Nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia từ yêu cầu ổn định và phát triển bền vững

CT&PT - Trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp và khó lường, yêu cầu bảo đảm ổn định để phát triển bền vững đặt ra những đòi hỏi mới, cao hơn đối với hiệu lực quản trị quốc gia. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quản trị quốc gia hiệu lực, làm rõ các thách thức đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, đồng thời đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, góp phần củng cố ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.

Mối quan hệ biện chứng giữa quản trị quốc gia, ổn định chính trị và phát triển bền vững

Trong tư duy quản trị hiện đại, quản trị quốc gia không còn được hiểu một cách hạn hẹp là việc Nhà nước ban hành các mệnh lệnh hành chính để điều hành xã hội, mà là một phương thức vận hành tổng thể nhằm tối ưu hóa các nguồn lực quốc gia thông qua sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba trụ cột: Nhà nước, thị trường và xã hội dân sự1. Hiệu lực của quản trị quốc gia chính là thước đo khả năng của hệ thống chính trị trong việc duy trì trật tự, kiến tạo phát triển và đáp ứng những mong đợi chính đáng của nhân dân. Tuy nhiên, quản trị quốc gia không tồn tại trong chân không; hiệu lực của nó luôn nằm trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với hai yêu cầu cốt lõi là ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững. Đây là ba chân kiềng tạo nên vị thế và sức mạnh nội sinh của một dân tộc trong một thế giới đầy biến động.

Trước hết, cần khẳng định rằng ổn định chính trị - xã hội là tiền đề, là nền móng cho bất kỳ một mô hình quản trị hiệu quả nào. Một quốc gia chỉ có thể nâng cao hiệu lực quản trị khi ở đó có sự thống nhất về ý chí, sự ổn định về trật tự công cộng và sự vững chắc của các thiết chế quyền lực. Ổn định không có nghĩa là đứng yên hay bảo thủ, mà là một trạng thái động bền vững, cho phép hệ thống quản trị dự báo được các tình huống và thực thi các kế hoạch chiến lược dài hạn mà không bị ngắt quãng bởi các xung đột hay khủng hoảng. Khi một quốc gia giữ vững được sự ổn định, nó tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư, sự an tâm cho người dân và sức hấp dẫn đối với các nguồn lực quốc tế. Quản trị quốc gia trong trạng thái ổn định giúp các chính sách được triển khai thông suốt từ Trung ương đến địa phương, giảm thiểu các chi phí không cần thiết do rủi ro chính trị gây ra.

Ngược lại, phát triển bền vững là mục tiêu tối thượng và là thước đo cuối cùng của quản trị quốc gia. Hiệu lực quản trị không thể chỉ đo lường bằng những con số tăng trưởng GDP thuần túy, mà phải được đánh giá qua khả năng giải quyết các mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Trong điều kiện phát triển mới, quản trị quốc gia hướng tới sự bền vững đòi hỏi một tầm nhìn đa chiều: kinh tế phải xanh, xã hội phải bao trùm và tài nguyên phải được bảo tồn cho thế hệ mai sau. Một hệ thống quản trị hiệu lực là hệ thống có khả năng chuyển hóa các thách thức về biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thành cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại. Sự bền vững không chỉ bảo đảm tương lai cho quốc gia mà còn trực tiếp củng cố tính chính danh của hệ thống quản trị, bởi nhân dân sẽ chỉ ủng hộ và tin tưởng vào một sự lãnh đạo đem lại cuộc sống tốt đẹp, công bằng và an toàn cho họ.

Mối quan hệ này mang tính tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau một cách chặt chẽ. Quản trị quốc gia hiệu lực giúp duy trì sự ổn định; sự ổn định lại tạo ra không gian và thời gian cần thiết để thực thi các chiến lược phát triển bền vững; và khi phát triển bền vững đạt được kết quả, nó sẽ quay trở lại bồi đắp cho sự ổn định bền chặt hơn thông qua việc triệt tiêu các mầm mống gây mất ổn định như nghèo đói, bất công và ô nhiễm. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, một thế giới với những biến động khó lường về địa chính trị, dịch bệnh xuyên biên giới và các cuộc khủng hoảng năng lượng, yêu cầu nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia càng trở nên cấp thiết. Quản trị quốc gia lúc này phải chuyển đổi từ mô hình kiểm soát cứng dựa trên các mệnh lệnh hành chính truyền thống sang mô hình thích ứng linh hoạt. Điều này đòi hỏi bộ máy quản trị phải có năng lực phản ứng nhanh, khả năng dự báo chính xác và cơ chế tự điều chỉnh để bảo vệ sự ổn định quốc gia trước các cú sốc bên ngoài mà vẫn không làm chệch hướng mục tiêu phát triển bền vững.

Hơn thế nữa, việc nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia từ yêu cầu ổn định và phát triển bền vững còn gắn liền với việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân. Sự ổn định bền vững nhất chính là sự ổn định dựa trên pháp luật và sự đồng thuận xã hội. Hiệu lực quản trị, vì thế, phải được thể hiện qua tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia thực chất của người dân vào quá trình hoạch định chính sách. Khi mọi quyết sách quản trị đều hướng tới sự phát triển bền vững và lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm trọng tâm, nó sẽ khơi dậy nguồn sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân. Tóm lại, bản chất của quản trị quốc gia hiện đại là sự cân bằng nghệ thuật giữa trật tự và phát triển, giữa hiệu quả và công bằng. Nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng này là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để chúng ta xây dựng một hệ thống quản trị quốc gia mạnh mẽ, đủ bản lĩnh để đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên của sự ổn định lâu dài và phát triển rực rỡ.

Thực trạng và những điểm nghẽn trong hiệu lực quản trị quốc gia hiện nay

Soi chiếu lý luận vào thực tiễn vận hành của bộ máy quản trị quốc gia Việt Nam thời gian qua, chúng ta có thể nhận thấy những bước tiến dài mang tính đột phá trong việc đổi mới tư duy và phương thức quản lý. Hệ thống pháp luật đã và đang được hoàn thiện theo hướng tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành hiệu quả2. Việc đẩy mạnh Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số đã góp phần minh bạch hóa các dịch vụ công, giảm bớt chi phí giao dịch cho người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, năng lực giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và chủ quyền quốc gia trong những giai đoạn biến động quốc tế cực đoan đã khẳng định bản lĩnh của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, khi đối diện với yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng, thực trạng quản trị quốc gia vẫn đang bộc lộ những nút thắt và điểm nghẽn cần được tháo gỡ một cách quyết liệt.

Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở hiệu lực thực thi chính sách và tình trạng đứt gãy trong chuỗi truyền tải mệnh lệnh hành chính. Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa văn bản chính sách và thực tiễn triển khai vẫn còn khá xa. Tình trạng nghị quyết thì đúng, luật thì hay nhưng thực hiện thì chậm đã trở thành một căn bệnh kéo dài. Ở nhiều cấp, nhiều ngành, năng lực cụ thể hóa các định hướng chiến lược thành các chương trình hành động thực tế còn hạn chế. Đáng quan ngại hơn là hiện tượng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, tâm lý giữ mình của một bộ phận cán bộ công chức trước những áp lực của công tác thanh tra, kiểm tra. Khi bộ máy vận hành trong trạng thái phòng thủ, thiếu sự chủ động và đột phá, hiệu lực quản trị quốc gia sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, làm lỡ nhịp các cơ hội phát triển bền vững và gây lãng phí nguồn lực quốc gia.

Thứ hai, chất lượng thể chế và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật còn chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị hiện đại. Mặc dù số lượng văn bản pháp luật ban hành rất lớn, nhưng sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định vẫn thường xuyên xảy ra, đặc biệt là trong các lĩnh vực then chốt như đầu tư, đất đai và tài nguyên môi trường. Những xung đột pháp lý này không chỉ gây khó khăn cho các cơ quan quản lý mà còn làm nản lòng các nhà đầu tư chân chính, tạo kẽ hở cho tham nhũng và lợi ích nhóm. Quản trị quốc gia hướng tới phát triển bền vững đòi hỏi một hệ thống thể chế có tính dự báo và kiến tạo, nhưng hiện tại, thể chế của chúng ta đôi khi vẫn mang tính chạy theo thực tiễn, chưa thực sự đóng vai trò dẫn dắt cho các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế tuần hoàn hay kinh tế xanh.

Thứ ba là năng lực dự báo và quản trị rủi ro trước các thách thức phi truyền thống còn nhiều bất cập. Trong một thế giới đầy biến động, hiệu lực quản trị được thể hiện qua khả năng ứng phó với các cú sốc bất ngờ. Tuy nhiên, thời gian qua cho thấy công tác dự báo chiến lược của một bộ phận cơ quan tham mưu vẫn còn bị động. Việc ứng phó với biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng hay các dịch bệnh quy mô lớn đôi khi còn mang tính đối phó sự vụ, thiếu các kịch bản dài hạn và nguồn lực dự phòng đủ mạnh. Sự phối hợp liên ngành, liên vùng trong quản trị quốc gia vẫn còn lỏng lẻo; tình trạng cục bộ địa phương hoặc tư duy ngành dọc vẫn cản trở việc huy động sức mạnh tổng hợp để giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu và quốc gia.

Thứ tư, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa trở thành chuẩn mực tự thân trong mọi hoạt động quản trị. Mặc dù chúng ta đã đẩy mạnh cải cách hành chính, nhưng quyền giám sát của người dân và sự tham gia của các tổ chức xã hội vào quá trình hoạch định chính sách đôi khi còn mang tính hình thức. Cơ chế kiểm soát quyền lực tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa thực sự bao quát hết các kẽ hở, dẫn đến việc lạm dụng chức quyền hoặc tư duy nhiệm kỳ vẫn còn tồn tại. Khi trách nhiệm giải trình không đi đôi với quyền hạn, hiệu lực quản trị sẽ bị xói mòn bởi sự thiếu minh bạch, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, yếu tố cốt lõi của ổn định bền vững.

Cuối cùng, nguồn nhân lực trong hệ thống quản trị chưa đồng bộ về năng lực và đạo đức công vụ. Chúng ta đang thiếu một đội ngũ công chức chuyên nghiệp, tinh hoa, có tư duy quản trị hiện đại và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Việc đánh giá cán bộ vẫn còn nặng về cảm tính, chưa dựa trên các bộ chỉ số hiệu quả (KPIs) rõ ràng, dẫn đến tình trạng người làm không hết việc, người ngồi không có việc. Những yếu kém này, cộng với sự xuống cấp về đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, chính là lực cản vô hình nhưng mạnh mẽ nhất làm suy yếu hiệu lực quản trị quốc gia. Nếu không kịp thời nhận diện và giải quyết triệt để những điểm nghẽn này, khát vọng về một quốc gia phát triển bền vững và ổn định sẽ khó có thể trở thành hiện thực trong kỷ nguyên số.

Các nhóm giải pháp chiến lược nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia

Để tháo gỡ những điểm nghẽn và đưa quản trị quốc gia vươn tới tầm mức hiện đại, Việt Nam cần triển khai một lộ trình cải cách đồng bộ, quyết liệt, lấy tư duy kiến tạo làm kim chỉ nam và lấy công nghệ làm đòn bẩy. Các giải pháp này không chỉ nhằm mục đích tối ưu hóa bộ máy mà còn phải hướng tới việc tạo ra một hệ thống có khả năng tự phục hồi, thích ứng và duy trì sự ổn định bền vững trước các thách thức của kỷ nguyên mới.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản trị theo hướng minh bạch, đồng bộ và kiến tạo phát triển. Giải pháp cốt tử là phải xây dựng được một hệ thống pháp luật không chỉ chặt chẽ về mặt kiểm soát mà còn phải linh hoạt về mặt kiến tạo. Cần rà soát và loại bỏ triệt để tình trạng chồng chéo giữa các luật, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến đất đai, đầu tư và ngân sách, nhằm giảm thiểu tối đa chi phí tuân thủ cho xã hội. Quản trị quốc gia hiện đại đòi hỏi phải thiết lập các hộp cát (sandboxes) về thể chế để thí điểm các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, tài chính xanh. Việc hoàn thiện thể chế phải gắn liền với cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất, tăng cường trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, đảm bảo rằng mọi quyết sách quản trị đều dựa trên thượng tôn pháp luật và lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong quản trị công và xây dựng nền quản trị dựa trên dữ liệu. Chuyển đổi từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số không chỉ là việc mua sắm trang thiết bị, mà là tái cấu trúc toàn bộ quy trình vận hành của bộ máy nhà nước. Việc xây dựng và liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia (về dân cư, đất đai, doanh nghiệp) sẽ là nền tảng để Nhà nước đưa ra các quyết định dựa trên bằng chứng (data-driven decisions), thay vì dựa trên cảm tính hay báo cáo định kỳ chậm trễ. Quản trị số giúp minh bạch hóa các dịch vụ công, cắt giảm sự can thiệp trực tiếp của con người, từ đó triệt tiêu các điều kiện nảy sinh tham nhũng vặt và nhũng nhiễu. Đây là chìa khóa để nâng cao hiệu lực thực thi và tạo ra một môi trường hành chính công bằng, hiện đại và tin cậy.

Thứ ba, nâng cao năng lực dự báo chiến lược và quản trị rủi ro quốc gia. Trong bối cảnh thế giới bất định, hiệu lực quản trị được đo bằng khả năng phản ứng nhanh và phòng ngừa sớm. Cần xây dựng các trung tâm dự báo đa ngành để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và các biến động địa chính trị đối với sự ổn định của đất nước. Quản trị quốc gia phải thiết lập được các kịch bản ứng phó quốc gia (national contingency plans) cho các tình huống khẩn cấp, đảm bảo tính liên tục của bộ máy chính quyền trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời, cần đổi mới cơ chế phối hợp vùng và liên ngành, xóa bỏ tư duy cục bộ bản vị, tạo ra sự thống nhất trong hành động để giải quyết các vấn đề mang tính hệ thống của phát triển bền vững.

Thứ tư, cải cách mạnh mẽ nguồn nhân lực và đổi mới công tác cán bộ trong hệ thống công vụ. Năng lực quản trị quốc gia phụ thuộc vào chất lượng của đội ngũ thực thi. Cần xây dựng một nền công vụ tinh hoa, chuyên nghiệp với cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ dựa trên tài năng và hiệu quả công việc. Việc áp dụng các bộ chỉ số đánh giá hiệu quả (KPIs) rõ ràng, định lượng hóa kết quả công tác của cán bộ, công chức là giải pháp cấp thiết để chấm dứt tình trạng trì trệ, né tránh trách nhiệm. Bên cạnh đó, cần thiết lập hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ những cán bộ đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, tạo ra động lực nội sinh cho bộ máy quản trị không ngừng tự cải tiến và vươn lên.

Thứ năm, phát huy vai trò chủ thể của doanh nghiệp, cộng đồng và nhân dân trong quản trị xã hội. Quản trị quốc gia hiệu lực là một nền quản trị mở, nơi người dân và doanh nghiệp không chỉ là đối tượng quản lý mà là đối tác chiến lược. Nhà nước cần tạo cơ chế thực chất để xã hội tham gia phản biện chính sách và giám sát hoạt động của cơ quan công quyền. Thúc đẩy mô hình đối tác công - tư (PPP) trong phát triển hạ tầng và dịch vụ công bền vững sẽ giúp huy động tối đa nguồn lực xã hội, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước. Khi sự ổn định được xây dựng trên nền tảng của sự đồng thuận và lòng dân, đó chính là sự ổn định bền vững nhất, tạo ra sức mạnh tổng lực để quốc gia vượt qua mọi thác ghềnh.

Tóm lại, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia từ yêu cầu ổn định và phát triển bền vững là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự dũng cảm thay đổi của cả hệ thống. Bằng việc kiện toàn thể chế, làm chủ công nghệ, hiện đại hóa đội ngũ và khơi dậy sức mạnh của nhân dân, Việt Nam sẽ xây dựng được một nền quản trị quốc gia ưu việt, đủ sức dẫn dắt đất nước hiện thực hóa khát vọng hùng cường, thịnh vượng trong một thế giới đầy biến động.


1. Xem Đoàn Văn Dũng, Quản trị quốc gia, https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/09/15/quan-tri-quoc-gia/.

2. Phạm Minh Tuấn, Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, https://tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1013502/hoan-thien-he-thong-phap-luat-dap-ung-muc-tieu-xay-dung%2C-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.aspx.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin