Dấu ấn đổi mới Võ Văn Kiệt 

CT&PT - Bàn về dấu ấn đổi mới Võ Văn Kiệt, Đảng ta khẳng định: “Với tầm tư duy chiến lược, với quyết tâm đổi mới, tác phong sâu sát, quyết đoán, luôn tìm tòi, trăn trở, đồng chí Võ Văn Kiệt đã góp phần xứng đáng vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo”. Để làm rõ nhận định Võ Văn Kiệt là con người của sự đổi mới, bài viết tập trung phân tích trên ba lĩnh vực chính, đó là đổi mới cách nghĩ, cách làm về kinh tế; đổi mới tư duy và hành động về chính trị; suy nghĩ và những bước đi đột phá về đối ngoại.

Đổi mới cách nghĩ, cách làm về kinh tế

Sau ngày đất nước thống nhất, trong những bước đi đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, những khuyết điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, làm cho tình hình kinh tế - xã hội rơi vào trì trệ, khủng hoảng, đặt ra yêu cầu cấp thiết đó là phải đổi mới mạnh mẽ. Trên cương vị người đứng đầu Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt “xuất hiện” như một nhà lãnh đạo tiên phong đột phá mở đường, tháo gỡ khó khăn. Để khắc phục tình trạng “bán như cho, mua như cướp”, đồng chí táo bạo “xé rào”, phá bỏ những bức tường “ngăn sông cấm chợ”, mở đường cho lưu thông hàng hóa giữa các địa phương trong cả nước. Đồng chí chủ trương thành lập “Tổ thu mua lúa gạo” ở vùng đồng bằng sông Cửu Long theo giá thỏa thuận với nông dân. Không chỉ được mệnh danh là “Chủ tịch gạo”, đồng chí Võ Văn Kiệt còn trực tiếp đi xuống các cơ sở sản xuất kinh doanh để “cởi trói” sản xuất hàng hóa. Trước tình trạng lạm phát phi mã lên tới 774%, đời sống của người dân lao động gặp rất nhiều khó khăn, đồng chí đã cùng công nhân tìm cách tháo gỡ “nút thắt” của cơ chế kế hoạch hóa tập trung để thúc đẩy sản xuất phát triển.

Năm 1981, đồng chí Võ Văn Kiệt thành lập Văn phòng Công tác nghiên cứu kinh tế trực thuộc Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh với cách tổ chức làm việc mới nhằm giải quyết những bế tắc về kinh tế. Đồng chí đã ký ban hành nhiều nghị định, quyết định liên quan tới việc bãi bỏ các trạm kiểm soát trên tất cả các tuyến giao thông trong cả nước; kinh tế tư doanh, kinh tế gia đình; giao quyền tự chủ cho các xí nghiệp quốc doanh, xóa bỏ hệ thống chỉ tiêu kế hoạch áp đặt từ trên xuống; tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam…

Những thử nghiệm, tìm tòi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ sau giải phóng miền Nam đến đầu thập kỷ 80 tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương trên cả nước đã góp phần quan trọng để Đảng và Chính phủ có những chỉ thị, quyết định trên con đường đi tới đổi mới2.

Cách làm, cách nghĩ đột phá, đổi mới đầu tiên về kinh tế của đồng chí Võ Văn Kiệt tuy còn sơ khai và chập chững, song nó mang lại giá trị lớn đó là xuất hiện hình dáng của thị trường. Với sự kiểm chứng bằng thực tiễn, hiệu quả thực tế qua cách nghĩ, cách làm mới mẻ của đồng chí Võ Văn Kiệt, đặc biệt là đời sống nhân dân được cải thiện, năng suất lao động được nâng cao và sản xuất phát triển, đã trở thành tiêu chuẩn, thước đo “đúng - sai”, là minh chứng sáng rõ kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đản ̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣(năm 1982) đưa ra một số quan điểm mới, song sự tìm tòi đổi mới còn gặp nhiều khó khăn, lực cản lớn như: còn tồn tại cách nghĩ, cách làm cũ; muốn đẩy nhanh cải tạo xã hội chủ nghĩa; thu mua, nắm nguồn hàng, cải tạo thị trường tự do. Việc níu kéo cái cũ đã làm cho khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày một nghiêm trọng, đời sống nhân dân, nhất là người dân lao động ngày càng khó khăn.

Trên những trọng trách mới được Đảng giao phó, đồng chí Võ Văn Kiệt luôn bám sát thực tiễn, tiếp tục tạo ra những “đột phá” mới, trong đó, đồng chí tổ chức nhiều chuyến đi khảo sát ở các địa phương, nhà máy, công trình lớn của đất nước, nắm bắt hơi thở của cuộc sống để có sự điều chỉnh, hoạch định chủ trương phù hợp với thực tiễn. Nắm vững quy luật của cuộc sống, đồng chí là người luôn đề cao cái mới, sâu sát, cụ thể, tỷ mỷ trong tổ chức thực hiện; khuyến khích tính năng động, sáng tạo, chủ động, tự chủ của các địa phương, các ngành; đề cao mở rộng dân chủ bàn bạc, mạnh dạn, quyết đoán.

Cách nghĩ và cách làm đổi mới của đồng chí Võ Văn Kiệt, đặc biệt là sự tham gia góp ý kiến, dự thảo nội dung, chỉ đạo triển khai các Nghị quyết Trung ương khóa V đã góp phần quan trọng đánh dấu bước đột phá thứ hai3 và bước đột phá thứ ba4, có ý nghĩa to lớn trong đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, đồng chí Võ Văn Kiệt là người chịu trách nhiệm “thiết kế” ba chương trình kinh tế lớn trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) nhằm “sửa sai” những chủ trương mang nặng tư tưởng chủ quan, duy ý chí trong phát triển kinh tế ở nước ta.

Cách nghĩ, cách làm đổi mới về kinh tế của đồng chí Võ Văn Kiệt gắn liền với các công trình do đồng chí đề xuất và chỉ đạo thực hiện. Không phải ngẫu nhiên mà nhân dân gọi đồng chí Võ Văn Kiệt với những cái tên trìu mến như “Thủ tướng điện”, “Thủ tướng cầu đường”, “Tổng công trình sư”. Từ một nhà lãnh đạo địa phương đến khi trở thành người đứng đầu Chính phủ, dù ở bất kỳ cương vị công tác nào, đồng chí Võ Văn Kiệt cũng luôn nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, gần gũi với nhân dân để đưa ra những chính sách có tính đổi mới, dám đột phá, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng.

Đổi mới tư duy và hành động về chính trị

Đổi mới tư duy và hành động về chính trị thực chất là trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những năm nửa sau thập kỷ 70 đến cuối thế kỷ XX, khi nhiều vấn đề chính trị chưa trở thành xu thế trong hệ thống chính trị của nước ta, đồng chí Võ Văn Kiệt là người tiên phong trong đổi mới về chính trị.

Quan điểm đổi mới về chính trị của đồng chí Võ Văn Kiệt được gói gọn trong câu nói nổi tiếng: “Đổi mới không phải là xóa bỏ hoàn toàn cái cũ hay từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà là nhận thức lại một cách đúng đắn hơn về một chủ nghĩa xã hội nhân bản, hoàn thiện, với lý tưởng phục vụ con người, vì con người”5. Điểm tựa của đồng chí Võ Văn Kiệt chính là lòng dân, bởi theo đồng chí “mất dân là mất tất cả”6. Đồng chí nhấn mạnh: “Đừng để người nghèo bị gạt ra bên lề của sự phát triển”7. Với sự gắn bó, sẻ chia và luôn đồng hành cùng người dân, đồng chí được nhân dân mến gọi với cái tên “vị Thủ tướng của người nghèo”.

Tư duy và tầm nhìn của đồng chí Võ Văn Kiệt thể hiện ở việc đồng chí tin vào quy luật khách quan và sức mạnh dân tộc. Bàn về sự phát triển của đất nước, đồng chí có cách nhìn đặc biệt khi so sánh sự tụt hậu, giáo điều, rập khuôn, máy móc của đất nước với các nước khác trong khu vực. Đồng chí vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn, gắn bó máu thịt với nhân dân và dựa vào đội ngũ trí thức với ý nghĩa là “nguyên khí quốc gia”. Kiên trì con đường thực hiện dân chủ dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng chí sớm tìm thấy động lực phát triển của đất nước, đó là lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, hòa hợp dân tộc.

Ngay sau giải phóng miền Nam, đồng chí Võ Văn Kiệt đã thực hiện ngay lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống bệnh hẹp hòi, quy tụ nhân tâm. Đồng chí là số ít trong các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước tập hợp được nhiều trí thức, kể cả những người có quan điểm đối lập. Đồng chí tổ chức nhóm nghiên cứu kinh tế trực thuộc Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, là người đỡ đầu của Nhóm Thứ Sáu - nhóm quy tụ một số nhà báo nổi tiếng như Phan Chánh Dưỡng, Trần Bá Tước, Phan Thành Chánh, Mai Kim Đỉnh, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Phan Tường Vân..., những cái tên sau này đã trở nên quen thuộc trong các bài báo bình luận, đánh giá tình hình kinh tế, phân tích, phản biện chính sách; lập tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và cải cách hành chính. Thấu hiểu “thống nhất nhân tâm” là cội nguồn sức mạnh dân tộc, không phân biệt giữa đội ngũ trí thức cũ với đội ngũ trí thức mới, đồng chí đến với họ bằng sự chân thành và tinh thần cầu thị, cởi mở. Đồng chí tâm niệm: “Theo kinh nghiệm lịch sử thế giới và bản thân nước ta, nhất là qua những kinh nghiệm của Bác Hồ, thấy rằng trí thức tận tâm hay không là tùy thuộc vào chúng ta có tin dùng trí thức hay không, có giao cho họ đảm nhiệm những trọng trách mà họ xứng đáng được đảm nhiệm hay không. Điều đó không tùy thuộc vào bản thân trí thức, mà vào lãnh đạo có đủ khả năng thu phục nhân tâm và nhân tài hay không?”8. Tư duy và cách làm của đồng chí Võ Văn Kiệt lúc bấy giờ được coi là “phá cách”, “phạm húy”, song đã phản ánh chân thực, rõ ràng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách dùng người: “ta cần phải hợp tác với những người ngoài Đảng. Ta không được khinh rẻ họ, chê bai họ. Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được rời xa dân chúng. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại9.

Giá trị trong cách nghĩ và cách làm của đồng chí Võ Văn Kiệt về đổi mới chính trị toát lên một điều căn cốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về lòng nhân ái và tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta, những tiếng gọi thiêng liêng như “đồng bào”, “Tổ quốc”, “con Lạc cháu Hồng”. Xuất phát từ sự chân thành vì lợi ích dân tộc và sự nghiệp cách mạng vĩ đại, luôn sống trong lòng dân, đồng chí Võ Văn Kiệt đã tìm thấy ở  đồng bào những phẩm chất quý báu như lòng tốt, sức dân, trí dân, khôn khéo, hăng hái, anh hùng.

Đồng chí Võ Văn Kiệt là một trong những nhà lãnh đạo nặng lòng với lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc về “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng10. “Chỉnh đốn lại” là mang tinh thần đổi mới. Xét đến cùng, điều mà đồng chí Võ Văn Kiệt luôn trăn trở trong đổi mới chính trị đó là phải đổi mới Đảng như thế nào? Đồng chí nhất quán quan điểm Đảng phải làm tốt vai trò lãnh đạo, nhất là lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, một cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất, một nhiệm vụ hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Muốn vậy, Đảng phải đổi mới chính mình một cách triệt, phải thực hiện dân chủ trong Đảng, đặc biệt là Đảng phải hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta là “Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”11 một cách khoa học và cách mạng. Đồng chí chia sẻ: Chưa bao giờ có ai trong chúng ta nói rằng không theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng trong thực tế, ở rất nhiều nơi, rất nhiều lúc, chúng ta đã vi phạm nghiêm trọng tư tưởng của Bác Hồ, nhưng hình như chưa có một công trình nào nhìn nhận một cách thẳng thắn xem chúng ta đã vận dụng đúng đắn và đã vi phạm những gì trong tư tưởng của Người? Ví dụ, Bác có nói đến Đảng của dân tộc Việt Nam… Chúng ta có theo tư tưởng ấy của Hồ Chí Minh không? Chúng ta đã làm gì để Đảng thực sự là Đảng của dân tộc?12.

Suy nghĩ và những bước đi đột phá về đối ngoại

Đặt đất nước trong bối cảnh cuối thập kỷ 80, những năm đầu thập kỷ 90 khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, nước ta bị cô lập do chính sách bao vậy, cấm vận cùng với sự khác biệt trong nhận thức và giải quyết mâu thuẫn về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản mới thấy rõ tinh thần đổi mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược về đối ngoại của đồng chí Võ Văn Kiệt.

Bằng cái tâm, đức, trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng cháy bỏng về một Việt Nam “muốn làm bạn với tất cả các nước, không gây thù oán với một ai”, sải bước cùng thời đại, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt đã đưa ra những nhận định mới: “Trong thế giới ngày nay không phải mâu thuẫn đối kháng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc, mà trước hết là tính đa dạng, đa cực đang trở thành nhân tố nổi trội nhất chi phối những mâu thuẫn và sự vận động của các mối quan hệ giữa mọi quốc gia. Và cũng khác với trước, ngày nay lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực và lợi ích toàn cầu khác đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong việc xử lý các mâu thuẫn cũng như trong việc tạo ra những tập hợp lực lượng mới trên thế giới”13.

Với chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”14, đồng chí Võ Văn Kiệt là người tiên phong trong việc phá thế bị bao vây, cấm vận của đất nước, mở đường cho một thời kỳ quan hệ ngày càng rộng mở với bạn bè quốc tế trong tiến trình hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới.

Trong tư thế của hai chân vững chắc là “độc lập, tự chủ”, nêu cao ý chí dân tộc, lòng tự tôn dân tộc, đồng chí Võ Văn Kiệt khẳng định: “Việt Nam coi dân tộc là trên hết”15. Về vấn đề thay đổi chỗ dựa quốc tế, hay nói đúng hơn là thay đổi chỗ dựa trong quan hệ quốc tế, đồng chí nhấn mạnh: “Ngày nay, khi thế giới hai cực không còn nữa thì Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác khó có thể tìm được chỗ dựa cụ thể ở một nước nào, một phe nào. Chỗ dựa và cách dựa bây giờ khác. Bây giờ không phải đi tìm một cường quốc nào đó, mà là cài đặt những lực lượng khác nhau vào một thế thuận lợi cho Việt Nam”16.

Với quan điểm “hòa nhập nhưng không hòa tan”, đồng chí Võ Văn Kiệt đã cho thế giới thấy rõ một Việt Nam khát khao tự do độc lập, dân chủ, tiến bộ, muốn làm bạn với các nước, trong một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển. Đồng chí chỉ rõ, thập kỷ 90 là giai đoạn mà đất nước ở trong một tình thế buộc Chính phủ phải nhanh chóng hành động, tình hình thế giới cho phép Việt Nam tiếp cận rộng rãi với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề thực hiện không đơn giản, dễ dàng. Ở đây, yếu tố chủ quan, của người đứng đầu Chính phủ Võ Văn Kiệt với tư duy táo bạo, tầm nhìn chiến lược, quyết đoán, bản lĩnh, trí tuệ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý nghĩa quyết định. Việc nước ta sớm gia nhập ASEAN là một ví dụ điển hình. Vào thời điểm đó, tuy vẫn còn những ý kiến trái chiều, thận trọng, e ngại “hòa nhập hay hòa tan”, song đồng chí Võ Văn Kiệt đã khẳng định một cách quyết đoán: “Điện ngay cho anh Cầm trả lời ASEAN là Việt Nam đồng ý”17. Sau này đồng chí giải thích rằng, nếu khi đó chúng ta do dự thì sẽ bất lợi, họ sẽ nghĩ Việt Nam chỉ thăm dò chứ không thành thật và như vậy thì cơ hội bị bỏ mất không biết đến bao giờ.

Tư duy và hành động đổi mới, đột phá làm “tan băng” trong quan hệ đối ngoại qua các chuyến thăm chính thức nhiều nước trong khu vực và thế giới cho thấy sự quyết đoán, bản lĩnh nổi bật mang dấu ấn Võ Văn Kiệt18. Nhiều nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo Ngoại giao các nước trên thế giới cho rằng Võ Văn Kiệt là người đưa Việt Nam đến với thế giới và làm cho thế giới hiểu rõ hơn về Việt Nam; là người mở đường, có tầm nhìn xa và quyết tâm mở cửa, đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện quan hệ Việt Nam với các quốc gia khác, thực hiện nhiều sáng kiến lớn, đặc biệt là bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN và tham gia vào việc thành lập Diễn đàn Á - Âu; trở thành một trong những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước xuất sắc, một hình ảnh tiêu biểu của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.


1. Toàn văn Lời điếu đồng chí Võ Văn Kiệt do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Trưởng ban Lễ tang đọc tại Lễ truy điệu, ngày 15/6/2008, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/6759/toan-van-loi-dieu-dong-chi-vo-van-kiet-do-tong-bi-thu-nong-duc-manh%2C-truong-ban-le-tang-doc-tai-le-truy-dieu.aspx.

2. Bước đột phá thứ nhất được ghi nhận tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979).

3. Bước đột phá thứ hai được ghi nhận tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979).

4. Bước đột phá thứ ba được ghi nhận tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979).

5. Những câu chuyện về anh Sáu Dân (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt), Nxb. Thông tấn, 2008, tr. 5.

6, 7, 13. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Tỉnh ủy Vĩnh Long: Đồng chí Võ Văn Kiệt với cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 81, 328, 94.

8, 14, 17. Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, người sống mãi trong lòng nhân dân, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2012, tr. 57-58, 309, 287.

9, 10, 11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 278; t. 15, tr. 616; t. 7, tr. 41.

12. Xem Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh - Tỉnh ủy Vĩnh Long: Đồng chí Võ Văn Kiệt với cách mạng Việt Nam, Sđd, tr. 330-331.

14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 49.

16. Nhiều tác giả: Võ Văn Kiệt - Người thắp lửa, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr. 525.

18. Ba sự kiện đối ngoại nổi bật của Việt Nam diễn ra vào tháng 7/1995, gồm: Việt Nam gia nhập ASEAN; bình thường hóa quan hệ với Mỹ; ký Hiệp định khung với Cộng đồng châu Âu. Theo Nguyễn Mạnh Cầm, “đó là một mốc cực kỳ quan trọng, Việt Nam lần đầu tiên có quan hệ với tất cả các nước đang chi phối thế giới này”. Các nhà ngoại giao Việt Nam “đề nghị coi năm 1995 là “Năm Võ Văn Kiệt”. Tháng 3/1996, Việt Nam cùng với ASEAN, ASEAN + 3 và EU trở thành thành viên sáng lập của Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM).

PGS, TS. BÙI ĐÌNH PHONG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin