1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, việc quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực luôn được coi là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng tăng trưởng và tính bền vững của nền kinh tế. Đối với Việt Nam, một quốc gia đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí càng trở nên cấp thiết. Thực tiễn cho thấy, lãng phí diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, đất đai, tài nguyên thiên nhiên đến đầu tư công, quản lý dự án, tổ chức bộ máy và sử dụng thời gian lao động. Lãng phí không chỉ gây thất thoát nguồn lực vật chất mà còn làm suy giảm niềm tin xã hội, kìm hãm động lực phát triển và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả quản trị quốc gia.
Trong bối cảnh kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của kinh tế số, xã hội số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững - yêu cầu đối với công tác thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí không còn dừng lại ở việc “thắt chặt chi tiêu” hay “chống thất thoát” theo nghĩa hẹp, mà phải được tiếp cận như một bộ phận hữu cơ của thể chế phát triển, gắn với cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng quản trị công. Do đó, việc nghiên cứu, hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí nhằm đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

2. Thực trạng thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay
Về kết quả đạt được
Trong bài viết “Thực hành tiết kiệm”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là “hòn đá tảng” góp phần xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững. Đó phải là trách nhiệm chung và cần trở thành nếp sống, thành văn hóa hàng ngày của mỗi chúng ta; để đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải ra sức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí1.
Đó không chỉ là lời hiệu triệu của người đứng đầu Đảng ta với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, mà còn đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc tạo chuyển biến thực chất trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trong đó, trọng tâm được Tổng Bí thư chỉ rõ là tập trung hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở khắc phục triệt để những lãng phí do thể chế gây ra, xóa bỏ những rào cản, khó khăn, vướng mắc cản trở phát triển, khơi thông các điểm nghẽn tạo nền tảng cho phát triển.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998; Quốc hội đã thông qua Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và năm 2013. Điều 56 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước”.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2544/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 về ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2020 và Quyết định số 1845/QĐ-TTg ngày 02/11/2021 về việc ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2021 - 2025. Trong các quyết định này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xác định việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính thường xuyên của các cấp, ngành, địa phương, doanh nghiệp và nhân dân, gắn với đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; bảo đảm phân công, phân cấp cụ thể, rõ đầu mối thực hiện. Mới đây nhất, ngày 17/12/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1579/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống lãng phí. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, tư vấn, khuyến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp để giải quyết vấn đề quan trọng, liên ngành liên quan đến triển khai Chiến lược quốc gia về phòng, chống lãng phí, chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và thực hiện nhiệm vụ, giải pháp quan trọng khác trong phòng, chống lãng phí nguồn lực; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức liên quan trong việc giải quyết vấn đề quan trọng, liên ngành liên quan để triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống lãng phí, chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và thực hiện nhiệm vụ, giải pháp quan trọng khác trong phòng, chống lãng phí nguồn lực.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, Quốc hội đã triệt để đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, phân cấp, phân quyền tối đa để tạo không gian rộng mở cho Chính phủ, các địa phương linh hoạt trong điều hành, kịp thời thích ứng với những thay đổi nhanh, khó lường của thực tiễn. Quốc hội cũng cho phép áp dụng khá thường xuyên quy trình ban hành một luật sửa nhiều luật, ban hành luật, nghị quyết theo quy trình rút gọn tại một kỳ họp... Nhờ đó, những rào cản pháp lý, những “điểm nghẽn” thể chế được tháo gỡ nhanh hơn, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tái cấu trúc, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
Công tác quản lý ngân sách nhà nước, đầu tư công và tài sản công ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực theo hướng ngày càng chặt chẽ, kỷ luật và minh bạch hơn, góp phần quan trọng vào việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí. Hệ thống pháp luật về ngân sách, đầu tư công và quản lý, sử dụng tài sản công từng bước được hoàn thiện, cùng với việc tăng cường kỷ cương tài chính - ngân sách đã giúp nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực công. Quy trình lập, thẩm định, phê duyệt và quyết toán ngân sách, dự án đầu tư công được kiểm soát nghiêm ngặt hơn, hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Đặc biệt, nhiều dự án đầu tư công kém hiệu quả, chậm tiến độ, đội vốn kéo dài đã được các cơ quan chức năng rà soát, đánh giá lại một cách toàn diện; trên cơ sở đó, một số dự án được điều chỉnh quy mô, tổng mức đầu tư, thậm chí bị đình hoãn hoặc chấm dứt triển khai nhằm tránh tiếp tục gây thất thoát, lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Cùng với đó, công tác quản lý, sử dụng tài sản công từng bước đi vào nền nếp, việc mua sắm, khai thác và xử lý tài sản công được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả hơn so với trước. Những chuyển biến trong quản lý nhà nước đã tác động tích cực đến nhận thức và hành vi của các chủ thể trong xã hội, góp phần nâng cao ý thức thực hành tiết kiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân. Tiết kiệm không chỉ được nhìn nhận như yêu cầu về tài chính - ngân sách, mà từng bước trở thành tiêu chí đánh giá trách nhiệm công vụ và chuẩn mực hành vi trong đời sống kinh tế - xã hội.
Về hạn chế, bất cập
Một là, hệ thống pháp luật và các quy định liên quan đến quản lý ngân sách nhà nước, đầu tư công và tài sản công tuy đã được ban hành tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn phát triển. Một số quy định còn mang tính nguyên tắc chung, thiếu hướng dẫn cụ thể, dẫn đến lúng túng trong quá trình áp dụng, thậm chí tạo ra “kẽ hở” cho hành vi lãng phí phát sinh.
Hai là, kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách ở một số nơi chưa được thực hiện nghiêm, tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài thời gian thực hiện dự án, điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần vẫn diễn ra, làm tăng chi phí và giảm hiệu quả đầu tư. Công tác thẩm định, giám sát và đánh giá hiệu quả dự án đầu tư công ở một số lĩnh vực còn hình thức, chưa gắn chặt với trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan.
Ba là, việc quản lý, sử dụng tài sản công ở không ít cơ quan, đơn vị còn biểu hiện buông lỏng, chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về tiêu chuẩn, định mức, chế độ; tình trạng sử dụng tài sản công chưa đúng mục đích, kém hiệu quả, thậm chí để thất thoát, xuống cấp vẫn xảy ra nhưng chưa được xử lý triệt để.
Bốn là, cơ chế kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và xử lý vi phạm trong lĩnh vực thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí tuy đã được chú trọng nhưng hiệu quả chưa cao; việc phát hiện, kết luận và xử lý các hành vi gây lãng phí còn chậm, chế tài chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tâm lý “nhờn luật” ở một bộ phận cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong để xảy ra lãng phí ở cơ quan, đơn vị chưa được quy định và thực thi một cách rõ ràng, nghiêm minh.
Năm là, ý thức thực hành tiết kiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức và người dân tuy đã được cải thiện nhưng chưa trở thành thói quen, chuẩn mực phổ biến; tư duy nhiệm kỳ, tâm lý “xin - cho” và bệnh hình thức vẫn tồn tại, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả phòng, chống lãng phí.
3. Định hướng giải pháp hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí trong kỷ nguyên mới
Đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí.
Trong kỷ nguyên mới, việc hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí trước hết đòi hỏi phải đổi mới tư duy tiếp cận, coi đây không chỉ là biện pháp quản lý tài chính - ngân sách đơn thuần mà là một nội dung cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại và phát triển bền vững. Tiết kiệm và chống lãng phí cần được nhận thức đầy đủ như một nguồn lực quan trọng cho phát triển, gắn chặt với nâng cao hiệu quả sử dụng mọi nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Do đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về ý nghĩa, vai trò của thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí trong bối cảnh mới. Việc hình thành tư duy tiết kiệm, hiệu quả, trách nhiệm giải trình phải trở thành yêu cầu bắt buộc trong hoạch định và thực thi chính sách công, khắc phục triệt để tư duy nhiệm kỳ, chạy theo hình thức, thành tích, dẫn đến đầu tư dàn trải và lãng phí nguồn lực.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách liên quan.
Hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí cần tập trung vào việc tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi. Trọng tâm là hoàn thiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các luật có liên quan trực tiếp như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Đất đai… nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn hoặc khoảng trống pháp lý. Các quy định về tiêu chuẩn, định mức, chế độ sử dụng ngân sách, tài sản công cần được xây dựng trên cơ sở khoa học, sát thực tiễn, bảo đảm vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, phù hợp với yêu cầu phát triển trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong từng khâu quản lý, sử dụng nguồn lực, gắn quyền hạn với trách nhiệm và chế tài xử lý vi phạm cụ thể, nghiêm minh.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi và kiểm soát quyền lực.
Một trong những định hướng quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí là nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật. Theo đó, cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý ngân sách nhà nước, đầu tư công và tài sản công; bảo đảm mọi quyết định sử dụng nguồn lực công đều được kiểm soát chặt chẽ, công khai và minh bạch. Đặc biệt, phải xác lập rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị khi để xảy ra lãng phí; coi kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là tiêu chí quan trọng trong đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong quản lý kinh tế - tài chính công, phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm toán, giám sát của cơ quan dân cử và sự tham gia của xã hội nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi gây lãng phí.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý nguồn lực.
Trong kỷ nguyên số, việc hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí không thể tách rời quá trình chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong quản lý ngân sách, đầu tư công, tài sản công và tài nguyên, nhằm nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu can thiệp chủ quan và hạn chế nguy cơ thất thoát, lãng phí. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính công, tài sản công, đất đai, dự án đầu tư cần được triển khai đồng bộ, liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương. Trên cơ sở đó, thể chế cần quy định rõ trách nhiệm cập nhật, khai thác và sử dụng dữ liệu, đồng thời bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin. Chuyển đổi số không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là giải pháp quan trọng góp phần đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí.
Gắn hoàn thiện thể chế với xây dựng văn hóa tiết kiệm và trách nhiệm xã hội.
Hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc xây dựng văn hóa tiết kiệm trong toàn xã hội. Bên cạnh các quy định pháp luật mang tính bắt buộc, cần chú trọng các giải pháp mềm nhằm hình thành chuẩn mực đạo đức, lối sống tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thể chế cần khuyến khích, tôn vinh các mô hình, điển hình thực hành tiết kiệm, sử dụng hiệu quả nguồn lực, đồng thời phê phán, lên án các biểu hiện lãng phí, hình thức, phô trương. Việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động quản lý, sử dụng nguồn lực công cũng là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống lãng phí trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Một thể chế đồng bộ, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả sẽ góp phần sử dụng tối ưu các nguồn lực, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. Trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực hiện và xây dựng văn hóa tiết kiệm, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới.
1. “Tiết kiệm, chống lãng phí trước hết từ thể chế”, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân, ngày 03/6/2025, https://daibieunhandan.vn/tiet-kiem-chong-lang-phi-truoc-het-tu-the-che-10374671.html.