1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng Công an nhân dân là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về quan niệm, phương châm, nguyên tắc, mục tiêu và cách thức xây dựng người Công an cách mệnh, có ý nghĩa chỉ dẫn, định hướng về tư tưởng và hành động cho lực lượng Công an nhân dân nói chung và cho mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân nói riêng trong rèn luyện và học tập, công tác và chiến đấu, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Thứ nhất, xây dựng lực lượng Công an nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung thành với Ðảng, Tổ quốc và Nhân dân là nội dung quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù khó khăn, phức tạp, gian nan đến mấy, Công an nhân dân phải luôn tuyệt đối trung thành với Ðảng. Ðây là yêu cầu có ý nghĩa sống còn. Theo đó, từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, cán bộ, chiến sĩ công an phải tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Ðảng, quán triệt, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Ðảng một cách nhất quán; hết lòng, hết sức phụng sự Ðảng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong Bài nói tại Đại hội thi đua lực lượng Công an nhân dân (tháng 10/1966), Người nhấn mạnh: “Cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân nói chung là tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng và nhân dân, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và của nhân dân”1. Để “Công an nhân dân của ta sẽ là một lực lượng cách mạng vô địch”2, “trước hết là phải khắc sâu lòng căm thù giặc Mỹ, phải nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, luôn luôn cảnh giác, dũng cảm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”3.
Bản chất cách mạng của Công an nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Công an nhân dân hoàn toàn khác công an đế quốc. Công an đế quốc là nanh vuốt của đế quốc để hà hiếp áp bức đa số nhân dân... Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng và Chính phủ cho tốt. Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân”4.
Thứ hai, coi trọng mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Công an nhân dân, mối quan hệ, hiệp đồng giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân và các chủ thể khác trong hệ thống chính trị
Quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng khối đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nước và đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Công an nhân dân; mối quan hệ, hiệp đồng giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân và các chủ thể khác trong hệ thống chính trị. Đó là những mối quan hệ rất đặc biệt nhằm phát huy vai trò Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân kiểm tra, giám sát, huy động sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Người khẳng định: “Công tác công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng. Nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng, thì dù khéo mấy cũng không kết quả”5. “Các cấp ủy đảng phải thật sự giúp đỡ và lãnh đạo chặt chẽ công an”6; “Các cấp đảng bộ trong lực lượng Công an nhân dân phải rất coi trọng xây dựng đảng bộ và chi bộ “bốn tốt”, phải coi trọng công tác xây dựng Đoàn Thanh niên”7, góp phần củng cố tổ chức, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng Công an nhân dân. Người khẳng định quan hệ giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân là quan hệ hiệp đồng tác chiến, keo sơn, gắn bó vì mục tiêu chung bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ và nhân dân: “Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng”8. Để làm được điều đó, Người yêu cầu lực lượng Công an nhân dân nói chung, cán bộ Công an nhân dân nói riêng “trước hết… phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, lập trường phải rõ ràng, vững chắc”9. Về xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Người nhận định: “Công an cách mạng là một vũ khí sắc bén của chuyên chính vô sản”10, cán bộ, chiến sĩ công an giữ vị trí, vai trò nòng cốt, tiên phong, là “vũ khí sắc bén” bảo vệ Ðảng, Chính phủ và nhân dân.
Thứ ba, lực lượng Công an nhân dân phải coi trọng thực hành đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, xây dựng phong cách người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong giao tiếp, giải quyết công việc phục vụ nhân dân
Trong bài viết Tư cách người công an cách mệnh (tháng 3/1948), Người đã chỉ ra những nội dung cốt lõi về vấn đề đạo đức cách mạng của người Công an nhân dân, xây dựng lực lượng Công an nhân dân và xây dựng các mối quan hệ căn cốt nhất của người cán bộ công an trong đời sống và công tác: “Tư cách người công an cách mệnh là: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”11.
Theo đó, Người đặc biệt chú trọng tính toàn diện khi xây dựng lực lượng Công an nhân dân: trước hết là đạo đức cách mạng, phải cần, kiệm, liêm, chính; thứ hai là vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ, có kiến thức chuyên sâu, “Vô luận ở quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tổ chức, tuyên truyền, công an, v.v., cán bộ ở môn nào phải học cho thạo công việc ở trong môn ấy”12; thứ ba là lề lối làm việc khoa học, tận tụy, tác phong làm việc kính trọng, lễ phép với nhân dân, thân ái, giúp đỡ đồng chí, đồng sự và phải luôn luôn cảnh giác, giữ kỷ luật chặt chẽ. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự của của Công an nhân dân.
Bên cạnh đó, Người yêu cầu lực lượng Công an nhân dân:
“- Phải thật sự đoàn kết, đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa công an với nhân dân.
- Phải kịp thời kiện toàn tổ chức và chỉnh đốn lề lối làm việc của các bộ phận công an để làm trọn nhiệm vụ mới.
- Các cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân phải ra sức trau dồi: Đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Tác phong phải thật khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an. Đối với những người có thành tích, phải khen thưởng, đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa. Khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức… Trong các cơ quan, phải thực hành dân chủ, thường xuyên phê bình nghiêm chỉnh và thật thà tự phê bình để giúp nhau tiến bộ”13; thấy sai phải đấu tranh, thấy đúng phải bảo vệ; nêu cao tinh thần chí công vô tư, khách quan, trung thực, liêm chính, không làm hại người tốt, không bao che kẻ xấu, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm.
Có thể nói, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân, giá trị cốt lõi chính là Sáu lời chỉ dạy của Người về Tư cách người Công an cách mệnh. Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân là tổng hòa các mối quan hệ xã hội mà người công an cách mạng phải xử lý hài hòa, nhuần nhị, khoa học và tỉnh táo. Đó là kim chỉ nam để cán bộ, chiến sĩ nhận biết cái sai, cái xấu, cái chưa hoàn thiện để từ đó chấn chỉnh, sửa chữa; đồng thời đó cũng chính là bộ tiêu chí, thước đo, chuẩn mực đạo đức, lối sống, mục tiêu phấn đấu, rèn luyện, phương châm hành động, biện pháp công tác của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; là động lực, cội nguồn sức mạnh để lực lượng Công an nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Thứ tư, xây dựng tổ chức, bộ máy Công an nhân dân thiết thực, chắc chắn, bám sát yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn
Bộ máy Công an nhân dân là một thành tố trong bộ máy chính quyền nhà nước do Đảng lãnh đạo. Quan điểm xuyên suốt, cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bộ máy Công an nhân dân là: Bộ máy tổ chức của Công an nhân dân phải được xây dựng theo quan điểm, lập trường giai cấp công nhân, phải thiết thực, chắc chắn, làm việc dân chủ với tinh thần đoàn kết; tinh, gọn, thiết thực, coi trọng tính hiệu quả, tiết kiệm; “Cách tổ chức công an phải giản đơn, thiết thực, tránh cái tệ quá hình thức, giấy má”14. Người nhấn mạnh tập trung xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ, am hiểu trên mọi lĩnh vực, bộ máy công an trong sạch là nhiệm vụ cấp thiết: “... phải xây dựng một bộ máy công an rất tốt, rất chắc chắn. Ai phải xây dựng? Mỗi một cán bộ công an đều có trách nhiệm vào đấy. Ai cũng tiến bộ, cũng khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm, thì toàn bộ bộ máy công an sẽ tốt”15, từ đó đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn. Bộ máy công an là một tổ chức thuộc cơ cấu chính phủ, cho nên mọi hoạt động của bộ máy ở cả cấp trung ương và địa phương cần tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và chịu sự chi phối của cơ chế hoạt động chung của bộ máy nhà nước. Đồng thời, Người kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm lệch lạc, cơ hội chủ nghĩa, hoặc coi bộ máy công an là công cụ siêu giai cấp, siêu quyền lực hoặc ngược lại, hạ thấp tầm quan trọng, phi chính trị hóa bản chất giai cấp công nhân, làm lu mờ tính nhân dân của bộ máy Công an nhân dân…
2. Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công an cách mệnh, trải qua gần 80 năm xây dựng và phát triển, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam không ngừng nỗ lực, phấn đấu trở thành “lực lượng cách mạng vô địch” - tuyệt đối trung thành, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.
Một là, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước cùng sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, có hiệu quả của Quân đội nhân dân, các cấp, các ngành, lực lượng Công an nhân dân không ngừng phát huy truyền thống anh hùng, ngày càng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, thực sự là lực lượng vũ trang cách mạng trọng yếu, tin cậy, tuyệt đối trung thành của Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Qua các thời kỳ, lực lượng Công an nhân dân đã có đóng góp đặc biệt quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước; luôn chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước những vấn đề cơ bản, chiến lược trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại và an ninh, trật tự; phối hợp và trực tiếp thực hiện các biện pháp trong công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, nhất là bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ đội ngũ cán bộ, ngăn chặn ý đồ xâm nhập, phá hoại nội bộ; ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch; góp phần quan trọng trong việc giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; bảo vệ việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng; phát huy vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh, trật tự, chủ động phòng ngừa, đẩy lùi từ sớm, từ xa các thách thức, mối đe dọa, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia; công tác phòng, chống tội phạm đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, kịp thời xử lý có hiệu quả các vấn đề phức tạp nổi lên, không để bị động, bất ngờ…
Công an nhân dân từ Trung ương đến địa phương luôn thực hiện tốt khẩu hiệu hành động: “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, “Thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi, lấy niềm vui, hạnh phúc của nhân dân làm lẽ sống của mình”, “Mỗi ngày làm một việc tốt vì nhân dân”… Chăm lo xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”…
Hai là, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an đã có nhiều chủ trương, kế hoạch, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng Công an nhân dân đẩy mạnh việc học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy gắn với việc học tập và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ;
Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”; đặc biệt, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới chính là kim chỉ nam cho mọi hành động của lực lượng Công an nhân dân.
Trong thực tế công tác, thực hành đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xây dựng phong cách người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong giao tiếp, giải quyết công việc phục vụ nhân dân, đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân có đạo đức, thái độ ứng xử văn hóa trong tiếp xúc và làm việc với nhân dân; khiêm tốn, niềm nở, lễ phép, kính trọng người già, yêu mến trẻ em, tôn trọng phụ nữ, giúp đỡ người khuyết tật; thực sự cầu thị, lắng nghe ý kiến phê bình, góp ý của nhân dân để sửa chữa khuyết điểm của mình. Thường xuyên nêu cao tinh thần cách mạng, kiên quyết đấu tranh phê phán, khắc phục thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, cửa quyền, hách dịch, gây phiền hà cho nhân dân. Công tác dân vận trong Công an nhân dân luôn được chú trọng và gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của công tác công an.
Ba là, quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương về thực hành dân chủ, thường xuyên nghiêm chỉnh phê bình và thật thà tự phê bình, lực lượng Công an nhân dân đã góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ; gương mẫu đi đầu trong rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong và ý thức tổ chức kỷ luật trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao cũng như trong đời sống hằng ngày; thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, phát huy dân chủ. Thường xuyên tổ chức sinh hoạt chính trị “tự soi”, “tự sửa”, “tự nhận diện”, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, hoạn nạn.
Bốn là, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân và Di chúc của Người trong Công an nhân dân đã đi vào thực chất, có chiều sâu, chuyển từ “học tập” sang “làm theo” bằng những việc làm thiết thực, cụ thể trong học tập, công tác, chiến đấu, phục vụ nhân dân của cán bộ, chiến sĩ. Qua đó, Công an nhân dân luôn giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; nêu cao tinh thần tận tụy với công việc, ý thức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân; từ đó, xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương Công an nhân dân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo Bác. Đại bộ phận các chiến sĩ Công an nhân dân đã kế thừa và phát huy tốt truyền thống vẻ vang của dân tộc, của Đảng và của lực lượng Công an nhân dân; trung thành, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, đoàn kết, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ; khắc cốt ghi tâm Sáu điều Bác Hồ dạy và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm học tập, thực hiện thật tốt tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người trong suốt quá trình phấn đấu, rèn luyện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân vẫn còn một số hạn chế, bất cập. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Bên cạnh ưu điểm là cơ bản, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, công tác xây dựng lực lượng, tổ chức bộ máy và hoạt động của lực lượng công an vẫn còn một số hạn chế, bất cập. Đó là công tác nắm bắt, phân tích, dự báo tình hình và tham mưu chiến lược có nơi, có lúc, có việc chưa kịp thời, chưa chuẩn xác; luật pháp về an ninh, trật tự chưa đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trên một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế; một bộ phận cán bộ, chiến sĩ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu gương mẫu; giảm sút ý chí chiến đấu, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý kỷ luật; tiềm lực hậu cần, kỹ thuật, nhất là cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật có mặt, có lĩnh vực chưa theo kịp yêu cầu của tình hình thực tiễn và sự phát triển của khoa học và công nghệ”13.
3. Trước bối cảnh thế giới và tình hình trong nước có những diễn biến hết sức phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt là việc đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch, tăng cường tấn công hòng “phi chính trị hóa” và vô hiệu hóa lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân Việt Nam phải tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân, phát huy truyền thống vẻ vang, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó.
Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với công tác công an và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Lực lượng Công an nhân dân cần tiếp tục quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa và tập trung xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, trong đó công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, đề cao trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Thứ hai, chú trọng quán triệt, nâng cao nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, chiến sĩ. Trong đó, tập trung quán triệt, nâng cao nhận thức về Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, nội dung, ý nghĩa sâu sắc của bản Di chúc và các tác phẩm khác viết về Công an nhân dân của Người. Đa dạng hóa phương pháp giáo dục, phương tiện truyền thông, các buổi sinh hoạt chính trị, các cuộc thi, tìm hiểu nhằm bảo đảm tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân thực sự trở thành “kim chỉ nam” soi đường cho sự nghiệp cách mạng của mỗi cán bộ, chiến sĩ… Phát huy vai trò của các cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị trong tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng nhận thức sâu sắc về những nội dung tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ ba, nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện thực tiễn của đất nước để xây dựng tiêu chí, lộ trình, biện pháp xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật phục vụ hiệu quả công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy Bộ Công an khoa học, chính quy, hiện đại; tăng cường tính chất vũ trang, tính kỷ cương, kỷ luật; bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp và đặt trong tổng thể về kiện toàn tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, không hành chính hóa hoạt động của lực lượng Công an; bố trí lực lượng, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ và lãnh đạo, chỉ huy, cơ cấu biên chế trong nội bộ một cách hợp lý, bảo đảm nguyên tắc “một việc chỉ một đơn vị chủ trì thực hiện”, theo hướng “Bộ tinh gọn, tỉnh vững mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, tăng cường cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở và chính quy hóa lực lượng công an xã, thị trấn.
Thứ tư, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên Công an nhân dân, nhằm bảo đảm có nguồn nhân lực có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, với trình độ cao, năng lực toàn diện, tinh thông nghiệp vụ, tư duy chiến lược, chiến thuật sắc sảo, tác phong chuyên nghiệp, khả năng làm chủ và sử dụng thành
thạo các loại phương tiện được trang bị; đủ trình độ ngoại ngữ, kiến thức phục vụ công tác công an thời kỳ hội nhập quốc tế; trong đó, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy công an các cấp, cán bộ cấp chiến lược có đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đặc biệt, tập trung đẩy mạnh việc tu dưỡng đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong lực lượng Công an nhân dân. Công an phải thường xuyên tu dưỡng, “tự soi, tự sửa”, rèn luyện bản thân “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, thật sự trong sạch, vững vàng, không bị sa ngã, “thoái hóa, biến chất”; không bị cám dỗ bởi lợi ích, danh vọng; không lợi dụng cương vị công tác để vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đẩy mạnh thực hành dân chủ, thường xuyên phê bình nghiêm chỉnh và thật thà tự phê bình, góp phần củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong lực lượng Công an nhân dân. Đối với đồng chí, đồng đội, phải có tinh thần tương thân, tương ái, chân tình, giúp đỡ trong cuộc sống, công tác và chiến đấu; xây dựng và giữ gìn đoàn kết nội bộ, chú trọng bảo vệ uy tín, giữ gìn danh dự và truyền thống tốt đẹp của lực lượng Công an nhân dân.
1, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 15, tr. 169.
2, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 170.
4, 8, 14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 269; t. 12, tr. 153; t. 6, tr. 312.
5, 13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, 140, 169-170.
6, 10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 72, 7.
9, 15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 248, 250.
11, 12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 498-499, 309-310.