1. Nhận thức về kinh tế số và định hướng phát triển kinh tế số ở Việt Nam
Kinh tế số giữ vai trò động lực trung tâm của tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và các nền tảng số trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số góp phần nâng cao năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng, mở rộng không gian thị trường, đồng thời cải thiện chất lượng dịch vụ và đời sống của người dân.
Theo nhóm tác giả Phan Văn Rân và Ngô Chí Nguyện, "Kinh tế số là nền kinh tế ra đời và phát triển dựa trên việc ứng dụng công nghệ số"1. Tác giả Tô Trung Thành khẳng định: "Kinh tế số là toàn bộ mạng lưới các hoạt động kinh tế và xã hội được xây dựng, diễn ra dựa trên nền tảng số. Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng…) mà công nghệ số được áp dụng”2.
Từ các quan niệm trên có thể hiểu, kinh tế số là nền kinh tế mà các mối quan hệ, các hoạt động kinh tế và tài chính được thực hiện trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, internet và công nghệ viễn thông trong hệ thống mạng lưới sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên thị trường toàn cầu.
Ở Việt Nam, kinh tế số phát triển từ cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX khi internet bắt đầu có mặt tại nước ta và được phổ biến vào cuối những năm 2000 khi mật độ sử dụng điện thoại thông minh đạt mức 50%; đồng thời được thúc đẩy mạnh mẽ hơn cùng với sự xuất hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào nửa cuối những năm 2010. Có thể nói, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế là một trong những quan điểm lớn của Đảng trong chiến lược phát triển đất nước. Nhận thức tầm quan trọng của kinh tế số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nghị quyết đề ra 8 chủ trương, chính sách để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đặt ra nhiều mục tiêu cho giai đoạn 2025 - 2045, trong đó có đưa ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030, kinh tế số chiếm trên 30% GDP3. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định: "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc"4. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định: "Lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn"5.
Cùng với đó, Chính phủ đã chủ động nghiên cứu, xây dựng nhiều chính sách, đặc biệt là đã ban hành kịp thời các văn bản pháp quy như nghị định, thông tư để tạo dựng hành lang pháp lý, quản lý và điều tiết các mảng khác nhau của nền kinh tế số tại Việt Nam. Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu cụ thể đến năm 2030: "Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; Hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; Phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu; Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; Tỷ trọng quy mô đào tạo giáo dục đại học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) đạt 40%"6. Bên cạnh đó, Chính phủ đã và đang thực hiện các bước đi cần thiết để tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế số như: (1) Thực hiện sửa đổi, bổ sung thể chế, quy định pháp luật cho các ngành, trong đó có những ngành đang thực hiện nhiều mô hình kinh doanh mới như: thương mại điện tử, tài chính số, ngân hàng số. Thực hiện cải cách thể chế để thu hút đầu tư cho các công nghệ số. Hoàn thiện thể chế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư nguồn lực cho thi hành pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; (2) Xây dựng Chính phủ điện tử, chính phủ số, cải cách nền hành chính theo hướng số hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đã có những cấu phần đi vào vận hành như cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; (3) Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái số. Nhiều chương trình thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo được triển khai tích cực, bao gồm: Cơ quan Công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới sáng tạo công nghệ quốc gia. Chính phủ cũng thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm khởi nghiệp quốc gia; (4) Xây dựng các khung pháp lý về an toàn, an ninh mạng, trong đó có Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Chuyển đổi số… Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phát triển kinh tế số ở Việt Nam.
2. Thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025
Kinh tế số được xem là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam trong những thập niên tới. Do đó, thúc đẩy kinh tế số được Chính phủ Việt Nam coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng, đưa đất nước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Việt Nam đang trở thành một trong những địa điểm thu hút mạnh mẽ đầu tư kinh tế số ở Đông Nam Á. Trong giai đoạn 2021 - 2025, kinh tế số nổi lên như một trụ cột quan trọng trong Chiến lược chuyển đổi số quốc gia với tốc độ phát triển nhanh và tương đối đồng đều trên nhiều lĩnh vực, nhất là sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành. Thương mại điện tử, thanh toán số, dịch vụ trực tuyến, logistics thông minh và các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu đều tăng trưởng mạnh mẽ. Đồng thời, sự phát triển của Chính phủ số, đặc biệt là định danh điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và dịch vụ công trực tuyến đã tạo ra nền tảng quan trọng giúp giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin số. Những yếu tố này góp phần trực tiếp mở rộng của kinh tế số, thể hiện mối quan hệ tương hỗ giữa chiến lược chuyển đổi số và tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng quy mô giá trị tăng thêm của kinh tế số theo giá hiện hành bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 12,1%, trong đó năm 2021 đạt mức thấp nhất là 7,2%, năm 2025 cao nhất là 18,4%7.
Năm 2025, kinh tế số tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, gắn chặt với tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó các ngành kinh tế số lõi chiếm trên 60%, đồng thời mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực ngày càng được mở rộng, đặc biệt là thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng. Ở cấp địa phương, kinh tế số trở thành nhân tố tạo khác biệt về tăng trưởng, với một số tỉnh, thành phố có tỷ trọng đóng góp trong GRDP vượt 20%8. Đồng thời, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của nước ta liên tục tăng trong giai đoạn 2021 - 2025, từ 12,87% GDP năm 2021 lên 14,02% GDP năm 2025, trung bình giai đoạn này ước đạt khoảng 13,2%, trong đó ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,13% và số hóa các ngành khác là 5,05% (Xem Hình 1).
Hình 1. Quy mô và tốc độ tăng theo giá hiện hành giá trị tăng thêm của kinh tế số giai đoạn 2021 - 2025

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2026.
Theo ngành kinh tế, các ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,42%, (tương đương 43,3 tỷ USD) chiếm hơn 60% trong tổng giá trị kinh tế số năm 2025; các ngành số hóa chiếm 5,6% (tương đương 28,8 tỷ USD). Trong đó, một số ngành số hóa có giá trị tăng thêm kinh tế số cao như: Thương mại bán buôn, bán lẻ ứng dụng công nghệ số (thương mại điện tử) chiếm khoảng 11,8% trong tổng giá trị tăng thêm của kinh tế số; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí chiếm khoảng 4%; Hoạt động dịch vụ tài chính chiếm khoảng 2,6%. Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn chiếm 2,1%; Hoạt động phát thanh, truyền hình chiếm hơn 1,6%; một số ngành có hoạt động số hóa thấp và gần như không thực hiện số hóa như hoạt động thú y; hoạt động trợ giúp xã hội; hoạt động chăm sóc, điều dưỡng tập trung… (chiếm khoảng 0,01% tổng giá trị tăng thêm của kinh tế số)9. Trong đó, các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành có xu hướng tăng nhanh, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế số khu vực dịch vụ trong GDP từ 6,5% năm 2020 lên 7,2% năm 202510. Điều này thể hiện sự nỗ lực của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương trong việc đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, hoạt động số hóa của các ngành kinh tế ngày càng được tăng cường.
3. Những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế số ở Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam nằm trong những quốc gia có tốc độc tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực và thế giới. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục trong vòng hơn 35 năm qua và luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 7%/năm. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh và một nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, một thị trường nội địa gần 100 triệu dân sẽ là nền tảng và sức hút lớn thúc đẩy kinh tế số phát triển. Tuy nhiên, mức độ số hóa của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực ASEAN và châu Á, chỉ đứng thứ 70/141 quốc gia, với mức điểm là 12,06/25 điểm tối đa, chỉ cao hơn không đáng kể so với trung bình của thế giới (11,90 điểm)11.
Thứ hai, Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, năng động, dễ dàng tiếp thu những kiến thức và kỹ năng mới, trong đó có kiến thức và kỹ năng số, đây chính là chìa khóa quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế số. Tỷ lệ dân số ở độ tuổi lao động tương đối cao, với 40% dân số dưới 25 tuổi. Chính phủ Việt Nam đang chú trọng đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục kỹ thuật. Mặt khác, Việt Nam đang có sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, điều này giúp mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến nền kinh tế số. Tuy nhiên, giáo dục Việt Nam chưa theo kịp xu thế phát triển của kinh tế số, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi sang kinh tế số. Chất lượng nhân lực Việt Nam còn nhiều hạn chế cả về chuyên ngành đào tạo, kỹ năng làm việc… Mặt khác, Việt Nam hiện đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông. Vấn đề này nếu không được quan tâm đầu tư trong thời gian tới sẽ là một điểm nghẽn lớn cho phát triển kinh tế số.
Thứ ba, Chính phủ Việt Nam thể hiện rõ quyết tâm, định hướng và nỗ lực hành động mạnh mẽ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, trong đó chú trọng xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, hình thành cổng thông tin điện tử quốc gia, cải cách nền hành chính theo hướng số hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam coi kinh tế số là cơ hội để thúc đẩy phát triển kinh tế, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Tuy nhiên, do xuất phát điểm cho phát triển kinh tế số chậm hơn so với các nước trong khu vực, nhận thức, kiến thức của nhiều cán bộ, doanh nghiệp và người dân về kinh tế số còn chưa đồng đều ở các cấp, các ngành dẫn đến nhu cầu, kế hoạch và hành động nắm bắt xu thế kinh tế số còn chưa kịp thời, nhanh nhạy, sự chuyển đổi số ở một số cấp, ngành, địa phương và các doanh nghiệp còn hạn chế. Đặc biệt, hành lang pháp lý và môi trường thể chế chính sách vừa thiếu và yếu đã tạo ra nhiều bất cập và là rào cản lớn làm chậm xu hướng số hóa nền kinh tế Việt Nam.
Thứ tư, Việt Nam đang tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo, đang ở vị trí cao so với các nước có mức GDP tương đương và dẫn đầu trong số các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Với vị trí gần với trung tâm địa kinh tế toàn cầu và trung tâm công nghệ của thế giới, điều này tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp khởi nghiệp về công nghệ có thể tìm các nguồn tài chính cho đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ phần lớn các đăng ký sáng kiến của Việt Nam đến từ các công dân nước ngoài và số lượng này thường cao 8-10 lần so với công dân trong nước. Điều này phản ánh năng lực nội tại của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn một khoảng cách lớn với khu vực về đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, Việt Nam có tốc độ đổi mới công nghệ ngày càng nhanh, xuất hiện nhiều công nghệ có tính bước ngoặt, nhảy vọt như công nghệ truyền thông di động với mạng 4G hiện phủ sóng hơn 95% các hộ gia đình. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xuất hiện nhiều ngành công nghiệp công nghệ thông tin mũi nhọn như thương mại điện tử, kinh tế chia sẻ… Việt Nam hiện đang là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư và là môi trường với nhiều điều kiện ưu đãi để khởi nghiệp công nghệ. Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng hiện nay lại chưa theo kịp với tốc độ đổi mới công nghệ.
4. Một số hàm ý chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế số ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và khung pháp lý về kinh tế số theo hướng đồng bộ, hiện đại và thích ứng nhanh với sự phát triển của công nghệ. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo lập môi trường thuận lợi cho các mô hình kinh doanh mới, kinh tế nền tảng, kinh tế dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tài sản số và các dịch vụ số xuyên biên giới. Việc hoàn thiện thể chế cần bảo đảm nguyên tắc vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa tăng cường quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người dân cũng như bảo đảm chủ quyền số quốc gia. Đồng thời, đổi mới phương thức quản trị quốc gia trên nền tảng số. Việc phát triển kinh tế số cần gắn với xây dựng Chính phủ số, quản trị số và xã hội số, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia, tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và giảm chi phí giao dịch của nền kinh tế.
Hai là, ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng số đồng bộ, hiện đại và có tính kết nối cao. Nhà nước cần tập trung phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng, mạng 5G, trung tâm dữ liệu quốc gia, nền tảng điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu mở và hạ tầng số dùng chung, tạo nền tảng để phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đồng thời, cần thu hẹp khoảng cách số giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa các vùng, miền, bảo đảm mọi người dân và doanh nghiệp đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ số.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Cần tập trung đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu của thị trường lao động và xu thế phát triển công nghệ; tăng quy mô đào tạo các ngành STEM, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, an ninh mạng và công nghệ bán dẫn; đồng thời đẩy mạnh đào tạo lại, nâng cao kỹ năng số cho lực lượng lao động hiện có. Song song với đó, cần xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia công nghệ, nhân tài số và đội ngũ đổi mới sáng tạo trong nước và ngoài nước.
Bốn là, nâng cao năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, tư vấn chuyển đổi số, nền tảng số dùng chung và các giải pháp quản trị hiện đại; khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, iternet vạn vật và tự động hóa trong sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.
Năm là, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia gắn với phát triển kinh tế số. Cần hoàn thiện cơ chế thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học nhằm hình thành chuỗi đổi mới sáng tạo có khả năng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ số mang thương hiệu Việt Nam. Tăng cường quản trị dữ liệu, bảo đảm an toàn, an ninh mạng và xây dựng niềm tin số. Trong bối cảnh dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất mới, cần sớm hoàn thiện các quy định về quản lý, khai thác, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu; xây dựng cơ chế giám sát, cảnh báo và ứng phó với các nguy cơ mất an toàn thông tin; nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra ngày càng mạnh mẽ và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế số được xác định là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển đất nước. Trọng tâm là xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ về dữ liệu số, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực số, hoàn thiện hạ tầng số, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trên nền tảng số. Đồng thời, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo và người dân làm chủ thể thụ hưởng các thành quả của chuyển đổi số.
1. PGS.TS. Phan Văn Rân, TS. Ngô Chí Nguyện: “Để phát triển kinh tế số ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 10-2019, tr. 55.
2. PGS.TS. Tô Trung Thành: Năng suất lao động của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 12.
3. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
4. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 377.
6. Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030.
7. “Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021 - 2025”, Cục Thống kê, ngày 05/01/2026, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/.
8, 9, 10. "Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021 - 2025", Cục Thống kê, ngày 05/01/2026, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/.
11. ThS. ThS. Nguyễn Thị Đăng Thu: “Triển vọng phát triển kinh tế số ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế - Tài chính online, ngày 21/8/2024, https://tapchikinhtetaichinh.vn/trien-vong-phat-trien-kinh-te-so-o-viet-nam-22543.html.