ Chí Minh, cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã nhanh chóng giành thắng lợi trên phạm vi cả nước chỉ trong vòng 15 ngày. Đỉnh cao là ngày 19/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, tiếp đó là Huế (ngày 23/8/1945), Sài Gòn (ngày 25/8/1945). Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại thoái vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến ở Việt Nam, chính quyền cách mạng được thiết lập ở hầu khắp các tỉnh, thành phố. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây là kết quả trực tiếp và vĩ đại nhất của Cách mạng Tháng Tám, đánh dấu sự kết thúc của chế độ thuộc địa, phong kiến, mở đầu cho kỷ nguyên mới của dân tộc.
Đi sâu vào nguyên nhân, bản chất sự việc, bắt đầu chính từ sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối cứu nước đúng đắn đã lãnh đạo, dẫn dắt, tập hợp, tổ chức, thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng đang cháy âm ỉ trong các tầng lớp nhân dân ta. Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng được mọi giai tầng trong xã hội hưởng ứng, tạo nên sức mạnh to lớn, thúc đẩy cao trào giải phóng dân tộc, dẫn tới thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, "đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do"1.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi vĩ đại, trang sử vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc vùng dậy vĩ đại của toàn dân tộc Việt Nam, thể hiện đỉnh cao của tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Đây không chỉ là một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, mà là biểu tượng của trí tuệ dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng này "đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa"2.
Thành công vang dội của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mang lại "cuộc đổi đời" lịch sử cho toàn dân tộc Việt Nam. Từ thân phận nô lệ, nhân dân ta đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình. Yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng là sự nhạy bén và tài tình của Đảng trong việc phân tích thời cơ, đánh giá đúng cục diện, từ đó kịp thời phát động tổng khởi nghĩa. Nhờ vậy, cách mạng không chỉ tránh được đổ máu, tổn thất lớn trong đối đầu quân sự, mà còn tạo thế hợp pháp, chính danh cho Chính phủ lâm thời của ta khi đối mặt với các lực lượng quốc tế.
Chính sự chuẩn bị cẩn trọng về mọi mặt cho khởi nghĩa mà cách mạng đã nhanh chóng đi đến thành công. Đảng ta khẳng định rõ: "Nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi"3. Điều đó cũng cho thấy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là sự tình cờ, ăn may, hay do "khoảng trống quyền lực" như một số quan điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, mà đó là kết quả tất yếu của đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt, kịp thời, sự lãnh đạo kiên định, nhất quán của Đảng, sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Đảng và Nhân dân ta trong suốt 15 năm đấu tranh cách mạng.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là khởi đầu của một bước ngoặt mang tính chiến lược trong tiến trình cách mạng Việt Nam, từ đấu tranh giành độc lập sang xây dựng nhà nước kiểu mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ chấm dứt ách thống trị của thực dân, phong kiến, mà còn là lần đầu tiên trong lịch sử dựng nên một nhà nước dân chủ độc lập, do nhân dân làm chủ. Cuộc cách mạng mang tính chất giải phóng dân tộc nhưng không dừng lại ở việc giành chính quyền, mà mở ra một chương mới, một thời kỳ mới trong lịch sử, thời kỳ độc lập dân tộc gắn liền với mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Từ đây, lịch sử Việt Nam bước sang một thời đại phát triển mới, nơi quyền lực thuộc về nhân dân và lý tưởng cách mạng vô sản trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ tiến trình phát triển của đất nước.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ mang ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, mà còn là một sự kiện trọng đại có tầm vóc quốc tế, góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX. Với thắng lợi vang dội, cuộc cách mạng đã giáng một đòn quyết định vào chủ nghĩa thực dân, phá vỡ một mắt xích quan trọng trong hệ thống thuộc địa toàn cầu, khởi đầu cho sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chứng minh rằng cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa nếu được tổ chức và lãnh đạo bởi một chính đảng kiểu mới, một Đảng Mác - Lênin với đường lối cách mạng đúng đắn, thì hoàn toàn có thể giành thắng lợi. Đây là minh chứng rõ nét về sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, là thành quả của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta, con đường gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Về ý nghĩa quốc tế, tầm vóc thời đại của sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc"4.
2. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, không chỉ chấm dứt ách thống trị của thực dân, phong kiến, mà đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Điều làm nên tính chất "bước ngoặt lịch sử" của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ nằm ở việc giành lại độc lập về chính trị, mà còn ở chỗ cuộc cách mạng đã xác lập một phương hướng phát triển lâu dài cho dân tộc Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển từ nhiệm vụ giành chính quyền sang nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ một nhà nước độc lập của nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ là thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn là sự mở đầu của một thời đại phát triển mới trong lịch sử dân tộc. Đây không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên sau khi giành được chính quyền, mà đã được Đảng ta chuẩn bị từ rất sớm cả về lý luận và thực tiễn. Đường lối chiến lược này được Đảng Cộng sản Đông Dương xác lập nhất quán từ Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) khi lần đầu tiên xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là trung tâm, đồng thời chuẩn bị các tiền đề để tiến tới cách mạng xã hội chủ nghĩa sau khi giành được độc lập. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã kết hợp nhuần nhuyễn hai mục tiêu chiến lược: giành độc lập dân tộc và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là điểm kết thúc của cách mạng Việt Nam, mà là điểm khởi đầu của một kỷ nguyên phát triển mới.
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là nội dung cốt lõi của kỷ nguyên mới mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra. Đây là sự lựa chọn có cơ sở khoa học, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam đầu thế kỷ XX và xu thế phát triển của thời đại. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn hòa quyện, gắn bó hữu cơ với nhau. Độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết, là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngược lại, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chiến lược, đích đến, là cơ sở bảo đảm vững chắc để nền độc lập được giữ vững và phát triển một cách thực chất, bền vững.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"5. Đây không chỉ là một tuyên bố chính trị, mà còn là kết luận mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, phản ánh sự lựa chọn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Người cũng chỉ rõ: "Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn"6. Với tư duy nhạy bén và nhãn quan chiến lược, Người đã tiếp thu và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện thực tiễn Việt Nam, xác định cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ: giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội, độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi gắn với sự nghiệp xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, không còn áp bức, bóc lột. Trong Chánh cương vắn tắt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ con đường cách mạng Việt Nam, đó là: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"7. Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu đó, coi sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.
Với Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, một dân tộc thuộc địa đã tự đứng lên giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác - Lênin còn non trẻ, đưa đất nước thoát khỏi ách nô lệ và bước vào con đường phát triển mới. Việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định chủ quyền quốc gia, mà còn khai sinh một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hàng loạt chính sách tiến bộ được triển khai nhằm xóa bỏ tàn dư phong kiến, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng chính quyền của nhân dân, từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một xã hội mới. Điều đó cho thấy mục tiêu của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không dừng lại ở việc giành chính quyền, mà hướng tới xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng và nhân văn theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ý nghĩa mở ra kỷ nguyên mới của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn thể hiện sâu sắc trong tư tưởng xuyên suốt về đường lối cách mạng của Đảng sau Cách mạng Tháng Tám. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh thù trong, giặc ngoài, Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu kết hợp giữa bảo vệ nền độc lập và xây dựng chế độ mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng không chỉ lãnh đạo nhân dân đấu tranh, mà còn từng bước cải biến xã hội, thực hiện các chính sách kinh tế, phát triển văn hóa, giáo dục, từng bước hình thành những yếu tố sơ khai của xã hội xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng ta chính thức đưa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn. Lúc này, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng mà đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của thực tiễn cách mạng. Trong khi đó, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Ở cả hai miền, tư tưởng gắn kết giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được thể hiện rõ nét: miền Bắc xây dựng hậu phương xã hội chủ nghĩa, miền Nam là tiền tuyến lớn chiến đấu với mục tiêu tối thượng là giành lại độc lập, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975 là kết quả tổng hợp của chiến lược kiên định con đường gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc đạt được không chỉ bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng bản lĩnh chính trị và lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã thấm sâu trong lòng dân tộc.
Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nhưng Đảng và Nhân dân ta vẫn không từ bỏ mục tiêu đã lựa chọn. Có thể thấy, đường lối kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với yêu cầu lịch sử trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà còn là kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, nền tảng không thể thiếu để xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngược lại, chủ nghĩa xã hội chính là con đường tất yếu để củng cố vững chắc và phát huy thành quả của nền độc lập, công cuộc giải phóng, thống nhất đất nước. Từ Đại hội VI (năm 1986), công cuộc đổi mới đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng về lý luận, phương pháp và tổ chức thực hiện chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Mô hình phát triển được điều chỉnh linh hoạt hơn, song vẫn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững các nguyên tắc cơ bản: kết hợp giữa phát triển kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa hội nhập quốc tế sâu rộng với giữ vững độc lập, tự chủ, kết hợp sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại...
Thực tiễn hơn tám thập niên sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tính đúng đắn và sức sống trường tồn của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, từ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đều gắn liền với việc kiên định mục tiêu chiến lược đó. Sự kiên định ấy là kiên định về mục tiêu, lý tưởng, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, bổ sung và phát triển lý luận, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn từng giai đoạn lịch sử. Chính sự thống nhất giữa kiên định và đổi mới, giữa giữ vững nguyên tắc và phát huy tính sáng tạo đã tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tiễn đó cũng là cơ sở để Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức lý luận về con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới.
Trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam và những biến đổi của tình hình thế giới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: "kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội"8. Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng được hình thành từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà còn là sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Việc tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho thấy sự kiên định nền tảng tư tưởng, nguyên tắc chiến lược xuyên suốt, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển đất nước với lợi ích quốc gia, dân tộc và khát vọng xây dựng một xã hội phồn vinh, hạnh phúc.
Từ nền tảng đó, Đại hội XIV của Đảng xác định Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với yêu cầu phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu cho phát triển nhanh và bền vững... Những định hướng này là sự cụ thể hóa và phát triển sáng tạo tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Đó là sự thống nhất giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người; giữa phát triển đất nước với tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, quá trình toàn cầu hóa, chuyển đổi số và những thách thức an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, những giá trị mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mang lại tiếp tục có ý nghĩa định hướng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa là điều kiện để giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa tạo nền tảng để phát huy nội lực, tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đồng thời, là cơ sở để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy ý chí tự cường, khát vọng phát triển đất nước và củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Không chỉ giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn xác lập con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, phản ánh quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, đồng thời thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được khai mở từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nền tảng để dân tộc Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, t. 69, tr. 281.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, t. 4, tr. 3.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 631.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 25.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 30.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 392.
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 1.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 73.