Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực xuất bản Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay

1. Thực trạng nguồn nhân lực xuất bản Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, ngành xuất bản Việt Nam đứng trước thời cơ lớn song cũng đối diện nhiều thách thức. Một trong những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển bền vững, hiện đại và có sức cạnh tranh của ngành chính là chất lượng nguồn nhân lực. Thực trạng nguồn nhân lực xuất bản hiện nay cho thấy tuy đã có những bước tiến đáng ghi nhận, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu rộng và sự bùng nổ của công nghệ truyền thông mới.

Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực xuất bản

Tính đến năm 2025, cả nước có hơn 50 nhà xuất bản và hàng trăm cơ sở in, phát hành hoạt động trên phạm vi toàn quốc. Tổng số người lao động trong lĩnh vực xuất bản ước khoảng hơn 10.000 người, trong đó khoảng 4.000 người làm việc trực tiếp tại các nhà xuất bản, còn lại là lực lượng biên tập, kỹ thuật, phát hành, in ấn và truyền thông. Tuy nhiên, quy mô này vẫn còn khá khiêm tốn so với yêu cầu phát triển ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế tri thức.

Về cơ cấu, nguồn nhân lực trong ngành xuất bản hiện nay phân bố không đồng đều. Một số nhà xuất bản lớn như Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Kim Đồng… có đội ngũ biên tập, kỹ thuật, phát hành chuyên nghiệp và tương đối ổn định. Trong khi đó, nhiều nhà xuất bản địa phương, chuyên ngành, hoặc đơn vị mới thành lập còn thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn cao, nhất là trong lĩnh vực quản lý bản quyền, biên tập số, thiết kế mỹ thuật hiện đại, marketing và thương mại điện tử.

Trình độ chuyên môn, kỹ năng và năng lực nghề nghiệp

Nguồn nhân lực xuất bản Việt Nam phần lớn được đào tạo từ các chuyên ngành báo chí, ngữ văn, sư phạm, truyền thông, mỹ thuật công nghiệp… Tuy nhiên, tỷ lệ được đào tạo chuyên sâu đúng ngành xuất bản còn thấp.

Trong xu thế hội nhập quốc tế, yêu cầu về năng lực ngoại ngữ, công nghệ thông tin, hiểu biết pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ, bản quyền, hợp tác dịch thuật… ngày càng cao. Song, nhiều cán bộ xuất bản hiện nay vẫn hạn chế về kỹ năng ngoại ngữ và tin học, dẫn đến khó khăn trong việc tham gia các chuỗi hợp tác quốc tế hay xuất bản đa ngữ, đa nền tảng. Đặc biệt, trong bối cảnh xuất bản điện tử, xuất bản số, kỹ năng sử dụng phần mềm dàn trang, xử lý dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong biên tập - phát hành vẫn còn yếu, chưa đồng đều giữa các cơ quan.

Đạo đức nghề nghiệp và văn hóa xuất bản

Một khía cạnh quan trọng của nguồn nhân lực xuất bản là phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và văn hóa ứng xử trong hoạt động nghề. Phần lớn cán bộ, biên tập viên, nhân viên ngành xuất bản vẫn giữ được bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, trung thành với đường lối của Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, truyền bá tri thức, xây dựng văn hóa đọc trong xã hội.

Tuy nhiên, cùng với quá trình xã hội hóa và thương mại hóa mạnh mẽ, một số biểu hiện lệch chuẩn trong đạo đức nghề nghiệp đã nảy sinh. Hiện tượng chạy theo thị hiếu tầm thường, buông lỏng kiểm duyệt nội dung, thiếu trách nhiệm trong khâu biên tập, vi phạm bản quyền, hay xu hướng sao chép, dịch ẩu vẫn tồn tại ở một số đơn vị. Điều đó cho thấy, việc bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và văn hóa ứng xử nghề nghiệp trong môi trường xuất bản cần được coi trọng hơn nữa, nhất là trong bối cảnh “nền kinh tế sáng tạo” và “nền tảng số” đang thay đổi toàn diện hoạt động xuất bản.

Cơ chế sử dụng, đãi ngộ và môi trường làm việc

Một nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực chưa cao là cơ chế đãi ngộ và sử dụng nhân lực trong lĩnh vực xuất bản còn bất cập. Thu nhập bình quân của người làm xuất bản vẫn thấp hơn so với các ngành truyền thông, quảng cáo, công nghệ thông tin; trong khi khối lượng công việc, áp lực và yêu cầu chuyên môn lại ngày càng cao. Chính sách thu hút, tuyển chọn, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là chuyên gia công nghệ, biên tập viên giỏi, dịch giả chất lượng cao, chưa thật sự hấp dẫn.

Bên cạnh đó, môi trường làm việc tại nhiều nhà xuất bản chưa được số hóa đồng bộ, thiếu đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ biên tập, lưu trữ, xuất bản điện tử; thiếu không gian sáng tạo và học tập liên ngành. Điều này khiến nhiều người trẻ có năng lực lựa chọn rời ngành để chuyển sang các lĩnh vực truyền thông kỹ thuật số, quảng cáo, thiết kế hoặc thương mại điện tử.

Tổng thể, có thể khẳng định rằng nguồn nhân lực xuất bản Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn chuyển đổi: từ mô hình nhân lực truyền thống sang nhân lực sáng tạo - số hóa - hội nhập. Nhiều cơ quan đã ý thức rõ tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ kế cận; song quá trình này cần sự đồng bộ hơn về chính sách, thể chế, cơ chế tài chính và chương trình hợp tác quốc tế.

Trong xu thế toàn cầu hóa, nguồn nhân lực không chỉ cần giỏi chuyên môn, mà còn phải hội tụ đủ ba phẩm chất: vững vàng về chính trị - tư tưởng, tinh thông về nghiệp vụ - công nghệ, và chuẩn mực về đạo đức - văn hóa nghề nghiệp. Chỉ khi xây dựng được đội ngũ như vậy, ngành xuất bản Việt Nam mới có thể chủ động hội nhập, giữ vững bản sắc dân tộc, đồng thời nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị xuất bản toàn cầu.

2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực xuất bản Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay

Giải pháp về nhận thức 

Giải pháp nhận thức nhằm giúp các cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước về xuất bản và xã hội nói chung nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí, tầm quan trọng của xuất bản trong đời sống, hoạt động kinh tế, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, từ đó có sự quan tâm, đầu tư về nguồn lực thích đáng cho hoạt động xuất bản, trong đó có phát triển nguồn nhân lực.

Thứ nhất, nhận thức đúng đắn về vai trò của xuất bản trong quá trình phát triển của đất nước

Xuất bản vừa có vai trò chính trị tư tưởng, văn hóa, vừa có vai trò kinh tế, đồng thời có vai trò khoa học và giáo dục. Với những vai trò đó, phát triển nguồn nhân lực xuất bản phải bảo đảm các yêu cầu:

- Nguồn nhân lực phải có bản lĩnh chính trị, thấm nhuần sự lãnh đạo của Đảng trong chính trị, tư tưởng và văn hóa. Luôn gìn giữ nền văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển.

- Nguồn nhân lực phải có nền tảng kiến thức về phát triển kinh tế theo yêu cầu của thị trường. Có kiến thức, kỹ năng về quản trị, quản lý doanh nghiệp, marketing, thị trường… nhằm bổ sung nhân lực cho ngành Xuất bản trong quá trình hội nhập thị trường của khu vực và quốc tế.

- Nguồn nhân lực phải có trình độ khoa học kỹ thuật nhằm kế thừa những tinh hoa, kiến thức, khoa học kỹ thuật của nhân loại, vận dụng để nâng cao chất lượng xuất bản phẩm. Vận dụng công nghệ kỹ thuật số trong quá trình xuất bản, kinh doanh, phát triển thị trường.

Thứ hai, nhận thức về vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và phát triển của ngành Xuất bản Việt Nam

Để hội nhập sâu, rộng trong khu vực và thế giới, nguồn nhân lực phải bảo đảm những yếu tố sau:

- Nguồn nhân lực ngoài yếu tố trình độ chuyên môn cao, cần có các yếu tố kỹ năng như: Trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học để giao tiếp và giao dịch trong quá trình tiếp cận nội dung và thị trường bên ngoài.

- Để cạnh tranh với những tổ chức, doanh nghiệp xuất bản của một số nước trong khu vực và trên thế giới, nguồn nhân lực cần có kiến thức về quản trị, kinh doanh. Đây là những yếu tố cần của hội nhập kinh tế.

Thứ ba, quán triệt sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành Xuất bản đến các nhà xuất bản, các tổ chức, doanh nghiệp và hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng và phát triển tổ chức, doanh nghiệp

Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện đối với ngành Xuất bản trong quá trình phát triển, hội nhập.

- Nguồn nhân lực xuất bản được làm việc trong bất cứ mô hình xuất bản nào cũng chịu sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của các tổ chức đảng tương đương.

- Mỗi tổ chức đảng ở địa phương hay tổ chức chính trị luôn nêu cao vai trò lãnh đạo đối với các doanh nghiệp và tổ chức xuất bản để bảo đảm doanh nghiệp hoạt động đúng vai trò và chức năng, nhiệm vụ.

- Truyền bá, bảo vệ, phát huy, góp phần khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng cho toàn xã hội, tham gia phổ biến, đưa đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào đời sống xã hội.

- Bảo đảm và không ngừng nâng cao tính tư tưởng, khoa học, chất lượng giáo dục, văn hóa, sự đa dạng, hấp dẫn của xuất bản phẩm, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ngày càng cao về xuất bản phẩm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ở các lĩnh vực trọng yếu của đời sống và con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Xây dựng cơ cấu sách hợp lý, phát triển toàn diện.

- Trực tiếp tham gia xây dựng và phát triển nền tảng tri thức của dân tộc, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng nguồn nhân lực và nhân tài, góp phần xây dựng xã hội học tập.

- Khẳng định, biểu dương cái mới, nhân tố mới, bản sắc và tinh hoa văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam thời kỳ mới, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội…

- Phát triển cả về quy mô, năng lực, tiềm lực, hiện đại hóa mô hình, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa hoạt động xuất bản, xây dựng ngành Xuất bản trở thành ngành kinh tế - công nghệ phát triển toàn diện và vững chắc.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực nói chung và ngành Xuất bản nói riêng theo quy luật thị trường nhằm nâng cao năng suất lao động gắn với sự phát triển nền kinh tế hội nhập hiện nay

- Phát triển, đào tạo và tuyển dụng nhân lực phải bảo đảm thực hiện theo quy luật cung - cầu.

- Xem lao động nói chung và nguồn nhân lực xuất bản nói riêng là một thị trường lao động nhằm cung cấp nguồn lao động ngành Xuất bản cho các tổ chức ở trong nước và ngoài nước.

- Phát triển nguồn nhân lực dựa trên nhu cầu về số lượng và chất lượng của thị trường lao động nói chung và thị trường xuất bản nói riêng.

Giải pháp về xây dựng kế hoạch nguồn nhân lực của nhà xuất bản, doanh nghiệp xuất bản trong từng giai đoạn

Xây dựng chiến lược xuất bản gắn với chiến lược nguồn nhân lực cho từng thời kỳ, từng giai đoạn. 

- Xây dựng chiến lược xuất bản gắn với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam. Chiến lược phát triển ngành giáo dục, văn hóa luôn gắn với thị trường của xuất bản. Đây là yếu tố quan trọng, then chốt trong việc xây dựng chiến lược của ngành nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

- Chiến lược nguồn nhân lực xuất bản gắn với quá trình hội nhập và phát triển của Việt Nam với khu vực và thế giới. Việc tham gia thị trường lao động của Việt Nam với các nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu… đang diễn ra mạnh mẽ với cả chiều sâu và chiều rộng. Thị trường lao động xuất bản đang hình thành và có nhu cầu về nguồn nhân lực. Đây là cơ hội để mỗi nhà xuất bản, doanh nghiệp xây dựng chiến lược nguồn nhân lực cho từng thời kỳ, từng giai đoạn đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và bối cảnh hội nhập hiện nay.

Hoàn thiện chính sách pháp luật, bổ sung và phát triển theo hướng hội nhập, phù hợp với luật pháp quốc tế

Luật Xuất bản năm 2012 gồm 6 chương, 54 điều đã bao quát toàn bộ 3 lĩnh vực: xuất bản, in và phát hành. Qua hơn 10 năm thi hành, các quy định của Luật đã từng bước đi vào cuộc sống và đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản phát triển nhanh, mạnh cả về số lượng và chất lượng, góp phần mang lại sinh khí mới cho ngành Xuất bản Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, Luật Xuất bản năm 2012 cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập, phát sinh nhiều vấn đề mới trong thực tiễn, đòi hỏi cần xem xét sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn đặt ra, đặc biệt là trong lĩnh vực sách điện tử. Luật cần bổ sung các điều khoản rõ ràng hơn về việc đăng ký, biên tập và phát hành sách điện tử phù hợp với thực tiễn Việt Nam, cũng như quá trình Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới.

- Về chính sách của Nhà nước được quy định trong Điều 7 của Luật Xuất bản năm 2012, nên bổ sung việc hỗ trợ xây dựng mô hình xuất bản và phát hành sách điện tử và việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghệ để vận hành mô hình có hiệu quả.

- Đối với lĩnh vực xuất bản, trong Điều 12 về mô hình nhà xuất bản nên mở rộng đơn vị chủ quản đến các doanh nghiệp và có thể thí điểm mô hình nhà xuất bản tư nhân dưới sự giám sát của Nhà nước.

- Tại Điều 18 việc quy định chức danh giám đốc, tổng biên tập trong luật là cứng nhắc, không thu hút được nguồn nhân lực đáp ứng tình tình mới. 

- Về tiêu chuẩn biên tập viên chưa đặt ra tiêu chuẩn của biên tập viên trong thời đại công nghệ số. Một biên tập viên phải có trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn và trình độ tin học công nghệ nhất định. Trong bối cảnh hội nhập, biên tập viên còn là nhà marketing sản phẩm, kết nối giữa bản thảo và thị trường.

Chính sách thu hút nguồn nhân lực nhằm thu hút nhân tài, chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường

- Thu hút nhân tài trong nước thông qua chính sách ưu tiên, đãi ngộ trong quá trình đào tạo và tuyển dụng. Chính sách học bổng, miễn học phí trong quá trình đào tạo là một giải pháp thu hút những học sinh có học lực giỏi tham gia nguồn nhân lực xuất bản. Chính sách đãi ngộ trong quá trình tuyển dụng tạo nên bước đột phá trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho mỗi nhà xuất bản, tổ chức, doanh nghiệp.

- Để thu hút nhân tài nước ngoài, cần có những trung tâm hỗ trợ nguồn nhân lực nước ngoài định cư, như: (1) Trung tâm tìm người tài; (2) Trung tâm giúp sinh viên có kỹ năng làm việc và tích lũy kinh nghiệm; (3) Trung tâm gắn kết với doanh nghiệp và giáo dục; (4) Trung tâm hỗ trợ phát triển tài năng.

- Thu hút biên tập viên. Đây là đội ngũ lao động nghề nghiệp, ngoài những giải pháp chung như: Lập cơ sở dữ liệu về nhân lực quốc tế; thực hiện ưu đãi mức thuế cá nhân, miễn thuế khi mua nhà, phương tiện; tạo điều kiện nhập quốc tịch, thường trú; các chính sách lương thưởng như có hệ thống lương linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế; chính sách hỗ trợ học bổng cho sinh viên tài năng của nhiều nước trong khu vực thông qua các đợt tuyển sinh…

Do đa số xuất bản phẩm là Tiếng Việt nên đối với biên tập viên quốc tế sẽ gặp khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ, do vậy, chủ yếu đội ngũ biên tập viên quốc tế là những biên tập viên liên quan đến các xuất bản phẩm bằng tiếng nước ngoài. Đối tượng cần thu hút cũng nên tập trung vào nhóm đối tượng Việt kiều làm trong lĩnh vực xuất bản của các nhà xuất bản ở nước ngoài. Đây là nhóm đối tượng vừa có nền tảng tiếng Việt cơ bản, vừa có kỹ năng nghề nghiệp tại các nước tiên tiến. Cần nghiên cứu chế độ hợp đồng công việc đối với biên tập viên quốc tế để tận dụng nguồn nhân lực biên tập nước ngoài, mà không cần đòi hỏi phải trực tiếp làm việc tại Việt Nam.

- Thu hút nguồn nhân lực công nghệ làm sách điện tử. Sách điện tử là xu thế phát triển tất yếu của xuất bản trong thời kỳ bùng nổ phương tiện đọc hiện nay. Đối với các nước phát triển như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, sách điện tử đã trở thành loại hình chiếm tỷ trọng chính trong xuất bản tại các quốc gia này. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, lĩnh vực phát hành sách điện tử mới chỉ xuất hiện trong vài năm trở lại đây, do vậy, kinh nghiệm phát triển loại hình xuất bản này của các nhà xuất bản Việt Nam còn khá hạn chế. Vì vậy, cần thu hút được công nghệ cũng như nguồn nhân lực kỹ thuật làm sách điện tử từ các nước tiên tiến trên thế giới. Đối với nhân lực kỹ thuật sách điện tử, ngoài kỹ năng về đồ họa, lập trình, cần có kỹ năng về quảng cáo, tiếp thị hiệu quả, bởi sách điện tử sau khi được hoàn thành sẽ được phát hành trực tiếp mà không thông qua hệ thống cửa hàng phát hành truyền thống. Xuất bản điện tử cùng với các phương tiện truyền thông tạo ra xu hướng pha trộn truyền thông (media-mix). Do vậy, đòi hỏi nguồn nhân lực trong lĩnh vực này phải biết kết hợp giữa kỹ thuật xuất bản và kỹ thuật truyền thông.

- Tạo môi trường công việc chuyên nghiệp, lành mạnh, có văn hóa, tính cạnh tranh cao.

Xây dựng vị trí việc làm là cơ sở để xác định số lượng lao động cho nhà xuất bản, doanh nghiệp nâng cao chất lượng làm việc

Các vị trí việc làm cần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tiễn của mỗi nhà xuất bản, tổ chức hay doanh nghiệp, phù hợp với từng chiến lược. 

- Xây dựng vị trí việc làm cho lãnh đạo và quản lý theo mô hình và cấu trúc của tổ chức.

- Xây dựng vị trí việc làm cho biên tập viên theo nhiều mức độ khác nhau: biên tập viên cao cấp, biên tập viên chính, biên tập viên và biên tập viên tập sự.

- Xây dựng vị trí việc làm cho nhân viên công nghệ trong mô hình xuất bản điện tử.

- Ở mỗi vị trí việc làm có số lượng, yêu cầu về chất lượng, chính sách đãi ngộ riêng…

Đổi mới chính sách tiền lương, thưởng, bảo hiểm và một số chính sách khác gắn với chất lượng và năng suất lao động

- Chính sách điều chỉnh theo hướng trả lương theo vị trí việc làm và hiệu quả làm việc. Người lao động làm ra những sản phẩm có lợi nhuận cao, tiết kiệm nhiên liệu, thời gian hay nhân lực sẽ được hưởng lương, thưởng của thành quả lao động. Lỗ hổng của chính sách trước đây là trả lương theo ngạch, bậc, không khuyến khích được sự nỗ lực và sáng tạo của người lao động. 

- Có chính sách khác biệt về lương giữa nguồn nhân lực chất lượng cao so với những nguồn nhân lực khác nhằm khuyến khích phát tiển nguồn nhân lực này.

Đổi mới chính sách đối với ngành Xuất bản về nhân lực, trong đó có phát triển và quản lý nguồn nhân lực theo hướng hiện đại

- Quản lý người lao động theo mức độ hoàn thành công việc theo kế hoạch thay cho quản lý theo thời gian làm việc. Sự phát triển công nghệ thông tin giúp cho biên tập viên có thể làm việc trực tuyến. Phát hành, in có thể kinh doanh trên mạng. Khai thác phát triển thị trường, truyền thông, marketing đều sử dụng công cụ internet. 

- Khuyến khích biên tập viên, nhân viên công nghệ phát triển sản phẩm cùng với phát triển thị trường. Biên tập viên vừa là người thiết kế xây dựng nội dung, vừa là người tìm kiếm, tiếp cận, marketing thị trường nhằm tăng thêm giá trị của xuất bản phẩm.

Tổ chức nguồn nhân lực theo hướng tinh gọn, tổ chức theo mô hình cổ phần hóa nhằm tăng cường vai trò làm chủ của người lao động gắn với doanh nghiệp. 

Vai trò của tổ chức là xây dựng tổ chức và quy trình làm việc sao cho sự gắn kết các thành viên, môi trường làm việc tạo nên sự hòa hợp, có tinh thần xây dựng và phát triển tổ chức.

- Xây dựng quy trình làm việc hiện đại, dễ thực hiện và kiểm soát. Sự kết nối giữa các lãnh đạo, giữa lãnh đạo và nhân viên và giữa các nhân viên được thông suốt và minh bạch.

- Xây dựng hệ thống tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả công việc nhanh, có chính sách khen thưởng kịp thời nhằm động viên, khuyến khích người lao động nhằm tham gia phát minh, sáng chế, nâng cao năng suất làm việc.

Xây dựng thị trường lao động xuất bản theo quy luật cung - cầu nguồn nhân lực

Nhà nước đóng vai trò tổ chức, xây dựng thị trường lao động thông qua sự kết nối giữa các cơ sở đào tạo và các nhà xuất bản, doanh nghiệp và tổ chức.

- Việc đào tạo luôn gắn với thị trường lao động việc làm. Các cơ sở đàotạo cần tìm hiểu nhu cầu nguồn nhân lực của các tổ chức,  doanh nghiệp, xác định xu hướng nguồn nhân lực xuất bản trong từng thời kỳ, từng giai đoạn để đào tạo sát với nhu cầu tuyển dụng.

- Các tổ chức xuất bản gắn kết với các cơ sở đào tạo nhằm tạo môi trường thực hành, đào tạo lại, đóng góp cơ sở lý luận cho công tác đào tạo có chất lượng cao hơn.

- Xác định số lượng nguồn nhân lực thông qua nhu cầu của nhà tuyển dụng. Đây là cơ sở để có các chính sách đào tạo, xác định số lượng đầu vào, giải quyết đầu ra thông qua vị trí việc làm của các nhà xuất bản hay tổ chức, doanh nghiệp.

Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực gắn với kế hoạch việc làm

Quy hoạch ngành đào tạo sát với nhu cầu thực tiễn, cơ chế quản lý, sử dụng lao động từ tuyển chọn, bố trí, đánh giá người lao động

Trong công tác quy hoạch, cần xác định trước những dự báo chiến lược về nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở đó có sự đầu tư đúng mức nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách hợp lý và mang lại hiệu quả thiết thực đối với sự phát triển của ngành Xuất bản.

- Xây dựng mã ngành đào tạo: Xây dựng các nhóm mã ngành mới: Biên tập sách điện tử; số hóa bản thảo và quản trị dữ liệu, kinh doanh sách điện tử và kỹ thuật.

- Xây dựng mã ngành đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong xuất bản: tiến sĩ, thạc sĩ.

- Xây dựng nhóm các trường nghề đào tạo công nhân kỹ thuật trong việc điều khiển máy móc trong quá trình xuất bản như: kỹ thuật tin học; kỹ thuật in ấn; kỹ thuật bảo mật dữ liệu… Đây là nhóm các trường đào tạo nguồn nhân lực bảo đảm vai trò kỹ thuật trong nhà xuất bản cũng như trong doanh nghiệp.

- Thành lập một số viện nghiên cứu về xuất bản để đưa ra những dự báo và định hướng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực phù hợp với thực tiễn Việt Nam và quá trình hội nhập.

Đổi mới chương trình đào tạo đáp ứng chất lượng nguồn nhân lực theo tiêu chí hội nhập

- Chương trình đào tạo xây dựng theo hướng hội nhập về chương trình đào tạo gắn với Luật Giáo dục hiện hành. Xây dựng hệ thống giáo trình tiên tiến bảo đảm các tín chỉ theo chuẩn quốc tế.

- Thay đổi cách thức đào tạo nguồn nhân lực bằng cách đào tạo theo các tín chỉ. Tín chỉ chung gồm những học phần dành chung cho các khối trường đã được quy định cũ; tín chỉ đào tạo nhóm kỹ năng trong xuất bản như kỹ năng phương pháp biên tập, khai thác bản thảo; kỹ năng mỹ thuật; đào tạo nhóm kỹ năng chuyên môn bao gồm các môn khoa học mà biên tập viên có thể sử dụng trong quá trình làm việc.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với hội nhập và xuất bản số

Theo đó, cần đổi mới đồng bộ cả về chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, hình thức thi, kiểm tra; vấn đề xây dựng đội ngũ giảng viên… Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo theo tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Thông qua các hình thức liên kết đào tạo giữa nhà trường với các cơ sở, nhà xuất bản để chương trình đào tạo của nhà trường luôn được điều chỉnh, cập nhật cái mới, hiện đại hơn, thích ứng hơn với trình độ công nghệ mới.

- Đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ gắn với vị trí việc làm như lãnh đạo, biên tập viên cao cấp, biên tập viên chính; chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính.

- Đào tạo cử nhân chất lượng quốc tế vừa có kiến thức chuyên môn cao, có trình độ ngoại ngữ, vừa có kỹ năng trong xây dựng, thiết kế nội dung xuất bản phẩm vừa có kỹ năng phát triển thị trường.

Đào tạo số lượng nguồn nhân lực gắn với chiến lược và nhu cầu của nhà xuất bản, tổ chức và doanh nghiệp

Từ chiến lược của mỗi nhà xuất bản, tổ chức, doanh nghiệp, xác định được số lượng nguồn nhân lực cho từng thời kỳ, từng giai đoạn. Từ đó, tổ chức đào tạo với số lượng sát với nhu cầu thực tiễn.

- Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho từng thời kỳ, từng giai đoạn.

- Chủ động liên kết thị trường lao động ngành Xuất bản với các tổ chức trong nước và quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực.

Giải pháp về hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn nhân lực

Hợp tác quốc tế trong đào tạo sinh viên, nghiên cứu sinh trong lĩnh vực xuất bản

- Có chính sách phù hợp trong việc thu hút, sử dụng nhân lực sau đào tạo sao cho hiệu quả, có như vậy mới thu hẹp khoảng cách về chất lượng đào tạo và trình độ khoa học kỹ thuật của Việt Nam và thế giới trong xuất bản.

- Tăng cường các nguồn lực tài chính bảo đảm nguồn ngân sách nhà nước thực hiện việc gửi học sinh, sinh viên, giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý đi đào tạo ở nước ngoài thông qua các đề án về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực lĩnh vực xuất bản đã được phê duyệt; đồng thời, phát huy tối đa việc huy động nguồn lực từ các nước và các tổ chức quốc tế góp phần thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực.

Hội nhập và chuyển giao công nghệ xuất bản kỹ thuật số nhằm phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng

- Liên doanh làm sách điện tử: Cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 cùng với sự phát triển mạng thông tin toàn cầu, sự bùng nổ của thiết bị truyền thông cá nhân đã và đang tạo ra nhiều thay đổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó ngành Xuất bản cũng không ngoại lệ. Những thói quen mới của độc giả như: mua bán, lựa chọn và trao đổi sách trực tuyến, sử dụng ebook (sách điện tử) và
vrbook (sách thực tế tăng cường ảo) đang trở thành một xu hướng tất yếu, hứa hẹn mang lại nhiều triển vọng đối với các nhà xuất bản của các quốc gia trên thế giới.

- Hợp tác kinh doanh xuất bản phẩm nhằm chuyển giao công nghệ và phương pháp kinh doanh số với các doanh nghiệp với lợi thế về công nghệ, tư duy kinh doanh vận hành theo mô hình của trang bán lẻ trực tuyến trong đó có kinh doanh sách điện tử. Tăng cường hoạt động liên kết xuất bản sách điện tử, đồng thời, có chính sách khuyến khích, mở rộng đối tượng tham gia vào việc
phát hành, kinh doanh sách điện tử.

- Xây dựng quy chế hợp tác: các nhà xuất bản tham gia xuất bản điện tử phải bảo đảm một số điều kiện về nhân lực, hạ tầng kỹ thuật, giải pháp công nghệ. Xây dựng cơ chế thích hợp nhằm bảo đảm quyền tác giả, quyền lợi của những tổ chức, cá nhân tham gia vào thị trường xuất bản điện tử. Nhà nước cần tăng cường mạnh mẽ hơn nữa trong công tác quản lý thị trường xuất bản phẩm nói chung, thị trường xuất bản điện tử nói riêng nhằm ngăn chặn tình trạng vi phạm bản quyền, trốn thuế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả các nhà xuất bản, đơn vị, tổ chức tham gia xuất bản, liên kết xuất bản và phát hành sách điện tử. Đồng thời, cần có chính sách phát triển công nghiệp sản xuất các thiết bị đọc sách nhằm hạ giá thành loại sản phẩm này.

- Tăng cường kiểm soát nội dung, chương trình xuất bản để sự hợp tác không vi phạm Luật Xuất bản, Luật Sở hữu trí tuệ hay các quy định pháp luật khác ở Việt Nam.

- Hình thức liên kết thể hiện cách thức lựa chọn đối tác liên kết của các cơ sở sản xuất kinh doanh xuất bản phẩm. Tùy thuộc vào chức năng nhiệm vụ của nhà xuất bản mà có đối tác phù hợp nhằm chủ động để tạo ra mặt hàng sách đáp ứng nhu cầu của thị trường và được bạn đọc hưởng ứng. Hình thức liên kết góp vốn; cung cấp nguồn nhân lực và thị trường.

Hợp tác quốc tế về sản phẩm và thị trường, phát triển chất lượng nội dung, số lượng xuất bản phẩm và thị trường nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh, thị trường việc làm rộng lớn và bền vững

- Hợp tác để đa dạng hóa sản phẩm đồng thời kế thừa được những nội dung, kiến thức của nhân loại, phổ biến kiến thức khoa học, nghệ thuật, văn hóa giúp cho quá trình hội nhập sâu và rộng. Ngoài ra, thông qua sự hợp tác này có thể học hỏi được quy trình xuất bản, quá trình kinh doanh, từ đó hoàn thiện các kỹ năng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Hợp tác về thị trường tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh, thông qua đó yêu cầu về chất lượng xuất bản phẩm cao hơn, từ đó yêu cầu nâng cao kỹ năng làm việc của biên tập viên, sự năng động của nhân viên phát hành, tăng cường kỹ năng giao tiếp để nâng cao kỹ năng ngoại ngữ trong kinh doanh.

Hợp tác quốc tế về lao động việc làm của ngành Xuất bản giữa các nhà xuất bản lớn trên thế giới với một số nhà xuất bản trong nước

- Hợp tác về xuất bản sách giáo khoa, sách điện tử để học sinh, độc giả trong nước có cơ hội tiếp cận các xuất bản phẩm có chất lượng cao của các nhà xuất bản trên thế giới và khu vực từ đó tạo áp lực đòi hỏi chất lượng xuất bản phẩm trong nước cao hơn về chất lượng, mỹ thuật. Đây cũng là yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất bản để tạo nên những sản phẩm đó.

- Hợp tác về lao động. Các nhà xuất bản trong nước có thể hợp tác về lao động, việc làm với các nhà xuất bản của các nước trong khu vực và thế giới. Lợi thế của Việt Nam là cung cấp lao động giá rẻ, cần cù, chăm chỉ, đồng thời học tập và củng cố quy trình làm việc, kỹ năng được hoàn thiện, từ đó hội nhập và phát triển thị trường lao động việc làm.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin