1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước pháp quyền trong việc xây dựng một Nhà nước kiểu mới, mô hình Nhà nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân - Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân. Người đã tiên phong, mở đường cho những tư tưởng, quan điểm về pháp quyền, nhân quyền, về các quyền tự do dân chủ, về vai trò của phápluật trong xã hội.
Thứ nhất, phải có nhà nước hợp pháp, hợp hiến.
Một nhà nước hợp pháp, hợp hiến là vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu. Trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bằng những lý lẽ chắc chắn, thuyết phục, Người đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về địa vị hợp pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 03/9/1945), nhiệm vụ thứ ba trong sáu nhiệm vụ cấp bách được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống...”. Ngày 17/9/1945, Người ký Sắc lệnh ấn định thể lệ Tổng tuyển cử. Ngày 20/9/1945, Người ký Sắc lệnh số 34-SL thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chuẩn bị đệ trình dự thảo Hiến pháp ra Quốc hội. Sự khẩn trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuẩn bị tích cực cho sự ra đời của một nhà nước hợp pháp, hợp hiến.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước được coi là hợp pháp, hợp hiến là nhà nước phải được nhân dân thừa nhận thông qua Tổng tuyển cử, đồng thời phải có Hiến pháp và hệ thống pháp luật riêng, được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, sau khi chúng ta giành được chính quyền, mặc dù Chính phủ lâm thời được nhân dân ủng hộ và tin tưởng; trước sự chống phá quyết liệt của “thù trong, giặc ngoài”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương và kêu gọi nhân dân đi bầu cử để thành lập nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Điều này thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng của một vĩ nhân, nhất là việc xử lý khéo léo, hiệu quả những vấn đề phức tạp, căng thẳng, những âm mưu phá hoại và can thiệp của cả bên trong và bên ngoài ở thời điểm lịch sử đó.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 đã bầu ra một Chính phủ hợp hiến và cũng là cuộc phổ thông đầu phiếu nhanh nhất, sớm nhất (chỉ 4 tháng sau ngày giành được nền độc lập), đưa lực lượng chính trị của nhân dân lên cầm quyền. Trên thế giới, chưa có quốc gia nào làm được điều này ngay sau khi giành chính quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút kinh nghiệm từ thực tiễn các cuộc cách mạng trên thế giới, cùng với sự nhạy cảm và tư duy sắc bén đã hình thành nên một Nhà nước hợp hiến, hợp pháp đầu tiên ở Việt Nam do nhân dân bầu ra, có đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết các vấn đề của đất nước. Chính vì sớm có một nhà nước hợp hiến, hợp pháp mà chúng ta đã ngăn chặn được những âm mưu nhằm can thiệp, lật đổ chính quyền còn non trẻ mà Nhân dân ta mới giành lại được.
Thứ hai, Nhà nước có hệ thống pháp luật đồng bộ và hiệu quả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Nhà nước phải quản lý đất nước bằng pháp luật và làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, cùng với việc nỗ lực xác lập tính hợp hiến, hợp pháp của Nhà nước, Người đã dành nhiều tâm sức để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Trong 24 năm ở cương vị là người đứng đầu Nhà nước, Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, đã ký công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác, nhằm tạo lập cơ sở pháp lý để bảo vệ độc lập, tự do, cho cuộc sống độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.
Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, khi chưa có Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 47/SL, ngày 10/10/1945 để giữ lại mọi luật lệ của chế độ cũ, chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do. Người giải thích: “Một xã hội không thể sống một ngày mà không có pháp luật”. Người cũng ký một loạt các sắc lệnh, như Sắc lệnh bãi bỏ thuế thân; tịch thu tài sản của thực dân và Việt gian, tổ chức Tòa án “độc lập với hành chính”, “các vị thẩm phán chỉ xử trong vòng pháp luật và công lý. Các cơ quan khác không được can thiệp vào việc tư pháp”. Để tăng cường hiệu quả của pháp luật và để pháp luật đi vào cuộc sống, Người cho rằng, cần phát huy quyền dân chủ của nhân dân để nhân dân tham gia phê bình, giám sát công việc của Nhà nước.
Thứ ba, Nhà nước phải có đội ngũ cán bộ tinh thông và vì dân, vì nước.
Khi xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến đội ngũ cán bộ nhà nước phải thực sự là “công bộc”, “đày tớ” của nhân dân. Người cho rằng cần phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức am hiểu về pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính, có trình độ văn hóa, có đức, có tài: “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Để vận động Nhân dân sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, Người cho rằng trước hết cán bộ, công chức phải nêu gương tuân thủ Hiến pháp, pháp luật.
Về công tác đào tạo cán bộ, Người chủ trương mở Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, thành lập Ban Pháp lý học tại Trường Đại học Việt Nam theo Sắc lệnh số 197 ngày 11/10/1946... Để bảo đảm công bằng và dân chủ trong tuyển dụng cán bộ, Sắc lệnh số 76, ngày 20/5/1950 ban hành “Quy chế công chức”, quy định “... công chức phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc. Đi đôi với nhiệm vụ trên, công chức Việt Nam cần có một địa vị xứng đáng với tài năng của mình...”. Trong việc sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phát động “tìm người tài đức”, mà còn mạnh dạn sử dụng những viên chức, quan lại dưới chế độ cũ có tài, có đức. Trong việc sử dụng cán bộ, Người luôn nhắc nhở phải tẩy sạch óc bè phái, hẹp hòi; đặc biệt chú ý đến phẩm chất đạo đức và tinh thần phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bởi vì đức là nền tảng của người cán bộ.
2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân lần đầu tiên được đưa vào Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1994) và được phát triển qua các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong 08 phương hướng cơ bản của xây dựng đất nước đến giữa thế kỷ XXI. Điều quan trọng về mặt lý luận là Đảng ta đã từng bước xác định rõ hơn những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những giá trị phổ quát của Nhà nước pháp quyền được nhận thức và khẳng định. Bên cạnh nhận thức về các giá trị phổ quát, việc khẳng định các giá trị đặc thù của của Nhà nước pháp quyền có ý nghĩa rất quan trọng. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta có sự tác động của các yếu tố đặc thù, được quy định bởi bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và mục tiêu dài hạn mà nhân dân, Đảng và Nhà nước đã xác định. Đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; có sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (không phải tam quyền phân lập); ý chí tự cường của dân tộc, tư tưởng hoà đồng, nhân ái. Việc nhận thức đầy đủ và đúng đắn về các giá trị phổ quát và các giá trị đặc thù của Nhà nước pháp quyền đã giúp chúng ta xác định nội dung cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.
Từ thực tiễn xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam ngày càng được định hình. Gần đây nhất, khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tiếp tục được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và cụ thể hóa trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW), đó là: Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, thực hiện nguyên tắc pháp quyền, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Quan điểm này cũng đã được chính thức thể chế hóa tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Đây cũng chính là một trong những đặc trưng được Đảng ta lần đầu tiên xác định chính thức, thống nhất, rõ ràng, đầy đủ trong một Nghị quyết của Trung ương dựa trên tinh thần của tất cả các Cương lĩnh, Hiến pháp và văn kiện Đại hội Đảng qua các nhiệm kỳ.
Nghị quyết số 27-NQ/TW nêu rõ 08 đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Thứ hai, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Thứ ba, quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật; Thứ tư, Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; Thứ năm, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Thứ sáu, hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán; Thứ bảy, độc lập của Tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Thứ tám, tôn trọng và bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Mỗi đặc trưng nêu trên của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phản ánh một phương diện nhất định của Nhà nước và đều có mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Thiếu một trong các đặc trưng này sẽ mất đi một mắt xích trong mối liên hệ của chỉnh thể, từ đó có thể dẫn đến nhận thức sự phiến diện, thiếu sót trong việc xác định phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền. Đó cũng chính là lý do mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đề ra một nhiệm vụ quan trọng đó là đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thống nhất nhận thức về các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đặc biệt, tư duy tiếp cận về quyền lực đặt nền móng, định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ quyền lực trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này có nghĩa rằng, việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần phải giải quyết, cụ thể hóa mối quan hệ quyền lực giữa chủ quyền nhân dân, quyền làm chủ của Nhân dân và quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa quyền lực chính trị, tức là sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam và quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa các lĩnh vực, phạm vi quyền lực nhà nước theo chiều ngang và theo chiều dọc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghị quyết số 27-NQ/TW đã đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết vấn đề mang tính nguyên tắc đối với mối quan hệ quyền lực đó: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của Nhân dân”.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi để tiếp tục thể chế hóa Cương lĩnh chính trị, các quan điểm, đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò và hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh. Muốn thế, cần bám sát, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và phân tích, nắm chắc yêu cầu của thực tiễn cuộc sống; đồng thời tiếp tục tăng cường năng lực và nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động lập pháp, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm tốt hơn tính dân chủ, pháp chế, công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật”.
Điểm nổi bật trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là sự nhất quán tư tưởng “thượng tôn pháp luật”. Đây là tư tưởng chỉ đạo khắc phục những hạn chế, yếu kém mà Đại hội chỉ ra: “Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe”. Chính tinh thần “thượng tôn pháp luật” được đề cao cùng với một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thống nhất sẽ là động lực mạnh mẽ để xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mới được hiện thực hóa.
Nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quản lý nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quản lý nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách, xây dựng bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới; thể hiện sự phát triển mới về nhận thức lý luận của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Ở Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quản lý nhà nước là thống nhất nhưng không có nghĩa là tập trung cao độ vào một nhánh quyền lực nào theo kiểu phân lập giữa các nhánh quyền lực đó mà là sự thống nhất ở mục tiêu chung là phục vụ lợi ích của dân tộc, của đất nước, của nhân dân. Sự thống nhất quản lý nhà nước là nền tảng, còn sự phân công và phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quản lý nhà nước. Trên cơ sở thống nhất, các nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp tư pháp) vận hành chính là biểu hiện những phương thức khác nhau trong tổ chức thực hiện quản lý nhà nước. Như vậy, nhà nước pháp quyền hoàn toàn không đồng nghĩa với tam quyền phân lập, và phân chia quyền lực không phải bao giờ cũng là điều kiện tiên quyết của nhà nước pháp quyền. Sự bổ sung thêm yếu tố “kiểm soát” giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo quan điểm của Đảng tại Đại hội XI, Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ hơn sự kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Yếu tố hạn chế quyền lực nhà nước một phần sẽ được thể hiện trong tương quan thẩm quyền giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Mặt khác, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và sự phổ biến của hình thức dân chủ gián tiếp, đòi hỏi phải có sự giám sát và chế ngự quyền lực của nhà nước. Hơn nữa, quyền lực pháp lý của nhà nước là sự độc quyền sử dụng sức mạnh vũ lực, tuy rất cần thiết để ổn định xã hội và tạo điều kiện cho xã hội phát triển nhưng cũng có khả năng bị lạm dụng dẫn đến tình trạng tham nhũng, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Với lý do như vậy, quyền lực nhà nước phải bị hạn chế bằng pháp luật. Việc khẳng định “nhà nước đặt mình dưới luật” và quyền lực nhà nước cần bị kiểm soát khẳng định địa vị pháp lý của công dân trong tương quan với nhà nước được nâng lên. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền cần phải được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Pháp luật không giống các quy tắc điều chỉnh khác chính ở khả năng được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước. “Ý chí và lợi ích của nhân dân không chỉ được thể hiện trên văn bản pháp luật mà còn cần phải trở thành quyền, nghĩa vụ, những ứng xử trên thực tế. Cần chú ý là việc thực hiện pháp luật trên thực tế phải được coi là trách nhiệm hơn là quyền và quyền lực của Nhà nước”. Việc hoàn thiện pháp luật phải tuân thủ các quy luật của xã hội, hướng tới những nội dung tiến bộ, công lý và có mục đích giải phóng con người. Đặc biệt, nội dung cần thiết nhất của pháp luật là phải phản ánh nguồn gốc, bản chất dân chủ của quyền lực nhà nước, thể chế xã hội chủ nghĩa. Pháp luật phải thể chế hóa đường lối chính trị của Đảng cầm quyền, xây dựng được những cơ chế để ngày càng mở rộng hơn sự tham gia của nhân dân vào việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Hiến pháp năm 2013 xác định “nhà nước của dân, do dân, vì dân” làm nền tảng phát triển một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ và đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Đồng thời, tiếp tục quy định “nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” và “kiểm soát quyền lực”. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước có quyền lực là do nhân dân ủy quyền, giao quyền; nhưng vì nhân dân không trực tiếp thực hiện quyền mà giao cho Nhà nước nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên là phải kiểm soát quyền lực nhà nước. Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn với xây dựng chế độ dân chủ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lý giải lý do là ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ đã xác định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và khẳng định đó là sự lựa chọn đúng đắn: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm”; “Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”; “Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”.
Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh rằng, không có mô hình nhà nước pháp quyền chung cho mọi quốc gia. Mỗi quốc gia căn cứ vào các đặc thù của mình để xây dựng mô hình thích ứng. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền là tất yếu lịch sử và khách quan. Tính tất yếu khách quan xuất phát từ mục tiêu: “Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm”. Từ học thuyết đến hiện thực, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phản ánh các giá trị dân chủ, nhân đạo mà chế độ nhà nước pháp quyền ở nhiều nước trên thế giới đã chứng minh. Dựa vào đó, các tầng lớp nhân dân và nhân loại tiến bộ đã đấu tranh có hiệu quả giành công lý và nhân quyền trong nhiều thế kỷ qua.
Quan điểm chỉ đạo trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phải hướng đến mục tiêu, động lực hoạt động của Nhà nước; tất cả để phục vụ nhân dân, vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Đây phải là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi thể chế, thiết chế vận hành của Nhà nước, “mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Thiết kế tổ chức, hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải thể hiện và thực hiện được mục tiêu, động lực vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, thể hiện được khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Pháp luật vì lợi ích và hạnh phục của nhân dân phải được bảo đảm thực hiện trên thực tế bởi nhà nước pháp quyền. “Ý chí và lợi ích của nhân dân không chỉ được thể hiện trên văn bản, pháp luật mà còn cần phải trở thành quyền, nghĩa vụ, những ứng xử trên thực tế. Việc thực hiện pháp luật trên thực tế phải được coi là trách nhiệm hơn là quyền và quyền lực của Nhà nước”. Trên phạm vi toàn quốc cũng như ở từng địa phương, cần phải xây dựng được chỉ số pháp quyền, trong đó có tiêu chí hạnh phúc nhằm mục tiêu phấn đấu phục vụ nhân dân.