1. Sự cần thiết xây dựng hệ giá trị quốc gia
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (tháng 01/2021) nhấn mạnh: “… Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại…”1. Qua đó cho thấy quan điểm nổi bật, nội dung cốt lõi và các nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng giá trị văn hóa, phát huy sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển mang tính bước ngoặt của đất nước, hướng tới phát triển bền vững.
Thời kỳ phát triển bước ngoặt đặt ra yêu cầu cấp bách mang tầm chiến lược quan trọng, lâu dài là phải xây dựng giá trị văn hóa và phát huy sức mạnh con người Việt Nam.
Theo đó, Đảng ta nhấn mạnh: tiếp tục đổi mới sáng tạo, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy trong mỗi con người khát vọng cống hiến để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, dân tộc cường thịnh, trường tồn, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam là nước phát triển, thu nhập cao2. Để thực hiện mục tiêu phát triển đó, cần giải phóng và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của dân tộc và con người Việt Nam, tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, từ nguồn lực vật chất đến nguồn lực tinh thần vào việc thực hiện các chiến lược, chương trình phát triển quốc gia về kinh tế - xã hội và văn hóa, trong đó, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ - những bộ phận hữu cơ của văn hóa, phải được đặt vào vị trí quốc sách hàng đầu, là lĩnh vực đột phá, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Do đó, tầm nhìn chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển quốc gia phải bảo đảm không chỉ giải phóng và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo, toàn dụng nhân lực lao động, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, mà còn tạo ra sức mạnh tổng hợp, đồng thời không ngừng nuôi dưỡng, bồi đắp các nguồn trữ năng của dân tộc. Đó là “nguồn vốn” xã hội bảo đảm cho đất nước và con người Việt Nam phát triển lâu dài, bền vững, chủ động thích ứng và vượt lên mọi thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Xét theo quan điểm giá trị, nguồn trữ năng, nguồn vốn xã hội đó chính là vốn con người - tài nguyên của mọi loại tài nguyên. Đồng thời, đó còn là nguồn lực nội sinh từ văn hóa do chính người dân trong cộng đồng dân tộc sáng tạo, nuôi dưỡng và phát triển với tài trí, đức hạnh, bản lĩnh của mình, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm sự phát triển phong phú, dồi dào và vô tận của đất nước. Sức sống, sức sáng tạo, triển vọng phát triển của dân tộc được thể hiện qua văn hóa của dân tộc đó, bởi nội sinh văn hóa là sự vận động bền bỉ của sản xuất và tái sản xuất các sản phẩm, thành tựu và giá trị văn hóa, làm nên nội lực phát triển của quốc gia - dân tộc.
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế phải bao hàm cả hội nhập văn hóa, cụ thể là tiếp xúc - giao lưu - đối thoại giữa các nền văn hóa, thực hiện tiếp biến văn hóa để phát triển. Để vững bước đi lên trong thời đại mới, đòi hỏi phương thức phát triển của dân tộc phải kết hợp giữa nội lực và ngoại lực. Đó là sự kết hợp giữa các nguồn lực trong nước và nguồn lực quốc tế, củng cố và phát huy những giá trị bền vững của quốc gia - dân tộc với tiếp nhận sáng tạo những giá trị mới từ bên ngoài, chuyển hóa thành giá trị nội tại. Quan điểm và phương thức phát triển đó không chỉ dựa trên tinh thần đổi mới sáng tạo, mà còn thấm nhuần tinh thần khoan dung văn hóa. Ý nghĩa sâu xa của phát triển là phát triển văn hóa, phát triển con người, do đó phát triển phải bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng, tăng cường tính liên kết, hợp tác để phát triển; nếu biệt lập trong thế “ốc đảo” thì không thể phát triển. Trong quá trình phát triển thông qua hội nhập, nếu đánh mất bản sắc, đặc tính của mình, nghĩa là đánh mất những giá trị truyền thống, biến mình trở thành một “bản sao” mờ nhạt thì khó có thể phát triển bền vững, thậm chí là lụi tàn. Hội nhập luôn gắn liền với thời cơ và thách thức, đo đó, muốn hội nhập để phát triển, cần có đủ nội lực để giữ vững bản sắc, tự bảo vệ mình trước sự thâm nhập tiêu cực từ bên ngoài - “xâm lăng” văn hóa - một hình thức mới của chủ nghĩa thực dân.
Truyền thống và bản sắc dân tộc biểu đạt cốt cách, tâm hồn dân tộc. “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Văn hóa được ví như “giấy thông hành”, “tấm căn cước” để dân tộc gia nhập thế giới, tự nhận ra mình và bảo vệ mình trước thế giới đầy biến động. Do đó, cần xây dựng hệ giá trị quốc gia trong quá trình phát triển đất nước, coi đây là sự chuẩn bị chủ động và tất yếu để hội nhập. Không chỉ cần xây dựng về mặt lý thuyết, mà còn phải làm cho hệ giá trị quốc gia được thực hiện, định hình rõ trong thực tiễn cuộc sống, đồng thời định hướng mục tiêu phát triển của quốc gia đó trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống.
Từ hệ giá trị quốc gia có thể xác định, xây dựng và phát triển hệ giá trị văn hóa dân tộc với nền tảng, cơ sở là hệ giá trị gia đình và hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam. Muốn xây dựng văn hóa và phát huy sức mạnh con người phải bắt đầu từ xây dựng hệ giá trị quốc gia.
Hệ giá trị quốc gia phải là hệ giá trị phát triển của quốc gia đó, đóng vai trò là hệ giá trị tổng quát của văn hóa dân tộc, là chất lượng, trình độ văn hóa, sức bật văn hóa trong phát triển dân tộc.
2. Cơ sở hình thành hệ giá trị quốc gia
Hệ giá trị quốc gia luôn mang tính đặc trưng và biểu tượng, kết tinh những giá trị bền vững của dân tộc, định hình từ truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước, được gìn giữ và phát huy trong hiện tại và dẫn dắt dân tộc đó đi tới tương lai. Hệ giá trị quốc gia phản ánh trí tuệ và tâm hồn, cốt cách và bản lĩnh của dân tộc đó trong cộng đồng thế giới. Quốc gia - dân tộc đó có diện mạo ra sao, những đức tính, phẩm chất nào làm nên sự ưu trội của dân tộc, tỏ rõ sức sống và triển vọng trên con đường phát triển cũng như ảnh hưởng của nó trong đời sống quốc tế… là những câu hỏi đặt ra để dân tộc tự nhận thức, tự đánh giá về mình và đem lại sự hiểu biết cho các dân tộc khác khi tìm thấy câu trả lời từ bảng giá trị của quốc gia - dân tộc. Những giá trị đặc trưng và biểu tượng đó cho thấy những mong muốn, khát vọng tìm hiểu văn hóa của dân tộc khác, đem tinh hoa văn hóa của dân tộc mình hòa nhập vào kho tàng văn hóa nhân loại, đúng như định nghĩa của Nêhru: “Văn hóa là khả năng mình nỗ lực hiểu biết người khác và làm cho người khác hiểu mình”.
Văn hóa còn là biết lắng nghe theo tinh thần dân chủ, tiếp thu, học hỏi và vận dụng những cái đúng, cái tốt, cái hay. Văn hóa trong bản chất đích thực của nó không ích kỷ, hẹp hòi, trái lại, văn hóa là sự hào hiệp và phóng khoáng. Văn hóa qua lối sống và ứng xử của con người cũng như của cả dân tộc luôn gắn liền giữa “cho đi” và “nhận lại” để đổi mới, hội nhập và phát triển. Từ cảm quan văn hóa mà nhận ra tâm hồn dân tộc qua hệ giá trị quốc gia của dân tộc đó. Có thể tóm lược những cơ sở, căn cứ để xác định hệ giá trị quốc gia như sau:
Thứ nhất, từ lịch sử và đặc điểm hình thành quốc gia - dân tộc. Những yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã hội, hoạt động sản xuất - kinh tế, tổ chức đời sống cộng đồng, những khó khăn, thử thách phải vượt qua để tồn tại và phát triển... là môi trường tạo nên tâm lý, phẩm chất và bản sắc văn hóa dân tộc.
Thứ hai, từ truyền thống dựng nước và giữ nước. Những biến thiên, thăng trầm của lịch sử mà cộng đồng dân tộc đã trải qua góp phần tôi luyện, hun đúc nên những giá trị tinh thần thuộc về phẩm chất, ý chí, năng lực sáng tạo, hoài bão, khát vọng của cộng đồng dân tộc.
Thứ ba, từ sự giao lưu tiếp xúc văn hóa của dân tộc với các dân tộc khác dẫn tới nhu cầu tìm hiểu, khám phá, sáng tạo để phát triển trước những đòi hỏi mới của tình hình và hoàn cảnh.
Thứ tư, từ những kinh nghiệm, bài học được đúc kết qua thực tiễn lịch sử mà định hình các giá trị của dân tộc, con người và văn hóa dân tộc.
Thứ năm, từ hoài bão, khát vọng phát triển dân tộc trước yêu cầu mới của tình hình khu vực, thế giới và thời đại. Đó chính là khả năng thích ứng và bứt phá của dân tộc để phát triển nhanh và bền vững.
Đó là những cơ sở, căn cứ để xây dựng hệ giá trị quốc gia. Năng lực tự ý thức, tự phê phán, tự đổi mới để tự phát triển phải được thể hiện qua việc lựa chọn, định hướng các giá trị. Các giá trị đó vừa nói lên đặc trưng, biểu tượng quốc gia - dân tộc, vừa thể hiện phẩm chất, năng lực, bản lĩnh của con người Việt Nam trong thời đại mới, được bổ sung, phát triển trên cơ sở những giá trị mới hiện đại hoặc thể hiện tính sáng tạo, hiện đại, nhất là trong bước chuyển từ truyền thống đến hiện đại.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo, có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Việt Nam tỏ rõ sức sống, bản lĩnh sáng tạo hàng nghìn năm trong quá khứ bị phong kiến phương Bắc đô hộ mà không hề bị đồng hóa, vẫn bảo tồn và phát huy được các giá trị thuần Việt, tinh hoa Việt, tạo nên năng lực sống, năng lực sáng tạo và phát triển của dân tộc Việt Nam đến tận ngày nay. Việt Nam cũng đã trải qua những thử thách khốc liệt, những đau thương, mất mát của chiến tranh, song với sức mạnh bền bỉ của lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc được soi sáng bởi tư tưởng lớn “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã khẳng định sức sống mãnh liệt, bản lĩnh và nghị lực phi thường, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống qua mỗi thời kỳ.
Sức mạnh Việt Nam là sức mạnh của chủ nghĩa nhân đạo, nhân nghĩa và nhân văn: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo”, dựa vào truyền thống trọng chân lý và đạo lý, trọng tình thương và lẽ phải. Yêu chuộng hòa bình, có khát vọng độc lập, tự do, nhưng đó phải là nền hòa bình thực sự, độc lập, tự do thực sự chứ không phải giả hiệu.
Để tồn tại và phát triển, từ trải nghiệm thực tiễn, Việt Nam đã thích ứng và vượt lên mọi hoàn cảnh, nghịch cảnh; nhạy cảm với cái mới và chủ động đổi mới để phát triển. Lựa chọn các giá trị và xác lập hệ giá trị quốc gia của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh phải thể hiện được những điểm nhấn đó.
3. Một số đề xuất xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam
Về hệ giá trị quốc gia
Hệ giá trị quốc gia Việt Nam là hệ thống các giá trị chỉ đạo, định hướng sự phát triển của Việt Nam theo lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội theo đường lối và phương pháp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.
Hệ giá trị quốc gia Việt Nam được thực hiện thông qua đổi mới sáng tạo, xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội gắn liền với hội nhập quốc tế, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, dân tộc cường thịnh, trường tồn. Đó cũng là mục tiêu nhằm thực hiện tâm nguyện, hoài bão của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hai luận đề nổi bật: (1) Dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái; (2) Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là xây dựng một xã hội văn hóa cao.
Nội dung hệ giá trị quốc gia Việt Nam là một chỉnh thể gồm ba lớp quan hệ: Quan hệ thứ nhất là các giá trị cốt lõi, bao gồm bốn giá trị: hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do. Quan hệ thứ hai là các giá trị cơ bản, bao gồm bốn giá trị: đoàn kết, dân chủ, công bằng, bình đẳng. Quan hệ thứ ba là các giá trị hướng tới mục tiêu, bao gồm hai giá trị: phồn vinh, hạnh phúc.
Như vậy, có thể định hình hệ giá trị quốc gia Việt Nam gồm 10 giá trị, sắp xếp theo trật tự lôgic, phù hợp với trật tự các lớp quan hệ, đó là: hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do, đoàn kết, dân chủ, công bằng, bình đẳng, phồn vinh, hạnh phúc.
Hệ giá trị quốc gia là những giá trị gốc, là cơ sở, nền tảng để xây dựng hệ giá trị văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mang đặc trưng “dân tộc - nhân văn - dân chủ - khoa học”. Theo đó, hệ giá trị gia đình, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam cũng được xây dựng bảo đảm phù hợp với hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị quốc gia Việt Nam.
Về hệ giá trị văn hóa Việt Nam
Hệ giá trị văn hóa Việt Nam được định hình bởi 7 giá trị gồm: yêu nước, đoàn kết, khoan dung, lạc quan, sáng tạo, đổi mới, phát triển.
Về hệ giá trị gia đình Việt Nam
Hệ giá trị gia đình Việt Nam gồm 5 giá trị: hòa thuận, hiếu thảo, tình nghĩa, thủy chung, hạnh phúc.
Về hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam
Hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam gồm 10 giá trị: trung thực, khiêm tốn, vị tha, nhân ái, khoan dung, sáng tạo, năng động, cống hiến, đổi mới, phát triển.
4. Một số khuyến nghị xây dựng hệ giá trị quốc gia nhằm hướng tới thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Một là, tích cực tổ chức các tọa đàm, hội thảo khoa học theo từng chủ đề, tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, giới trí thức khoa học và văn nghệ sĩ, các nhà hoạt động xã hội, văn hóa, các nhà giáo dục, nhà lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành để thảo luận, thống nhất quan niệm, cân nhắc lựa chọn, kết hợp các giá trị truyền thống và hiện đại. Đặc biệt, tập trung làm rõ các luận chứng khoa học về giá trị, định hướng giá trị, giáo dục giá trị, từ đó xác định các cấp độ: giá trị quốc gia, giá trị văn hóa dân tộc, giá trị gia đình, giá trị chuẩn mực con người Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu của giới chuyên môn, cần lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hình thành dư luận xã hội quan tâm tích cực tới văn hóa và giá trị văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, tới hiện tại và tương lai của dân tộc.
Hai là, các cơ quan lãnh đạo có thẩm quyền cao nhất của Đảng và Nhà nước cần đưa ra kết luận về: hệ giá trị quốc gia Việt Nam; hệ giá trị văn hóa Việt Nam; hệ giá trị gia đình Việt Nam; hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh Nghị quyết của Đảng về văn hóa và con người, Nghị quyết của Quốc hội, Chương trình hành động của Chính phủ để thống nhất nhận thức và hành động.
Ba là, thực hành rộng rãi và thường xuyên trên phạm vi cả nước về đạo đức, lối sống theo các hệ giá trị, biến khát vọng phát triển thành hiện thực, góp phần chấn hưng đạo đức, chấn hưng giáo dục, chấn hưng văn hóa, chấn hưng dân tộc Việt Nam.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 143.
2. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 36.
GS, TS. HOÀNG CHÍ BẢO
Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương