Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập suốt đời trong công tác của lực lượng công an xã hiện nay

CT&PT - Bài viết phân tích những nội dung cơ bản trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, đồng thời làm rõ yêu cầu quán triệt và vận dụng tư tưởng đó vào công tác của lực lượng công an xã hiện nay, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ công an xã chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; hình thành phong cách công tác khoa học, gần dân, trọng dân, vì nhân dân phục vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Học tập suốt đời là tinh thần xuyên suốt, đồng thời là quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình hoàn thiện nhân cách, đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi con người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập không chỉ là quyền lợi, mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người đối với bản thân, gia đình, xã hội và với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người cho rằng: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi”1, “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”2. Quan điểm đó không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của tri thức và sự học đối với sự phát triển của xã hội, mà còn là phương châm sống, phương pháp tự rèn luyện mà Người thực hành suốt cả cuộc đời. Việc quán triệt và vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập suốt đời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, lực lượng công an xã nói riêng trong bối cảnh hiện nay, nhằm không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở.

1. Nội dung quan điểm Hồ Chí Minh về học tập suốt đời

Thứ nhất, về động cơ học tập suốt đời.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, động cơ học tập chân chính trước hết phải xuất phát từ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm đối với dân tộc và nhân dân. Người cho rằng, việc học không phải để cầu danh, cầu lợi, cũng không phải để mưu cầu địa vị, quyền lực, mà là để làm người có ích cho xã hội, cho đất nước. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, học cốt để biết đạo lý làm người, để giúp dân, không nên theo đuổi mục đích đỗ đạt để làm quan và nhũng nhiễu dân; còn tri thức là vũ khí sắc bén để giải phóng con người và dân tộc, nhưng phải gắn chặt với động cơ trong sáng là phục vụ lợi ích chung, vì sự nghiệp cách mạng, vì hạnh phúc của nhân dân. Tất nhiên, Người không phủ nhận việc học tập để đạt được lợi ích cá nhân, như để bản thân trở nên giàu có, để đỗ đạt cao, để được làm lãnh đạo… Người khẳng định: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình”3. Lợi ích cá nhân vẫn là một động lực quan trọng giúp cho cá nhân nỗ lực đưa xã hội phát triển. Tuy nhiên, những động cơ thuộc nhóm lợi ích cá nhân này chỉ được phép là động cơ thứ yếu, động cơ chủ đạo phải là “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ; Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”4.

Có thể thấy, xuất phát từ lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm đối với dân tộc, nhân dân là động cơ học tập đúng đắn. Hồ Chí Minh đã hoàn thành mục tiêu cao cả: giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân... Đây là động cơ chính đáng và lớn lao nhất của Người. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý, mà việc học tập của Người đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc.

Thứ hai, về mục đích học tập suốt đời.

Một là, học tập để xây dựng chủ nghĩa xã hội, để phục vụ cho Tổ quốc, nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, mục đích cao nhất của việc học là để tham gia vào sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: “Mục đích học là để làm kinh tế, chính trị, văn hóa đều tiến bộ, các dân tộc đoàn kết với nhau. Học để làm gì nữa? Để xây dựng chủ nghĩa xã hội”5. Theo Người, học tập giúp con người không chỉ tiếp thu tri thức mà còn phát triển năng lực nhận thức, khả năng giải quyết vấn đề một cách khoa học và sáng tạo. Nhờ đó, mỗi người có thể nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình đối với đất nước, tự nguyện gánh vác những nhiệm vụ lớn lao mà cách mạng và nhân dân giao phó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc học tập, rèn luyện không ngừng là điều kiện tất yếu để mỗi người có đủ khả năng tham gia vào sự nghiệp xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, tiến bộ, công bằng. Người từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”6. Như vậy, học tập suốt đời trên hết là để đóng góp cho đất nước, vì hạnh phúc, lợi ích của nhân dân, chứ không phải vì lợi ích cá nhân.

Hai là, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh mục đích của việc học tập trong quá trình tự hoàn thiện bản thân, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách cách mạng. Người căn dặn: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”7. Do đó, mục đích của học tập không chỉ để có tri thức, mà còn để làm cho cái tốt trong con người ngày càng phát triển, cái xấu, cái tiêu cực dần bị loại bỏ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ví điều đó như: “Làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”8, để mỗi người trở thành người cán bộ, công dân mẫu mực, sống tốt cho bản thân và xã hội.

Ba là, học tập để khẳng định năng lực làm chủ. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập không chỉ là tiếp thu tri thức, nâng cao hiểu biết mà còn là quá trình tự khẳng định giá trị, vị trí và vai trò của mỗi người trong xã hội. Nước ta là nước dân chủ, “dân là chủ” và “dân làm chủ”; vì vậy, học tập còn có mục đích cao cả là giúp mỗi người nâng cao năng lực làm chủ của mình, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người công dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để làm chủ đất nước, mỗi người dân, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải không ngừng học tập, rèn luyện. Người căn dặn nông dân phải học để trí thức hóa, trí thức phải học lao động để gắn bó với thực tiễn, giữ vững lập trường giai cấp công nhân; cán bộ, chiến sĩ công an, quân đội, viên chức, thanh niên, phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng và cả các cụ phụ lão đều phải học tập suốt đời. Người nhấn mạnh, nhân dân là người chủ thực sự của đất nước, nhưng để làm tốt vai trò làm chủ đó, mỗi người dân phải không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, kỹ năng và năng lực quản lý xã hội. Người khẳng định: “Ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình”9.

Thứ ba, phương pháp học tập suốt đời.

Một là, học ở mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc học tập không bị giới hạn bởi thời gian, không gian hay điều kiện hoàn cảnh cụ thể nào. Học tập là một quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm và hoàn thiện bản thân liên tục, bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người. Tấm gương tự học và học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là bài học sâu sắc, giàu giá trị thực tiễn cho các thế hệ người Việt Nam.

Thời gian ở Paris (Pháp), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành thuê một căn phòng nhỏ, cuộc sống vô cùng thiếu thốn, có khi cả ngày Người chỉ ăn một miếng bánh mì và một miếng pho mát. Vào mùa đông, Người sưởi ấm bằng một viên gạch hồng. Khi sống và làm việc tại Anh, Người từng làm nhiều công việc nặng nhọc như quét tuyết, đốt lò, phục vụ để kiếm sống. Dù phải lao động vất vả và đối mặt với nhiều khó khăn, Người vẫn luôn tranh thủ thời gian để tự học ngoại ngữ, đọc sách, báo. Từ thực tiễn cuộc đời hoạt động của mình, Người cho rằng việc học không phụ thuộc vào điều kiện thuận lợi hay khó khăn, mà phụ thuộc trước hết vào ý thức, quyết tâm và phương pháp của mỗi người. Đối với Người, bất cứ đâu cũng có thể trở thành môi trường học tập; mọi công việc, mọi trải nghiệm trong cuộc sống đều có thể trở thành nguồn tri thức quý giá nếu biết quan sát, suy ngẫm và rút ra bài học cho bản thân.

Không chỉ học ở mọi lúc, mọi nơi, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, ở mọi thời điểm, con người đều cần phải học. Theo Người, học tập là một công việc đầy khó khăn, vất vả, đòi hỏi sự bền bỉ, kiên trì và ý chí tự giác cao. Người cho rằng không chỉ trẻ em mới cần học, mà người lớn, người già cũng phải học. Người trẻ cần học vì còn phấn đấu dài lâu, còn nhanh nhạy tiếp thu; người già cũng cần học để không lạc hậu, để tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp cách mạng. Quan điểm đó thể hiện rất rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh: học tập là cần thiết cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi ngành, nghề, mọi hoàn cảnh. Xuất phát từ vai trò to lớn của học tập đối với sự phát triển của con người và sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh nguyên tắc: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”10. Đây không chỉ là lời khuyên mà còn là một phương châm hành động mà mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần quán triệt, thực hiện trong suốt cuộc đời mình.

Hai là, phải có tinh thần tự giác, vượt khó khăn, gian khổ để học tập. Trong quá trình học tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của sự tự giác, chủ động, kiên trì và bền bỉ. Người căn dặn: “Phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”11.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, dù không có nhiều điều kiện học tập chính quy về chính trị, nhưng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà chính trị kiệt xuất, một nhà lãnh đạo thiên tài. Mặc dù chưa từng được đào tạo chuyên nghiệp về báo chí, Người vẫn trở thành một nhà báo xuất sắc; mặc dù không học tập trong điều kiện thuận lợi, Người vẫn sử dụng thành thạo nhiều ngoại ngữ và có hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực. Tất cả đều nhờ có tinh thần tự giác, ý chí vượt khó và quá trình rèn luyện không ngừng nghỉ. Hồ Chí Minh đã học qua nhiều người, đến nhiều quốc gia, tích lũy kiến thức từ thực tiễn đời sống, từ lao động và tranh đấu cách mạng, từng bước hoàn thiện năng lực của bản thân. Sau này, khi đảm nhiệm những trọng trách cao nhất của Đảng và Nhà nước, dù công việc bộn bề, sức khỏe giảm sút do tuổi cao, Người vẫn giữ thói quen đọc sách, nghiên cứu tài liệu trong nước và quốc tế. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải không ngừng “tự động học tập” để nâng cao trình độ mọi mặt, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp cách mạng.

Ba là, học từ đồng chí, đồng đội, học từ nhân dân. Trả lời cho câu hỏi: “Học ở đâu?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”12. Theo Người, chính việc học tập, tiếp xúc với nhân dân sẽ giúp cán bộ, đảng viên gần gũi hơn với quần chúng, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân, từ đó nâng cao chất lượng công tác dân vận, tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với Nhân dân.

Phương pháp học từ nhân dân, đồng chí, đồng đội là phương pháp học tập thực tế, sinh động và phù hợp với điều kiện đất nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa quan điểm của Khổng Tử: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên” (Trong ba người cùng đi, tất có người là thầy ta). Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, không ở đâu là không thể học; kiến thức không chỉ có trong sách vở hay bài giảng của thầy cô, mà có ở mỗi con người, mỗi công việc, mỗi hoàn cảnh. Để học tập đúng đắn, mỗi  người cần học hỏi qua bạn bè, gia đình và những người xung quanh. Bởi kiến thức, kinh nghiệm của nhân loại là vô tận, không ai có thể tự nhận mình là hoàn hảo mà không cần học hỏi thêm.

Nói về công tác huấn luyện và học tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Học tập ở trường của Đoàn thể không phải như học ở trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”13. Người yêu cầu mỗi người phải nỗ lực học tập từ sách vở, giáo trình đến đồng chí, đồng đội, biến cái hay của người khác thành của mình, học hỏi từ kinh nghiệm, thực tiễn xung quanh, đồng thời biết tự thay đổi, khắc phục khó khăn, rèn luyện bản thân theo hướng tích cực. Thế giới luôn vận động, xã hội không ngừng tiến bộ, do đó, mỗi người phải không ngừng học tập, tự nghiên cứu ở mọi lúc, mọi nơi mới có thể theo kịp thời đại, đóng góp thiết thực cho tổ chức, đoàn thể và cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Thứ tư, nội dung học tập suốt đời.

Một là, học tập không chỉ giới hạn ở tri thức chính trị, văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và phương pháp công tác, mà còn phải bao hàm cả việc rèn luyện đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nội dung của học tập suốt đời phải đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước: “Chúng ta cần học nhiều thứ: học chính trị, học văn hóa, học kỹ thuật, nghiệp vụ”14. Người nhấn mạnh: “Nếu không học tập văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không học tập được kỹ thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp nhu cầu kinh tế nước nhà; nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi”15.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập là con đường tốt nhất để mỗi người làm giàu trí tuệ và hoàn thiện nhân cách, giúp bản thân không ngừng tiến bộ. Người từng nhắc nhở: “Học cốt để biết đạo lý làm người, để giúp dân, không nên theo đuổi mục đích đỗ đạt để làm quan và nhũng nhiễu dân”16. Theo đó, việc học tập không phải để chạy theo bằng cấp, danh vọng, tiền tài hay địa vị, mà phải nhằm trở thành người có tri thức, chuyên môn, văn hóa, đồng thời phải gắn với việc tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống, bảo đảm mỗi người hội tụ đủ cả “đức” và “tài”, vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Quá trình học tập chính là quá trình mở rộng tri thức, bồi đắp hiểu biết, phát huy ưu điểm, sở trường, làm cho năng lực tư duy, khả năng làm chủ và sáng tạo trong công tác, cuộc sống được nâng cao, tạo hiệu quả thiết thực, góp phần phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân tốt hơn. Đặc biệt, việc học không chỉ để mở mang tri thức mà phải đi đôi với việc không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, kiên quyết bảo vệ cái đúng, đấu tranh chống lại cái sai, lấy lẽ phải làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh yêu cầu việc dạy và học phải bảo đảm tính toàn diện cả về năng lực và phẩm chất: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”17.

Hai là, học tập phải tránh giáo điều, rập khuôn, cứng nhắc; lý luận phải gắn liền với thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh yêu cầu này đối với cán bộ, đảng viên. Ngay cả khi học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, Người cũng chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử lý mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”18.

Nguyên lý học đi đôi với hành là mối quan hệ biện chứng tất yếu đối với mọi người học và mọi cấp học. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”19. Với nguyên tắc học đến đâu thực hành đến đó, Người cũng là tấm gương sáng về phương pháp tự học và vận dụng thực tế hiệu quả, nhất là trong việc học ngoại ngữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn sinh động”20. Người cũng từng căn dặn: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”21. Do đó, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là phương pháp tiếp thu tri thức, mà còn mang tính định hướng giá trị, là ngọn đèn soi đường, kim chỉ nam cho hành động của toàn dân tộc.

2. Quán triệt vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập suốt đời trong công tác của lực lượng công an xã hiện nay

Từ ngày 01/7/2025, cả nước thực hiện Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện, sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, do đó nhiệm vụ của lực lượng công an nói chung và công an xã nói riêng ngày càng nhiều. Đặc biệt, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới đặt ra yêu cầu cấp thiết phải không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ công an xã.

Công an xã là lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở - nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội, phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư. Công an xã cũng là lực lượng nòng cốt trong thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ở cơ sở, như thu thập dữ liệu dân cư, cấp căn cước công dân có gắn chip điện tử, tham gia phòng, chống dịch Covid-19, bảo đảm an ninh, trật tự trong các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng… Đặc biệt, trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thì yêu cầu đổi mới sáng tạo trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở càng đòi hỏi lực lượng công an xã phải chủ động, sáng tạo, thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và công nghệ mới, làm chủ các thiết bị, phương tiện, công cụ hỗ trợ hiện đại. Học tập suốt đời vì vậy trở thành nhu cầu thiết yếu và là yêu cầu khách quan trong quá trình công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ công an xã, giúp mỗi cán bộ, chiến sĩ công an xã nắm vững và vận dụng hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực công tác. Theo đó, để vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về học tập suốt đời trong công tác của lực lượng công an xã hiện nay, cần thực hiện tốt một số giải pháp.

Thứ nhất, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò và sự cần thiết của việc học tập suốt đời đối với cán bộ, chiến sĩ công an xã. Các cấp ủy đảng, lãnh đạo, chỉ huy công an các cấp cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của học tập đối với cán bộ cách mạng, nhấn mạnh việc học tập suốt đời không chỉ là yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, mà còn là nhiệm vụ bắt buộc, nhu cầu thiết yếu của mỗi cán bộ, chiến sĩ công an xã trong quá trình công tác. Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giáo dục về giá trị và lợi ích thiết thực của việc học tập suốt đời, gắn với triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thứ hai, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tổ chức học tập, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho lực lượng công an xã. Ngoài các lớp bồi dưỡng tập trung, cần tăng cường tổ chức các hình thức học tập linh hoạt như học trực tuyến, học qua các chuyên đề, hội thảo, tọa đàm chuyên sâu; học theo nhóm; sinh hoạt chuyên đề tại đơn vị, chi bộ; học tập qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành, tài liệu nghiệp vụ; tham khảo mô hình, kinh nghiệm hay từ các địa phương khác. Đặc biệt, cần khai thác tối đa lợi thế của chuyển đổi số, xây dựng hệ thống bài giảng điện tử, video hướng dẫn, thư viện số và các nền tảng trực tuyến phục vụ nhu cầu học tập mọi lúc, mọi nơi của cán bộ, chiến sĩ công an xã.

Thứ ba, gắn việc học tập suốt đời với công tác tự phê bình và phê bình, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, chiến sĩ công an xã. Các đơn vị công an cấp xã cần duy trì nền nếp sinh hoạt chính trị, tư tưởng, sinh hoạt chuyên đề về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm về nghiệp vụ, xử lý tình huống thực tiễn; kịp thời biểu dương, nhân rộng gương người tốt, việc tốt, những tấm gương tự học, tự rèn luyện tiêu biểu. Qua đó, góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, ý thức phục vụ nhân dân và ý chí sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn của cán bộ, chiến sĩ công an xã.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác của cán bộ, chiến sĩ công an xã thông qua học tập suốt đời. Việc học tập suốt đời không chỉ dừng lại ở tiếp thu tri thức mà cần gắni với quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp và ý thức phục vụ nhân dân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ công an xã phải chủ động đề ra kế hoạch học tập, rèn luyện cho bản thân, thường xuyên kiểm điểm, tự soi, tự sửa theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với tiêu chuẩn người chiến sĩ Công an nhân dân trong tình hình mới. Các đơn vị công an xã cần tạo điều kiện, khuyến khích và có hình thức động viên kịp thời đối với những cán bộ, chiến sĩ tích cực tự học, tự rèn luyện; đồng thời phê bình, nhắc nhở những cán bộ, chiến sĩ có biểu hiện lơ là, buông lỏng việc tự tu dưỡng, rèn luyện.


1, 13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, t. 6, tr. 61, 360.

2, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 208.

3, 11, 20. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 610, 98, 95.

5, 6, 7, 8. 17. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 270; t. 4, tr. 272; t. 5, tr. 292; t. 15, tr. 672; t. 14, tr. 400.

9, 14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 527, 528.

10. 15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 377, 384.

12, 19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 361.

16. Bác Hồ thời niên thiếu, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 48-49.

18, 21. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 611.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin