Phát triển thị trường carbon ở Việt Nam hiện nay

CT&PT - Việt Nam đang phát triển thị trường carbon theo lộ trình: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và vận hành thử nghiệm sàn giao dịch carbon từ năm 2025, sau đó vận hành chính thức vào năm 2029. Mục tiêu là hỗ trợ cam kết giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, tạo nguồn tài chính mới cho các dự án giảm phát thải, thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

1. Khái quát về thị trường carbon

Thị trường carbon bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto của Liên hợp quốc về BĐKH, được thông qua vào năm 1997. Theo Nghị định thư Kyoto, các quốc gia có dư thừa quyền phát thải được bán cho hoặc mua từ các quốc gia phát thải nhiều hơn hoặc ít hơn mục tiêu cam kết. Từ đó, trên thế giới xuất hiện loại hàng hóa mới là các chứng chỉ giảm/hấp thụ phát thải khí nhà kính. Do carbon là khí nhà kính quy đổi tương đương của mọi khí nhà kính, nên các giao dịch được gọi chung là mua bán, trao đổi carbon, hình thành thị trường carbon hay thị trường tín chỉ carbon. (Liên Hợp quốc, 1997).

Trên thị trường tín chỉ carbon, có hai loại hàng hóa được giao dịch: hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon.

- Hạn ngạch phát thải là lượng khí nhà kính (tính theo tấn CO2 tương đương) mà cơ quan quản lý cho phép một tổ chức/cơ sở được phát thải trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu phát thải vượt quá hạn mức này, tổ chức phải mua thêm hạn ngạch từ đơn vị khác hoặc mua tín chỉ carbon để bù trừ - nếu không sẽ bị xử phạt.

- Tín chỉ carbon là lượng CO2 tương đương được giảm hoặc loại bỏ thông qua các hoạt động như trồng rừng, thu hồi khí, sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng… Những hoạt động này tạo ra giá trị phát thải thấp hơn so với các phương án truyền thống.

Thị trường carbon vận hành dựa trên cung và cầu đối với hai loại hàng hóa kể trên, được phân thành 2 loại:

undefined-67ee6aa56c407-1761691531.jpg

- Thị trường bắt buộc: là thị trường trong đó các cơ sở bắt buộc phải thực hiện giảm phát thải khí nhà kính, thể hiện ở lượng hạn ngạch phát thải mà cơ quan quản lý phân bổ cho mỗi cơ sở. Các cơ sở được phép mua bán trao đổi lượng hạn ngạch này trên thị trường. Ví dụ: cơ sở phát thải ít sẽ dư hạn ngạch để bán cho các cơ sở phát thải nhiều bị thiếu hạn ngạch. Tổng phát thải của thị trường sẽ không đổi. Do đó, mục đích chính của thị trường bắt buộc là để kiểm soát phát thải. Hàng hóa chính được giao dịch là hạn ngạch phát thải (nên thị trường carbon bắt buộc được đặc trưng bởi cơ chế giao dịch hạn ngạch phát thải), có thể cho phép sử dụng một lượng nhỏ tín chỉ carbon (thường 5-10%).

- Thị trường tự nguyện: là thị trường trong đó các doanh nghiệp tự nguyện thực hiện giảm phát thải khí nhà kính và mua tín chỉ carbon để đạt được mục tiêu này. Ví dụ, doanh nghiệp cam kết thực hiện net-zero, tuy nhiên do nhu cầu sản xuất - kinh doanh, họ vẫn phải dùng một lượng nhiên liệu hóa thạch nhất định, họ sẽ mua tín chỉ carbon trên thị trường để bù trừ cho phát thải từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch này. Như vậy, hàng hóa được giao dịch trên thị trường tự nguyện là tín chỉ carbon.

Có thể thấy, việc hình thành thị trường tín chỉ carbon là thể hiện cam kết giảm phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 (Net Zero), là bước cụ thể hóa cho những chính sách về giảm phát thải khí nhà kính, phân bổ hạn ngạch phát thải, trao đổi tín chỉ carbon, tạo nguồn lực tài chính xanh… Thông qua thị trường carbon, các công ty hoặc cá nhân có thể bù đắp lượng phát thải khí nhà kính bằng cách mua thêm hạn ngạch phát thải hoặc tín chỉ carbon từ các đơn vị loại bỏ hoặc giảm phát thải khí nhà kính.

2. Thực trạng thị trường carbon tại Việt Nam

Thực hiện mục tiêu chung hướng đến Net Zero vào năm 2050, Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng thị trường giao dịch tín chỉ carbon. Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020, tín chỉ carbon là chứng nhận có thể giao dịch thương mại và thể hiện quyền phát thải một tấn khí CO2 hoặc một tấn khí CO2 tương đương. Bên cạnh đó, Đề án “Phát triển thị trường carbon tại Việt Nam” được xây dựng trên cơ sở Nghị định 06/2022/NĐ-CP, theo đó, từ nay đến hết năm 2027, Việt Nam tập trung xây dựng quy định quản lý tín chỉ carbon, hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon; xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon; triển khai thí điểm cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong các lĩnh vực tiềm năng và hướng dẫn thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; thành lập và tổ chức vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon kể từ năm 2025; triển khai các hoạt động tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về phát triển thị trường carbon. Đặc biệt, từ năm 2028, nước ta sẽ vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon chính thức; quy định các hoạt động kết nối, trao đổi tín chỉ carbon trong nước với thị trường khu vực và thế giới.

Về đối tượng tham gia thị trường carbon tại Việt Nam, Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định gồm: (1) Các cơ sở phát thải khí nhà kính phải kiểm kê khí nhà kính do nhà nước và chính phủ ban hành; (2) Các đơn vị tham gia vào thị trường cần thực hiện theo cơ chế trao đổi, mua bán tín chỉ carbon trong nước và quốc tế, phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà trong đó Việt Nam là nước thành viên; (3) Các cá nhân và tổ chức có liên quan đến các hoạt động đầu tư, kinh doanh hạn ngạch phát thải khí nhà kính hay tín chỉ carbon trên thị trường. Quá trình thực hiện giao dịch và bù trừ tín chỉ carbon tại Việt Nam cũng đã được quy định tại Quyết định 888/QĐ-TTg ngày 25/7/2022 về việc phê duyệt Đề án triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu và Quyết định 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050. Về danh mục các cơ sở phát thải khí nhà kính, Quyết định 01/2022/QĐ-TTg quy định danh mục lĩnh vực, cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, theo đó có 1.912 cơ sở sẽ tham gia thị trường tín chỉ carbon trong nước.

Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn với các dự án chứng chỉ carbon. Theo số liệu trong báo cáo Trung tâm con người và thiên nhiên (PanNature) số tháng 3/2023, tính đến tháng 11/2022, có tổng cộng 276 dự án CDM (Cơ chế phát triển sạch - Clean Development Mecha-nism - CDM) và gần 29,4 triệu tín chỉ carbon đã được ban hành từ các dự án tín chỉ carbon được phát triển theo cơ chế CDM tại Việt Nam. Ngoài CDM, Việt Nam cũng phát triển các dự án tín chỉ carbon theo các tiêu chuẩn quốc tế độc lập. Theo Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trao đổi tín chỉ carbon tự nguyện từ Việt Nam, ra thế giới đã được các doanh nghiệp thực hiện từ giữa những năm 2000 khi triển khai các chương trình, dự án CDM. Trong thời gian qua, nước ta có hơn 300 chương trình, dự án đăng ký thực hiện theo các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon..., trong đó có khoảng 150 chương trình, dự án được cấp 40,2 triệu tín chỉ và trao đổi trên thị trường carbon thế giới. Việt Nam là một trong bốn nước có dự án CDM đăng ký nhiều nhất, sau Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ và đứng thứ 9 trên tổng số 80 quốc gia có dự án CDM được cấp tín chỉ. Việc hình thành và vận hành thị trường tín chỉ carbon sẽ giúp Việt Nam hưởng lợi tối đa từ thương mại quốc tế (như Hiệp định tự do thương mại EU - Việt Nam); tăng khả năng thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), cũng như tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu, nhất là xuất khẩu vào các thị trường khó tính có sự quan tâm cao tới bảo vệ môi trường như EU.

Mặc dù thị trường tín chỉ carbon được xem là giải pháp hữu hiệu để tạo động lực cho doanh nghiệp giảm thiểu khả năng phát thải, cắt giảm lượng khí thải hoặc chuyển sang sử dụng các công nghệ xanh, sạch, ít thải khí carbon mà hiệu quả hơn so với các công nghệ sản xuất truyền thống. Tuy nhiên, để vận hành thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các quy phạm, quy chuẩn mang tính kỹ thuật của thị trường như, cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước với khu vực và thế giới phù hợp với các quy định, điều ước quốc tế Việt Nam đã tham gia. Xây dựng bộ công cụ định giá carbon đảm bảo tính phù hợp và khả năng tương thích với các cơ chế định giá carbon quốc tế; Xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về thị trường tín chỉ carbon; các định mức phát thải trên đơn vị sản phẩm đối với các loại hình cơ sở sản xuất, kinh doanh. Hoàn thiện cơ chế vận hành, quản lý thị trường giao dịch tín chỉ carbon, kể cả các sàn giao dịch để thống nhất quản lý về nhà nước. Thiết lập hệ thống đăng ký quốc gia để quản lý toàn bộ tín chỉ carbon đồng thời kết nối với các hệ thống, tổ chức tiêu chuẩn trên thế giới. Các tổ chức, cá nhân sẽ đăng ký tài khoản, cung cấp thông tin liên quan về loại, lượng tín chỉ carbon đang sở hữu và các thông tin cần thiết khác để tham gia thị trường. Hỗ trợ doanh nghiệp và các bên liên quan có cơ hội được tiếp cận thông tin, kỹ thuật áp dụng để chủ động sẵn sàng tham gia thị trường carbon tại Việt Nam, từ đó gắn việc sản xuất với xác định lượng phát thải.

Để thực hiện điều này, sự hợp tác và phối hợp hiệu quả giữa doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và cơ quan quản lý công quốc gia là rất cần thiết. Trong mối quan hệ hợp tác này, khu vực doanh nghiệp sẽ là nhân tố cốt lõi vì họ là tác nhân tạo ra khí thải và là đối tượng sẽ tham gia và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thị trường tín chỉ carbon. Bên cạnh đó, cần đào tạo đội ngũ, năng lực quản lý, tổ chức vận hành thị trường carbon. Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đáp ứng việc sẵn sàng tham gia thị trường.

3. Giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Một là, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách.

Một trong những điều kiện tiên quyết để thị trường tín chỉ carbon hoạt động hiệu quả là phải có một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và minh bạch. Hiện nay, Việt Nam đã có những bước đi đầu tiên như ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone, trong đó có đề cập đến việc xây dựng thị trường carbon trong nước. Tuy nhiên, để thị trường này thực sự vận hành, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn chi tiết, bao gồm quy định về cấp phép, kiểm tra, giám sát, xử phạt vi phạm, và cơ chế định giá tín chỉ carbon. Ngoài ra, cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan như doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức trung gian và các nhà đầu tư. Việc tích hợp thị trường carbon vào các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính bền vững và đồng bộ trong triển khai.

Hai là, xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV).

Hệ thống MRV (Measurement, Reporting, and Verification) đóng vai trò trung tâm trong việc đảm bảo tính minh bạch và tin cậy của tín chỉ carbon. Một tín chỉ carbon chỉ có giá trị khi lượng phát thải được giảm thực sự, có thể đo lường và xác minh độc lập. Do đó, Việt Nam cần xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về đo lường phát thải khí nhà kính, quy trình báo cáo định kỳ và cơ chế thẩm định do các tổ chức độc lập thực hiện. Việc áp dụng công nghệ số, như cảm biến đo khí thải, phần mềm quản lý dữ liệu và hệ thống blockchain, có thể giúp tăng độ chính xác và giảm thiểu gian lận. Đồng thời, cần đào tạo đội ngũ chuyên gia MRV trong nước để đảm bảo năng lực triển khai và giám sát các dự án giảm phát thải theo đúng quy chuẩn quốc tế, từ đó nâng cao uy tín của tín chỉ carbon Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Ba là, phát triển hạ tầng kỹ thuật và nền tảng giao dịch.

Một thị trường tín chỉ carbon hiệu quả không thể thiếu một hạ tầng kỹ thuật hiện đại và một nền tảng giao dịch minh bạch. Việt Nam cần xây dựng một sàn giao dịch tín chỉ carbon quốc gia, nơi các doanh nghiệp có thể mua bán tín chỉ một cách công khai, minh bạch và theo giá thị trường. Nền tảng này cần tích hợp các chức năng như đăng ký dự án, xác nhận tín chỉ, theo dõi giao dịch, công bố thông tin và báo cáo định kỳ. Việc ứng dụng công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và blockchain sẽ giúp tăng tính minh bạch, giảm chi phí giao dịch và ngăn chặn gian lận. Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải khí nhà kính, kết nối với các bộ ngành và địa phương để đảm bảo tính đồng bộ và cập nhật liên tục. Việc kết nối sàn giao dịch trong nước với các thị trường quốc tế cũng là bước đi chiến lược để mở rộng quy mô và thu hút nhà đầu tư nước ngoài.

Bốn là, tăng cường năng lực cho các bên liên quan.

Sự thành công của thị trường tín chỉ carbon phụ thuộc rất lớn vào năng lực của các bên tham gia, đặc biệt là doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các tổ chức trung gian. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa hiểu rõ về cơ chế thị trường carbon, cách thức xây dựng dự án giảm phát thải hay lợi ích kinh tế từ việc bán tín chỉ. Do đó, cần tổ chức các chương trình đào tạo, hội thảo, khóa học chuyên sâu về thị trường carbon, MRV, xây dựng dự án theo tiêu chuẩn quốc tế (như VCS, Gold Standard), và kỹ năng thương thảo hợp đồng tín chỉ. Đồng thời, cần xây dựng mạng lưới chuyên gia, tư vấn viên và tổ chức chứng nhận trong nước để hỗ trợ doanh nghiệp từ khâu lập kế hoạch đến triển khai và giám sát dự án. Việc nâng cao năng lực không chỉ giúp tăng số lượng và chất lượng tín chỉ phát hành mà còn tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Năm là, hỗ trợ đào tạo và chuyển giao công nghệ. 

Chính sách này cung cấp nguồn tài chính để hỗ trợ hoạt động đào tạo và chuyển giao công nghệ sạch cho doanh nghiệp và tổ chức, giúp họ hiểu và áp dụng công nghệ sạch vào sản xuất, kinh doanh của mình. Đây cũng là chính sách nhằm tăng cường lượng tín chỉ các-bon có thể trao đổi. Chính phủ Việt Nam cũng cần thiết lập cơ chế hỗ trợ và khuyến khích đầu tư vào các dự án giảm thiểu khí thải. Ngoài ra, Chính phủ cần quan tâm đến việc tạo ra một thị trường các-bon có tính minh bạch và công bằng, giúp doanh nghiệp có cơ hội tham gia thị trường một cách công bằng và bảo đảm tính an toàn cho giao dịch trên thị trường này.

Sáu là, thúc đẩy hợp tác quốc tế và kết nối thị trường.

Thị trường tín chỉ carbon là một phần của nỗ lực toàn cầu trong việc giảm phát thải khí nhà kính, do đó, việc hợp tác quốc tế là yếu tố then chốt để Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững. Việt Nam cần tích cực tham gia các cơ chế thị trường carbon quốc tế như Cơ chế phát triển sạch (CDM), Cơ chế tín chỉ carbon tự nguyện (VCM), và Cơ chế tín chỉ quốc tế theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris. Việc hợp tác với các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, UNFCCC, hoặc các quốc gia có kinh nghiệm như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU sẽ giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến, nguồn vốn xanh và kinh nghiệm quản lý thị trường. Đồng thời, cần xây dựng các thỏa thuận song phương hoặc đa phương về công nhận tín chỉ carbon, tạo điều kiện cho tín chỉ Việt Nam được giao dịch trên các sàn quốc tế, từ đó nâng cao giá trị và tính thanh khoản của thị trường trong nước.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam: Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.
2. Trung tâm Hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu: Thống kê dự án tín chỉ các-bon tại Việt Nam, 2023.
3. United Nations Framework Convention on Climate Change: Glasgow Climate Pact: COP26 outcomes, 2021.
4. United Nations Framework Convention on Climate Change: Sharm el-Sheikh Implementation Plan: COP27 outcomes, 2022.

5. Tạ Đình Thi, Phát triển thị trường tín chỉ carbon: kinh nghiệm quốc tế và cơ hội, thách thức, triển vọng đối với Việt Nam, https://quochoi.vn, 2024.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin