Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI tại Hà Nội trước yêu cầu thu hút FDI thế hệ mới

CT&PT - Sự dịch chuyển của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo hướng công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu đang đặt ra yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước ở cấp địa phương. Bài viết làm rõ đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài thế hệ mới, phân tích thực trạng quản lý tại Hà Nội và chỉ ra khoảng cách giữa quy mô thu hút vốn với chất lượng, mức độ lan tỏa và năng lực quản trị. Từ đó, bài viết đề xuất chuyển sang mô hình quản trị theo vòng đời, dựa trên dữ liệu, kết quả và khả năng tạo giá trị cho kinh tế Thủ đô.

Sau gần bốn thập niên mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Đến cuối tháng 6/2026, Việt Nam đã thu hút gần 550 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký với hơn 46 nghìn dự án còn hiệu lực1. Quy mô tích lũy lớn làm thay đổi câu hỏi chính sách: vấn đề không còn chỉ là thu hút thêm vốn mà là dòng vốn đó mang theo công nghệ gì, tạo ra giá trị gia tăng như thế nào, hình thành được năng lực sản xuất mới nào và lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp trong nước ra sao.

Bối cảnh quốc tế càng làm yêu cầu này rõ nét. Tái cấu trúc chuỗi cung ứng, cạnh tranh công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và sự phát triển của bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu đang làm thay đổi tiêu chí lựa chọn địa điểm đầu tư. Nếu trước đây chi phí lao động, quỹ đất và ưu đãi tài chính có thể tạo lợi thế lớn, thì hiện nay chất lượng thể chế, khả năng dự báo chính sách, hạ tầng số, năng lượng xanh, nguồn nhân lực trình độ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngày càng có ý nghĩa quyết định2. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đối với Hà Nội không còn chỉ là mở rộng quy mô thu hút đầu tư, mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng lựa chọn những dự án có chất lượng, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, đồng thời quản lý hiệu quả để các nguồn lực này thực sự tạo ra tác động lan tỏa đối với kinh tế Thủ đô.

1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thế hệ mới và yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước

Đầu tư trực tiếp nước ngoài thế hệ mới không đơn thuần là đầu tư có quy mô vốn lớn hoặc sử dụng công nghệ hiện đại. Về bản chất, đây là sự chuyển dịch từ mô hình chủ yếu khai thác lợi thế chi phí, bổ sung vốn và mở rộng năng lực sản xuất sang mô hình mà dòng vốn quốc tế đồng thời tạo ra công nghệ, tri thức, kỹ năng, năng lực quản trị và việc làm có chất lượng. Khuyến nghị về chiến lược đầu tư trực tiếp nước ngoài thế hệ mới cho Việt Nam từ năm 2018 đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ xúc tiến tương đối dàn trải sang chủ động lựa chọn ngành, lĩnh vực và nhà đầu tư phù hợp với mục tiêu phát triển; đồng thời đổi mới ưu đãi, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước3.

Vì vậy, tiêu chí nhận diện chất lượng không thể chỉ dựa vào công nghệ “được mang đến”. Một dự án hiện đại nhưng nhập khẩu phần lớn đầu vào, ít sử dụng nhà cung ứng trong nước, không hình thành hoạt động nghiên cứu, không chuyển giao tri thức thì tác động đối với năng lực nội sinh vẫn hạn chế. Ngược lại, một dự án có thể không thuộc nhóm lớn nhất về vốn nhưng nếu tạo được đội ngũ kỹ sư, mạng lưới nhà cung ứng, hoạt động nghiên cứu và các chuẩn mực quản trị mới thì giá trị phát triển có thể cao hơn. Điểm cốt lõi của đầu tư thế hệ mới do đó nằm ở những năng lực mới được hình thành và lưu lại trong nền kinh tế tiếp nhận.

Yêu cầu này đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Ngân hàng Thế giới cho biết doanh nghiệp nước ngoài chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 20234. Khoảng cách đó cho thấy quy mô xuất khẩu và quy mô đầu tư lớn chưa tự động dẫn đến sự nâng cấp tương ứng của khu vực doanh nghiệp trong nước. Vì thế, hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài phải được xem xét từ khả năng chuyển hóa vốn, công nghệ và mạng lưới quốc tế thành năng suất, kỹ năng và sức cạnh tranh nội sinh.

Sự thay đổi của dòng vốn kéo theo thay đổi từ khâu lựa chọn dự án. Quản lý truyền thống thường tập trung vào tư cách pháp lý, quy mô vốn, ngành nghề, địa điểm, đất đai và điều kiện ưu đãi. Đối với đầu tư thế hệ mới, cơ quan quản lý còn phải đánh giá chất lượng công nghệ, năng lực tài chính thực chất, vị trí của nhà đầu tư trong chuỗi giá trị, khả năng hình thành hoạt động nghiên cứu, sử dụng nhân lực trình độ cao và mức độ phù hợp với chiến lược phát triển địa phương. Câu hỏi quản lý vì vậy phải chuyển dần từ “dự án có đáp ứng điều kiện hay không” sang “dự án tạo thêm năng lực gì cho nền kinh tế”.

Quản lý sau cấp phép cũng phải bao quát toàn bộ vòng đời. Khi dự án được lựa chọn trên cơ sở cam kết về công nghệ, đào tạo nhân lực, nội địa hóa hoặc phát triển xanh, việc theo dõi chỉ bằng tiến độ góp vốn và xây dựng là chưa đủ. Cơ quan nhà nước cần giám sát khoảng cách giữa cam kết và kết quả thực tế về vốn thực hiện, công nghệ, chất lượng nhân lực, liên kết nhà cung ứng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và trách nhiệm môi trường. Hậu kiểm theo cách tiếp cận này không phải tăng số cuộc thanh tra, mà là nâng khả năng phát hiện sớm rủi ro và nhận diện những sai lệch có ý nghĩa đối với chất lượng đầu tư.

Dữ liệu vì thế trở thành hạ tầng của quản lý. Thông tin về đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, thuế, đất đai, xây dựng, lao động, môi trường, xuất nhập khẩu và khoa học - công nghệ cần được liên thông để hình thành hồ sơ thống nhất đối với từng dự án. Số hóa thủ tục giúp thực hiện nhanh hơn quy trình hiện hữu; quản trị bằng dữ liệu đi xa hơn khi cho phép phân loại doanh nghiệp, dự báo rủi ro và hỗ trợ quyết định quản lý. Đồng thời, chính quyền phải mở rộng chức năng từ tạo thuận lợi đầu tư sang kiến tạo liên kết. Ngân hàng Thế giới từng khuyến nghị Hà Nội xác định doanh nghiệp trong nước có tiềm năng trở thành nhà cung ứng, hỗ trợ họ nâng cấp năng lực và khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài đào tạo nhân lực, chuyển giao tri thức5.

Những yêu cầu này được thể chế hóa rõ hơn trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết xác định lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm các tiêu chí chủ yếu; chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và điều hành theo kết quả; quản trị cả vòng đời dự án và gắn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước6. Từ góc độ này, mức độ sẵn sàng của Hà Nội không thể chỉ đo bằng số dự án hay vốn thu hút mà phải được đánh giá bằng khả năng lựa chọn, quản trị và chuyển hóa nguồn lực đầu tư thành năng lực phát triển của Thủ đô.

2. Thực trạng quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội nhìn từ yêu cầu thu hút FDI thế hệ mới

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội những năm gần đây tăng nhanh. Năm 2024, Thành phố thu hút 2,162 tỷ USD, gồm 293 dự án cấp mới với 1,212 tỷ USD; 205 dự án điều chỉnh tăng vốn với 297 triệu USD và 279 lượt góp vốn, mua cổ phần với giá trị 652 triệu USD7. Năm 2025, tổng vốn thu hút tăng lên khoảng 4,365 tỷ USD8. Đến ngày 15/6/2026, Hà Nội có trên 9.200 dự án còn hiệu lực với tổng vốn hơn 74,6 tỷ USD; riêng giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 11,3 tỷ USD9. Quy mô này cho thấy đối tượng quản lý ngày càng lớn và phức tạp, đặc biệt khi hoạt động đầu tư chuyển dần sang các lĩnh vực dựa nhiều hơn vào công nghệ và tài sản vô hình.

Một tín hiệu tích cực là cơ cấu dòng vốn mới bước đầu chuyển theo hướng phù hợp hơn với lợi thế của Thủ đô. Đến ngày 21/6/2026, vốn thu hút trong năm đạt khoảng 3,163 tỷ USD; khoảng 72% tập trung vào hoạt động dịch vụ, khoa học và công nghệ10. Tuy nhiên, cơ cấu tích lũy vẫn cho thấy bất động sản chiếm khoảng 36,54%, công nghiệp chế biến, chế tạo 23,61%, thương mại 12,43% và hoạt động chuyên môn, khoa học khoảng 12,4%; nhà đầu tư đến từ 117 quốc gia và vùng lãnh thổ11. Điều đó phản ánh quá trình chuyển dịch đã bắt đầu nhưng chưa đủ mạnh để hình thành rõ nét cấu trúc đầu tư dựa trên tri thức, nghiên cứu và công nghệ chiến lược.

Về thể chế, Hà Nội đã có những bước đi theo hướng giảm chi phí gia nhập và vận hành thị trường. Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 02/6/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về điều chỉnh thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp cắt giảm nhiều thành phần hồ sơ, thay thế 7 loại kết quả giải quyết bằng giấy bằng hình thức tra cứu trực tuyến; thời gian xử lý một số thủ tục thành lập, chia, tách, hợp nhất doanh nghiệp và đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được rút xuống còn 2 ngày làm việc; thủ tục chấm dứt hoạt động và giải thể còn 4 ngày làm việc12. Đây là cải thiện đáng ghi nhận, bởi tính minh bạch và tốc độ xử lý thủ tục là bộ phận quan trọng của môi trường tiếp nhận dòng vốn chất lượng cao.

Cách lựa chọn nhà đầu tư cũng bắt đầu chú trọng hơn tới năng lực thực hiện. Quy định về nhà đầu tư chiến lược yêu cầu dự án có quy mô vốn dưới 6.000 tỷ đồng phải hoàn tất đầu tư, xây dựng theo tiến độ nhưng tối đa không quá 3 năm kể từ khi được bàn giao đất; đối với dự án từ 6.000 tỷ đồng trở lên phải giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 3 năm theo các điều kiện quy định13. Việc gắn lựa chọn với tiến độ và giải ngân thực tế giúp hạn chế dự án lớn về danh nghĩa nhưng chậm triển khai. Tuy nhiên, đối với đầu tư thế hệ mới, tiêu chí theo dõi cần tiếp tục mở rộng sang công nghệ, nghiên cứu, nhân lực, môi trường và liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Các chỉ số về môi trường kinh doanh cho thấy kết quả cải cách chưa đồng đều. Năm 2024, Hà Nội đạt 68,38 điểm Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, xếp thứ 24/63 tỉnh, thành phố. Chỉ số gia nhập thị trường tăng từ 6,84 điểm năm 2023 lên 7,37 điểm năm 2024; tiếp cận đất đai tăng từ 5,89 lên 6,72 điểm. Trong khi đó, chi phí thời gian giảm từ 7,48 xuống 6,70 điểm, tính năng động của chính quyền giảm từ 6,35 xuống 6,02 điểm, cạnh tranh bình đẳng chỉ đạt 5,35 điểm14. Sang năm 2025, theo khung đánh giá mới, Hà Nội đạt 7,77 điểm về chi phí tuân thủ thủ tục hành chính và 6,69 điểm về tiếp cận nguồn lực, nhưng tính minh bạch chỉ đạt 6,06 điểm, cạnh tranh bình đẳng 4,77 điểm, thiết chế pháp lý 6,09 điểm và chính quyền kiến tạo 5,44 điểm15. Không nên so sánh cơ học hai năm do phương pháp đã thay đổi, nhưng các kết quả này vẫn cho thấy cải cách thủ tục cần được mở rộng sang chiều sâu của minh bạch, tính nhất quán và chất lượng thực thi.

Khoảng cách đáng chú ý hơn nằm giữa quy mô thu hút và tác động lan tỏa. Trong quá trình xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, Hà Nội đã nhận diện tỷ trọng dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo còn khiêm tốn; liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước chưa chặt; tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và giá trị gia tăng còn thấp16. Đây là hạn chế có tính cấu trúc. Nếu doanh nghiệp trong nước không trở thành nhà cung ứng, lao động không được nâng cấp kỹ năng và công nghệ không được hấp thụ thì dòng vốn lớn vẫn có thể tạo ra giá trị trực tiếp nhưng hiệu ứng nâng cấp nền kinh tế địa phương sẽ hạn chế.

Hà Nội có điều kiện để khắc phục khoảng cách này nhờ hệ thống đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Trong năm 2026, các hoạt động tại Hòa Lạc được đẩy mạnh theo hướng kết nối nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp, đưa công nghệ vào thực tiễn17. Tuy nhiên, để hình thành hệ sinh thái thực chất, cần có cơ sở dữ liệu nhu cầu công nghệ, chương trình phát triển nhà cung ứng và đầu mối điều phối đủ mạnh.

Áp lực đổi mới còn thể hiện rõ ở quản lý sau cấp phép. Với trên 9.200 dự án còn hiệu lực, phương thức dựa chủ yếu vào báo cáo định kỳ và thanh tra theo kế hoạch khó theo dõi đầy đủ chất lượng từng dự án, nhất là khi dòng vốn chuyển sang công nghệ, dữ liệu và tài sản trí tuệ. Rủi ro quản lý không còn chỉ là chậm tiến độ hay sử dụng đất mà mở rộng sang giao dịch liên kết, chuyển giá, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ, cam kết nghiên cứu, chất lượng công nghệ và trách nhiệm môi trường. Vì vậy, quản lý phải chuyển từ kiểm tra theo thời điểm sang theo dõi liên tục trên cơ sở dữ liệu liên thông.

Định hướng chính sách gần đây cho thấy Hà Nội đã bắt đầu dịch chuyển từ “nhiều vốn hơn” sang “vốn có chất lượng cao hơn”. Dự thảo Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 khoảng 80% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút mới đến từ các nền kinh tế phát triển; 50% vốn mới tập trung vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, công nghiệp xanh; khoảng 350 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45% trở lên và thu hút 10 tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở, văn phòng điều hành, trung tâm nghiên cứu hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo trên địa bàn18. Hệ mục tiêu này thể hiện bước chuyển từ đếm dự án và vốn đăng ký sang đo công nghệ, liên kết và năng lực nội sinh.

Nhìn tổng thể, Hà Nội đã có bước chuyển trong cải thiện môi trường đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư và định hướng dòng vốn vào khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, tốc độ chuyển đổi phương thức quản lý chưa theo kịp quy mô và tính chất mới của dòng vốn; còn khoảng cách giữa cải cách thủ tục với chiều sâu quản trị, giữa thu hút dự án với tạo liên kết, giữa cam kết đầu tư với khả năng theo dõi kết quả thực hiện. Vì vậy, trọng tâm giai đoạn tới phải là xây dựng năng lực quản trị đủ mạnh để chuyển dòng vốn thế hệ mới thành công nghệ, nhân lực, mạng lưới doanh nghiệp và giá trị gia tăng cho kinh tế Thủ đô.

3. Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI tại Hà Nội trước yêu cầu thu hút FDI thế hệ mới

Đổi mới quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội cần được đặt trong quá trình chuyển từ quản lý thủ tục sang quản trị phát triển. Chính quyền Thành phố không chỉ có trách nhiệm bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo, mà còn phải nâng cao năng lực lựa chọn dự án, giám sát thực hiện cam kết, phát hiện sớm rủi ro và kiến tạo các mối liên kết phát triển. Theo đó, hiệu quả quản lý không thể chỉ được đo bằng mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, mà cần được xem xét từ khả năng chuyển hóa nguồn lực đầu tư nước ngoài thành công nghệ, tri thức, việc làm chất lượng cao và năng lực cạnh tranh dài hạn của Thủ đô.

Một là, đổi mới tiêu chí lựa chọn và đánh giá dự án theo hướng coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị phát triển thực tế.

Hà Nội cần xây dựng bộ tiêu chí thống nhất áp dụng từ khâu xúc tiến, thẩm định, lựa chọn nhà đầu tư đến hậu kiểm dự án. Bên cạnh quy mô vốn đăng ký và tiến độ triển khai, cần bổ sung các chỉ tiêu phản ánh vốn thực hiện, chất lượng công nghệ, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển, số lượng lao động kỹ thuật và quản lý người Việt Nam, mức độ sử dụng nhà cung ứng trong nước, hiệu quả sử dụng đất và năng lượng, mức phát thải, đóng góp ngân sách và khả năng tái đầu tư. Đối với các dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt trên cơ sở cam kết về công nghệ, đào tạo nhân lực hoặc liên kết chuỗi cung ứng, mức hỗ trợ cần gắn với kết quả thực hiện thực tế. Cách tiếp cận này sẽ giúp chuyển trọng tâm quản lý từ xem xét cam kết đầu vào sang đánh giá giá trị mà dự án thực sự tạo ra cho nền kinh tế Thủ đô.

Hai là, tổ chức quản lý theo toàn bộ vòng đời dự án trên nền tảng dữ liệu dùng chung.

Mỗi dự án cần được hình thành một hồ sơ số xuyên suốt từ xúc tiến, cấp phép, xây dựng, vận hành, điều chỉnh, mở rộng đến chuyển nhượng hoặc chấm dứt hoạt động. Dữ liệu về đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, thuế, đất đai, xây dựng, lao động, bảo hiểm xã hội, môi trường và xuất nhập khẩu cần được kết nối theo thẩm quyền để tạo cơ sở theo dõi thống nhất. Trên nền tảng đó, Thành phố có thể thiết lập các chỉ báo cảnh báo sớm đối với dự án chậm tiến độ, không thực hiện đúng cam kết, sử dụng đất kém hiệu quả hoặc phát sinh rủi ro về thuế, môi trường và lao động. Quản trị dựa trên dữ liệu cũng cho phép giảm kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt, đồng thời tập trung nguồn lực vào nhóm có rủi ro cao, qua đó vừa nâng cao hiệu lực hậu kiểm vừa giảm chi phí tuân thủ.

Ba là, đưa liên kết và tác động lan tỏa trở thành một nội dung chính thức của quản lý nhà nước.

Hà Nội cần xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng trong nước theo từng ngành, lĩnh vực và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn; đồng thời thiết kế các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp có tiềm năng tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Nhu cầu về công nghệ, linh kiện, dịch vụ kỹ thuật và nhân lực của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được kết nối có hệ thống với doanh nghiệp trong nước, trường đại học, viện nghiên cứu và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước là một kênh quan trọng để lan tỏa công nghệ, tri thức và tiêu chuẩn quản trị, nhưng hiệu quả phụ thuộc đáng kể vào năng lực hấp thụ của khu vực nội địa và chất lượng chính sách kết nối19. Vì vậy, các chỉ tiêu về tỷ lệ nội địa hóa, số lượng nhà cung ứng, mức độ chuyển giao công nghệ không nên chỉ dừng ở mục tiêu định hướng, mà cần được cụ thể hóa thành chương trình có chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện và kết quả có thể đo lường.

Bốn là, phát triển đồng bộ hệ sinh thái tiếp nhận và hấp thụ công nghệ.

Khả năng thu hút đầu tư chất lượng cao phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực của địa phương trong cung cấp nhân lực, cơ sở nghiên cứu, hạ tầng dữ liệu, dịch vụ hỗ trợ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, chính sách đầu tư cần được tích hợp chặt chẽ với chính sách phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục đại học, đào tạo nhân lực và quy hoạch đô thị. Khu Công nghệ cao Hòa Lạc cần được kết nối thực chất hơn với mạng lưới trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo và các cụm doanh nghiệp trên địa bàn, qua đó hình thành không gian liên kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất - thương mại hóa công nghệ. Chỉ khi năng lực hấp thụ của nền kinh tế địa phương được nâng lên, Hà Nội mới có thể biến lợi thế về mật độ tri thức thành lợi thế cạnh tranh thực sự trong thu hút các trung tâm nghiên cứu và phát triển, dự án bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ chiến lược.

Năm là, nâng cao chất lượng thể chế, tính minh bạch và năng lực của bộ máy quản lý.

Hà Nội cần tiếp tục công khai tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư, điều kiện tiếp cận đất đai, tiêu chí hưởng hỗ trợ, quy trình giải quyết kiến nghị và trách nhiệm của cơ quan đầu mối. Cơ chế đối thoại với doanh nghiệp cần được sử dụng không chỉ để xử lý từng vụ việc, mà còn để nhận diện những điểm nghẽn lặp lại trong quá trình thực thi chính sách và kịp thời điều chỉnh quy trình quản lý. Cùng với đó, đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư cần được nâng cao năng lực về công nghệ, tài chính quốc tế, giao dịch liên kết, sở hữu trí tuệ, dữ liệu và tiêu chuẩn môi trường. Đối với các dự án chiến lược, cần xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm theo dõi xuyên suốt, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải làm việc với nhiều cơ quan nhưng thiếu một chủ thể chịu trách nhiệm tổng thể.

Sáu là, định vị lại lợi thế cạnh tranh của Hà Nội trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Thủ đô khó có thể và cũng không nên cạnh tranh chủ yếu bằng lao động giá thấp, quỹ đất lớn hay mức ưu đãi tài chính cao hơn các địa phương khác. Lợi thế bền vững của Hà Nội phải được xây dựng trên chất lượng thể chế, nguồn nhân lực trình độ cao, tiềm lực khoa học - công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ và khả năng kết nối quốc tế. Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu không chạy theo số lượng và không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội, an ninh kinh tế để lấy tăng trưởng đơn thuần. Theo đó, lựa chọn dự án cần dựa trước hết vào mức độ phù hợp với mô hình tăng trưởng dài hạn của Thủ đô, khả năng tạo giá trị gia tăng và tác động lan tỏa, thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn có thể đưa vào địa bàn.

*

*        *

Sự chuyển dịch của đầu tư trực tiếp nước ngoài sang các ngành dựa nhiều hơn vào công nghệ, tri thức, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và tiêu chuẩn xanh đang làm thay đổi căn bản bài toán quản lý ở cấp địa phương. Khi chất lượng dòng vốn được quyết định ngày càng nhiều bởi giá trị gia tăng, nghiên cứu, nhân lực và khả năng liên kết chuỗi, phương thức dựa chủ yếu vào cấp phép, ưu đãi và kiểm tra hành chính không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu.

Hà Nội có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận dòng vốn thế hệ mới nhưng vẫn còn khoảng cách giữa quy mô thu hút với chất lượng, liên kết và năng lực quản trị. Vì vậy, đổi mới quản lý cần hướng tới mô hình dựa trên chất lượng, dữ liệu, kết quả và tác động lan tỏa; thành công phải được đo bằng khả năng chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành công nghệ, tri thức, doanh nghiệp trong nước mạnh hơn và năng lực cạnh tranh bền vững của Thủ đô.


1. Xem:     Phạm Gia Túc: “Phát biểu của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 30/6/2026, https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-pho-thu-tuong-thuong-truc-pham-gia-tuc-tai-hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-nghi-quyet-so-10-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai-102260630090033401.htm.

2. Xem:     Nguyễn Văn Thắng: “FDI thế hệ mới cần cùng Việt Nam tạo ra giá trị mới, năng lực mới, vị thế mới”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 13/5/2026, https://baochinhphu.vn/fdi-the-he-moi-can-cung-viet-nam-tao-ra-gia-tri-moi-nang-luc-moi-vi-the-moi-102260513163005876.htm.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - International Finance Corporation: Recommendations on Vietnam’s Next-Generation FDI Strategy and Vision for 2020-2030, Hà Nội, 2018; xem Cục Đầu tư nước ngoài: “FDI strategy to become proactive”, Website of Foreign Investment, ngày 20/7/2018, https://fia.mof.gov.vn/en/Detail/CatID/b700358f-6a3c-4fe0-bba9-c3798094545e/NewsID/0cc9aa0d-2334-42a9-9f43-49192ee431d8.

4. World Bank: Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World - Pathways to a High-Income Future, World Bank, Washington, D.C., 2024, https://www.worldbank.org/en/country/vietnam/publication/viet-nam-2045-trading-up-in-a-changing-world.

5. Ousmane Dione: “How to attract more FDI to Hanoi in the post Covid-19 era?”, World Bank, ngày 30/6/2020, https://www.worldbank.org/en/news/speech/2020/06/30/how-to-attract-more-fdi-to-hanoi-in-the-post-covid-19-era.

6. Bộ Chính trị: Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-10-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai-11926061312552157.htm.

7. Thống kê thành phố Hà Nội: Niên giám thống kê điện tử thành phố Hà Nội năm 2024, ngày 02/7/2025, https://thongkehanoi.nso.gov.vn/nien-giam-thong-ke/12.

8. Nguyễn Hương: “Triển vọng tăng trưởng kinh tế của Hà Nội năm 2026”, Trang thông tin điện tử Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, ngày 11/02/2026, https://nief.mof.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/trien-vong-tang-truong-kinh-te-cua-ha-noi-nam-2026-11830.html.

9. Thùy Chi: “Hà Nội triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW”, Chuyên trang Thủ đô Hà Nội - Báo điện tử Chính phủ, ngày 30/6/2026, https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-trien-khai-ke-hoach-hanh-dong-thuc-hien-nghi-quyet-so-10-nq-tw-103260630203249523.htm.

10. “Thu hút FDI thế hệ mới - Động lực chiến lược cho tăng trưởng bền vững của Thủ đô”, Chuyên trang Thủ đô Hà Nội - Báo điện tử Chính phủ, ngày 11/7/2026, https://thanglong.chinhphu.vn/thu-hut-fdi-the-he-moi-dong-luc-chien-luoc-cho-tang-truong-ben-vung-cua-thu-do-103260707114505523.htm.

11. “Hà Nội dẫn đầu cả nước về thu hút FDI: Tạo đột phá và tiềm năng bứt phá”, Chuyên trang Thủ đô Hà Nội - Báo điện tử Chính phủ, ngày 29/7/2025, https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-dan-dau-ca-nuoc-ve-thu-hut-fdi-tao-dot-pha-va-tiem-nang-but-pha-103250729090140789.htm.

12. Nguyễn Mai Uyên: “HĐND thành phố Hà Nội ban hành nghị quyết điều chỉnh, cắt giảm thủ tục hành chính lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp theo Luật Thủ đô”, Cổng thông tin điện tử Sở Tài chính Hà Nội, ngày 06/7/2026, https://sotaichinh.hanoi.gov.vn/hdnd-thanh-pho-ha-noi-ban-hanh-nghi-quyet-dieu-chinh-cat-giam-thu-tuc-hanh-chinh-linh-vuc-dang-ky-doanh-nghiep-theo-luat-thu-do-140650.html.

13. “Thêm hành lang pháp lý trong thu hút đầu tư”, Cổng thông tin điện tử Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, ngày 16/7/2026, https://hhtip.hanoi.gov.vn/vi/tin-tuc/them-hanh-lang-phap-ly-trong-thu-hut-dau-tu-2818.html.

14. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2024, Hà Nội, 2025; dữ liệu Hồ sơ PCI thành phố Hà Nội, https://pcivietnam.vn/ho-so-tinh/ha-noi.

15. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Báo cáo thường niên Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 - Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2.0, Hà Nội, 2026, https://pcivietnam.vn/report-2025.

16. Thùy Chi: “Hà Nội triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW”, Tlđd.

17. “Khu Công nghệ cao Hòa Lạc: Kết nối nguồn lực để đưa công nghệ vào thực tiễn”, Chuyên trang Thủ đô Hà Nội - Báo điện tử Chính phủ, ngày 20/8/2026, https://thanglong.chinhphu.vn/khu-cong-nghe-cao-hoa-lac-ket-noi-nguon-luc-de-dua-cong-nghe-vao-thuc-tien-103260820214516959.htm.

18. Thùy Chi: “Hà Nội triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW”, Tlđd.

19. World Bank Group: Changing Foreign Direct Investment Dynamics and Policy Responses - White Paper for Japan’s G7 Presidency, World Bank Group, Washington, D.C., 2023, tr. 36, https://documents1.worldbank.org/curated/en/099103001022425218/pdf/IDU-2bf2dc8b-7df1-457d-88b1-1fdadd073c7e.pdf.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin