Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tác phẩm "Sửa đối lối làm việc" đối với rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay

CY&PT - Tháng 10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, mang bút danh X.Y.Z (Bác có khoảng 160 bút danh, tên gọi khác nhau) với ý nghĩa đấu tranh cách mạng sâu sắc, nhằm xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, tự lực cánh sinh. Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947) và việc vận dụng tư tưởng đó trong rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, nhà tư tưởng, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam, người chiến sĩ xuất sắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người cùng Đảng Cộng sản Việt Nam chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vẻ vang trong thế kỷ XX, đưa nước ta từ một nước nô lệ trở thành một quốc gia độc lập, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, không ngừng đấu tranh vì hòa bình, thống nhất Tổ quốc, tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa. Những thành quả quan trọng đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt, đường lối cách mạng đúng đắn, tư tưởng chính trị kiên định và sự dày công lựa chọn, tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. 

1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”

Sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, các vấn đề liên quan đến địa chính trị có sự thay đổi cơ bản. Hệ thống các nước đế quốc trên toàn thế giới bị chấn động; Đức, Ý, Nhật bị quân đồng minh đánh bại; Anh, Pháp bị suy yếu trên nhiều thuộc địa. Đế quốc Mỹ nhờ các thuận lợi khách quan đã lớn mạnh, trở thành một “sen đầm” quốc tế, lôi kéo lực lượng chống lại các lực lượng cách mạng. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã hình thành và ngày càng lớn mạnh - đứng đầu là Liên Xô, là niềm cổ vũ lớn lao cho phong trào cách mạng đấu tranh giành độc lập trên thế giới, tạo thành hai hệ thống chính trị cơ bản trên thế giới là chủ nghĩa đế quốc và hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Cũng chính vì vậy mà những mâu thuẫn trên thế giới diễn ra phức tạp và ngày càng gay gắt; Việt Nam là một bộ phận của thế giới nên đã chịu nhiều tác động từ sự đối đầu gay gắt đó.
Trong nước, cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Dân tộc Việt Nam được tự do, được làm chủ vận mệnh đất nước. Mục tiêu của Đảng đã thành hiện thực là giành được chính quyền về tay nhân dân, nắm quyền lãnh đạo hệ thống chính trị hợp pháp nước nhà, dưới sự tổ chức và lãnh đạo tài tình của Bác Hồ. Tuy nhiên, cũng ngay sau đó đất nước ta lại phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách từ các thế lực đế quốc muốn xâu xé, bóc lột mọi nguồn lực của đất nước. Là tổ chức lãnh đạo, Đảng ta phải đối đầu với nạn nghèo nàn, lạc hậu, giặc đói, giặc dốt...; cộng với sự non trẻ của chính quyền mới đã đặt cách mạng nước ta trong tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”. Từ thực tiễn đó, đòi hỏi vai trò lãnh đạo của Đảng ta là vô cùng cấp thiết. Làm sao để thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ để tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh tổ chức Đảng và toàn dân tộc, hoàn thành sứ mệnh cách mạng.
Từ đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, giữ vị trí là người lãnh đạo đứng đầu, Bác Hồ sớm nhận ra các khiếm khuyết trong tổ chức, bộ máy cũng như các “tàn dư” của chế phong kiến trong mỗi cán bộ, đảng viên ta. Với ý thức “cán bộ là đầy tớ của dân, công bộc của dân”, trong hoàn cảnh này đòi hỏi họ phải thật sự gương mẫu, nêu cao đạo đức cách mạng, chấp nhận mọi hy sinh gian khổ vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Bác đã viết nhiều bài báo, tác phẩm nhằm định hướng, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức tác phong cho cán bộ, đảng viên ta. Trong điều kiện toàn quốc kháng chiến, từ ngày 17/9/1945 đến ngày 27/9/1945 Bác đã có đến 4 bài viết chỉ ra những sai lầm mà cán bộ có thể mắc phải. Ngày 12/10/1945 Bác viết “Sao cho được lòng dân” với bút danh Chiến Thắng; đầu năm 1947 Bác gửi 2 bức thư cho các đồng chí Bắc Bộ và Trung Bộ để biểu dương những ưu điểm, đồng thời nghiêm khắc phê phán những khuyết điểm, những lệch lạc có hại cho sự nghiệp cách mạng của cán bộ, đảng viên, như bè phái, địa phương, vô tổ chức. Bác nhắc nhở, tư tưởng và hành động của mỗi đồng chí có quan hệ đến toàn quốc; một người sơ xuất, một việc sơ xuất có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm. Tháng 6/1947 Bác viết “Cán bộ tốt và cán bộ xoàng” với bút danh A.G, là bài báo đầu trên báo Sự thật, số 77 năm 1947. Bác viết “Đi đến nơi nào có cán bộ tốt thì cảnh tượng tốt bày ngay ra trước mắt... Nơi nào cán bộ xoàng thì vùng đó đang ngủ say; Trên giấy thì cái gì cũng có, nhưng sự thật thì việc gì cũng uể oải, lúi xùi”. Hay “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều tưng ửng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì việc gì cũng mĩ mãn”. Vẫn trăn trở với công tác xây dựng Đảng, tháng 10/1947 tại Việt Bắc, với bút danh XYZ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm nâng cao nhận thức lý luận, tư tưởng tình cảm, nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong của người cán bộ cách mạng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình, nhiệm vụ mới để chèo lại con thuyền Cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
2. Nội dung chính của tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc"
Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh - kể từ khi bước chân ra đi tìm đường cứu nước tới khi viết những dòng di chúc cuối cùng - tất cả đều toát lên một tư tưởng vĩ đại, tính nhân văn cao cả: Vì nhân dân! Nhân dân trong tâm hồn Bác như một nỗi thương cảm day dứt, như hơi thở suối nguồn của mình. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, trải qua bao đau khổ với thân phận trâu ngựa bị áp bức bóc lột, nhân dân Việt Nam, hơn ai hết hiểu rõ sự quý giá của độc lập, tự do. Quá trình hoạt động của Người chỉ có một mục tiêu duy nhất là giải phóng nhân dân, mang lại cơm no áo ấm cho nhân dân. Bác viết “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn tòan tự do, đồng bao ai cũng có cơm ăm áo mặc, ai cũng được học hành”. Và cũng chính từ những ước muốn cao cả đó, Người muốn xây dựng chính quyền cách mạng phải mang những phẩm chất tốt đẹp; cán bộ Đảng viên phải có tư cách, đạo đức cách mạng, đó là tư tưởng, tình cảm tất cả vì nhân dân. Toàn bộ tác phẩm “Sửa đối lối làm việc” là những ưu tư, nỗi khắc khoải của Người với mong muốn cán bộ, đảng viên nhận thức đúng được vị trí, vai trò của mình để làm việc, cống hiến vì hạnh phúc nhân dân, Bác yêu cầu những cán bộ Cách mạng phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng, mục tiêu cao cả Đảng là suốt đời rèn luyện đạo đức cách mạng để phục vụ nhân dân, Bác nói “người lãnh đạo là người đầy tớ của nhân dân”. Với tác phẩm này, Bác trang bị cho các đồng chí của mình những thước đo, tiêu chuẩn đạo đức nhằm thu hút sự ủng hộ của nhân dân để tập trung nguồn lực cho kháng chiến và đồng thời, để cán bộ cách mạng sửa chữa những thói hư tật xấu thường có trong mỗi con người để rèn luyện và nêu cao đạo đức cách mạng, đạo đức cách mạng của đảng cầm quyền. Người quan niệm: Cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời báo cáo tình hình của dân cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng; từ đó Người xem cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc; công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu có ảnh hưởng quyết định tạo nên. Người cũng nghiêm khắc phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề này, trong đó có việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trở thành những người có văn hóa, tri thức, nghiệp vụ và đạo đức cách mạng.

Tác phẩm “Sửa đối lối làm việc” được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu vào năm 1948, gồm 6 phần: Phê bình và sửa chữa; Mấy vấn đề kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa. Bác viết dung dị nhưng lập luận chặt chẽ, câu từ sâu sắc, toàn diện. Cả 6 phần Bác đều nêu những khuyết điểm của cán bộ đảng viên; nhưng tập trung nhất là phần III - Tư cách và đạo đức cách mạng, và đây cũng là phần có vị trí đặc biệt quan trọng và có độ dài nhất trong tác phẩm của Người. Ở đây, Bác yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện một cách nghiêm túc mối quan hệ giữa lời nói và việc làm “chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành” và nêu nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ đảng viên phải làm gì, làm như thế nào để thực hành lý luận. Bác viết “Vô luận thế nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng”. Trái lại, những cán bộ, đảng viên nào “ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại.v.v đó đều là trái với lợi ích của Đảng”, Bác lấy “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” là những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng; đó là cơ sở, cái cốt lõi để thực hành lý luận. Người cũng chỉ rõ, trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “Chí công vô tư”, cho nên mắc phải chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa này như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các chứng bệnh nguy hiểm. Đọc “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta càng hiểu và thấm nhuần hơn tư tưởng phấn đấu tu dưỡng của mỗi cán bộ cách mạng, để có đủ đức, đủ tài, đủ phẩm chất đạo đức cách mạng, lãnh đạo bằng đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vào hiện thực cuộc sống. Trong phần III - Tư cách và đạo đức cách mạng của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, cần nghiên cứu làm rõ hai vấn đề lớn, gồm:

- Thứ nhất: Bản chất tư cách của Đảng cách mạng chân chính, Bác đưa ra 12 điều thuộc về tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, đó là:

1. Đảng không phải là tổ chức làm quan, phát tài. Đảng phải là tổ chức lãnh đạo nhân dân vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ.

2. Cán bộ phải hiểu lý luận và gắn lý luận với thực hành.

3. Khi Đảng ra một chỉ thị phải dựa vào những điều kiện thiết thực và những kinh nghiệm của các nước trên thế giới và của địa phương; phải do quần chúng kiểm soát các khẩu hiệu, chỉ thị xem có đúng hay không.

4. Luôn luôn phải xem xét tất cả các công tác của Đảng. Mọi công tác phải đứng về phía quần chúng.

5. Phải dạy cán bộ, đảng viên, nhân dân tinh thần yêu nước, cần kiệm liêm chính.

6. Mỗi một công việc của Đảng vừa phải giữ nguyên tắc vừa phải liên hiệp dân chúng để vừa lãnh đạo, vừa học hỏi và vừa nâng cao dân chủ.

7. Mỗi một công việc của Đảng phải giữ được tính cách mạng và khéo linh hoạt để có được cách thức đấu tranh và tổ chức tốt hơn để thực hiện được lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.

8. Đảng không che giấu khuyết điểm, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm để tự sửa chữa, tự tiến bộ và dạy cán bộ, đảng viên “Nếu tự Đảng giấu giếm những khuyết điểm là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ vì đâu mà có những khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tim mọi cách để sửa chữa nó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

9. Phải chọn những người rất trung thành, hăng hái; đoàn kết họ trở thành một nhóm trung kiên lãnh đạo.

10. Phải luôn luôn đẩy bỏ những phần tử thù oán ra ngoài.

11. Phải giữ kỷ luật nghiêm từ trên xuống dưới. Tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất quán, tự giác.

12. Đảng phải luôn luôn xét lại các Nghị quyết, chỉ thị của mình đã thi hành như thế nào. Nếu không hóa ra lời nói suông. Đồng thời còn có hại tới lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Người viết “Đảng không phải là một tổ chức làm quan phát tài, nó phải làm trọn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Cán bộ của Đảng phải biết lý luận, mọi công việc của Đảng phải đứng về phía quần chúng, cán bộ đảng viên phải liên hệ chặt chẽ với dân chúng, Đảng không che dấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình; Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm kiên trung lãnh đạo; Đảng phải giữ kỷ luật nghiêm từ trên xuống dới. Để kết luận về tư cách của Đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh viết:

“Muốn cho Đảng được vững bền

Mười hai điều đó chớ quên điều nào”… 

3. Thực trạng rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

Rèn luyện đạo đức cách mạng là một quá trình liên tục, lâu dài và gian khổ, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “tự soi, tự sửa”, “tự phê bình và phê bình” một cách nghiêm túc, đúng đắn. Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”1. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu rèn luyện, giữ gìn và phát huy đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên càng trở nên bức thiết.

Trước hết, có thể khẳng định rằng công tác rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, đặc biệt là việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng đã trở thành một nội dung trọng tâm trong sinh hoạt chi bộ, trong đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên hàng năm.

Nhiều mô hình, điển hình tiên tiến về học tập và làm theo Bác được nhân rộng. Hàng vạn tấm gương cán bộ, đảng viên tiêu biểu trong các lĩnh vực được biểu dương, tôn vinh, góp phần lan tỏa giá trị đạo đức cách mạng trong đời sống xã hội. Những phẩm chất như “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “trung với nước, hiếu với dân”, “nói đi đôi với làm” tiếp tục được khơi dậy, củng cố trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tinh thần nêu gương của người đứng đầu được chú trọng hơn; nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã phát huy tốt vai trò gương mẫu của lãnh đạo trong rèn luyện đạo đức, lối sống, phong cách công tác.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng được tăng cường, góp phần chấn chỉnh, làm trong sạch đội ngũ, nâng cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Theo báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, chỉ tính riêng giai đoạn 2016 - 2024, đã có hàng nghìn tổ chức đảng và đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó nhiều vụ việc nghiêm trọng được phát hiện và xử lý công minh, thể hiện quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Những kết quả đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, khẳng định bản chất cách mạng, tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác rèn luyện đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, chưa thật sự gương mẫu, chưa thường xuyên “tự soi, tự sửa”, thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Một số biểu hiện cụ thể của sự suy thoái đạo đức cách mạng có thể kể đến như: chủ nghĩa cá nhân, vụ lợi, thực dụng, chạy theo danh lợi, coi trọng lợi ích vật chất hơn lợi ích tập thể; phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu; thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ trước khó khăn của tập thể và nhân dân. Không ít cán bộ, đảng viên có biểu hiện lười học tập lý luận chính trị, xa rời nguyên tắc “tự phê bình và phê bình”, né tránh đấu tranh với những sai trái, tiêu cực. Một số trường hợp thậm chí lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân, tham nhũng, gây bức xúc trong xã hội và làm tổn hại uy tín của Đảng.

Những hạn chế đó có nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Về khách quan, trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự suy thoái giá trị, lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa gia tăng mạnh mẽ. Về chủ quan, công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức ở một số nơi còn hình thức, chưa thường xuyên; công tác tự phê bình và phê bình chưa thực chất; chế tài giám sát, xử lý vi phạm đạo đức chưa nghiêm minh; và đặc biệt là việc nêu gương của một số cán bộ lãnh đạo còn hạn chế, chưa thật sự thuyết phục.

Nguyên nhân sâu xa của những yếu kém đó nằm ở chỗ một số cán bộ, đảng viên chưa thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chưa nhận thức đầy đủ rằng đạo đức là “gốc” của người cách mạng. Bác Hồ từng căn dặn: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”2. Khi xa rời gốc đạo đức, người cán bộ dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân - căn bệnh mà Người coi là “kẻ thù của đạo đức cách mạng”.

Những vấn đề nêu trên đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng; gắn rèn luyện đạo đức với xây dựng văn hóa chính trị, nêu gương, trách nhiệm xã hội và kỷ luật Đảng; đồng thời, phải vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những chỉ dẫn trong Sửa đổi lối làm việc, để chấn chỉnh, khắc phục hạn chế, làm cho đạo đức cách mạng thực sự trở thành nền tảng tinh thần của Đảng, kim chỉ nam cho hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

4. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong Sửa đổi lối làm việc để tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947) là một trong những văn kiện lý luận quan trọng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được viết trong giai đoạn cách mạng gặp nhiều khó khăn, khi bộ máy Đảng và chính quyền non trẻ bắt đầu bộc lộ những biểu hiện quan liêu, xa dân, thiếu trách nhiệm. Những tư tưởng đạo đức cách mạng trong tác phẩm không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang ý nghĩa định hướng sâu sắc cho công tác xây dựng Đảng và rèn luyện cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thấm nhuần quan điểm “Đạo đức là gốc của người cách mạng”.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về việc rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên hiện nay cần được coi là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên, gắn với quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ hằng ngày. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện bản lĩnh chính trị, giữ vững phẩm chất, danh dự, lối sống, tránh xa cám dỗ vật chất, danh lợi.

Các cấp ủy đảng cần đưa nội dung rèn luyện đạo đức vào tiêu chí đánh giá, bổ nhiệm, quy hoạch cán bộ; coi trọng phẩm chất hơn năng lực đơn thuần, đề cao chuẩn mực “vừa hồng, vừa chuyên”. Đồng thời, cần xây dựng môi trường làm việc minh bạch, văn hóa công vụ lành mạnh, góp phần nuôi dưỡng, bảo vệ giá trị đạo đức trong đời sống công vụ.

Thực hành “tự phê bình và phê bình” - vũ khí sắc bén để sửa chữa khuyết điểm.

Trong Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh coi “tự phê bình và phê bình” là “vũ khí sắc bén để giúp nhau tiến bộ” . Người phê phán thói “nể nang, dĩ hòa vi quý”, coi đó là biểu hiện của bệnh hình thức, làm cho tổ chức mất sức chiến đấu. Vận dụng tư tưởng này, các tổ chức đảng cần khôi phục và thực hành nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt chi bộ; coi đây là công cụ hiệu quả để ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa những lệch lạc về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Cần đổi mới phương pháp tự phê bình theo hướng thực chất, cụ thể, tránh chung chung, hình thức. Cấp ủy, người đứng đầu phải nêu gương trong tự phê bình, dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, dám nhận trách nhiệm, lấy kết quả sửa chữa làm thước đo đạo đức. Cơ quan kiểm tra, giám sát cần có cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả sau tự phê bình để bảo đảm tính nghiêm túc, thực chất.

Chống chủ nghĩa cá nhân - căn bệnh nguy hiểm nhất của người cán bộ.

Một trong những nội dung trung tâm của Sửa đổi lối làm việc là phê phán chủ nghĩa cá nhân - “căn bệnh mẹ” sinh ra nhiều bệnh khác như tham ô, lãng phí, quan liêu, kiêu ngạo, bè phái. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân3. Do đó, muốn rèn luyện đạo đức cách mạng phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức.

Trong điều kiện hiện nay, khi cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế tác động mạnh mẽ, việc giữ gìn bản lĩnh, vượt qua cám dỗ vật chất, danh lợi càng khó khăn. Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: tăng cường giáo dục lý tưởng, lý luận chính trị; đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW về học tập và làm theo Bác; gắn rèn luyện đạo đức với công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vụ lợi, tham nhũng, lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Nêu gương - phương thức hiệu quả nhất để giáo dục đạo đức.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn trăm bài diễn văn tuyên truyền” (Hồ Chí Minh 2011, tập 5, 268). Trong Sửa đổi lối làm việc, Người yêu cầu cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, phải gương mẫu trong công việc, lời nói đi đôi với việc làm, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Do đó, việc vận dụng tư tưởng này vào hiện nay đòi hỏi người đứng đầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải thật sự nêu gương về đạo đức, lối sống, phong cách lãnh đạo; coi nêu gương là bổn phận, là danh dự, là thước đo đạo đức cách mạng.

Thực hiện nghiêm Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp và Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, coi đây là cơ sở để xây dựng văn hóa nêu gương trong toàn hệ thống chính trị.

Kết hợp rèn luyện đạo đức với xây dựng văn hóa Đảng và văn hóa công vụ.

Rèn luyện đạo đức cách mạng không thể tách rời xây dựng văn hóa trong Đảng và trong xã hội. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - tức là Đảng phải là trung tâm lan tỏa giá trị đạo đức, văn hóa ra toàn xã hội. Vì vậy, cần gắn rèn luyện đạo đức với xây dựng văn hóa Đảng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa ứng xử, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân.

Các cơ quan, đơn vị cần xây dựng quy tắc đạo đức công vụ, đề cao tinh thần trách nhiệm, liêm chính, công tâm; tạo môi trường để cán bộ, đảng viên “rèn đạo đức trong hành động”, qua đó hình thành phong cách lãnh đạo dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân - đúng như tinh thần Sửa đổi lối làm việc đã chỉ ra.


1, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 11, tr. 612, 619
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 284.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 403.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin