Bản chất và yêu cầu khách quan về nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển mới của đất nước
Bàn về đảng cộng sản cầm quyền, V.I. Lênin chỉ rõ: “Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”1. Kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I. Lênin về đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập vai trò cầm quyền của Đảng khi Đảng giành được chính quyền, Đảng nắm chính quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền và Đảng cầm quyền, Người khẳng định: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”2. Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị. Đảng cầm quyền theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ và giam sát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; xác lập và củng cố vai trò cầm quyền bằng uy tín chính trị, hiệu quả lãnh đạo, phát huy dân chủ để Nhân dân ủng hộ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước trong sạch vững mạnh3.
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được xác định là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, là ngọn cờ tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc để vượt qua những khúc quanh của lịch sử. Xét về bản chất, năng lực lãnh đạo không phải là một trạng thái tĩnh tại hay một đặc quyền bất biến, mà là một thực thể động, được hình thành và bồi đắp thông qua sự tương tác giữa lý luận khoa học và thực tiễn sinh động. Năng lực đó bao hàm ba trụ cột cốt lõi: khả năng hoạch định đường lối chiến lược (tầm nhìn), năng lực tổ chức thực hiện và quy tụ nguồn lực (hành động), cùng với năng lực kiểm tra, giám sát và tự chỉnh đốn để duy trì sự trong sạch, vững mạnh. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang đứng trước ngưỡng cửa của những vận hội mới và những thách thức chưa từng có tiền lệ, việc hoàn thiện năng lực lãnh đạo trở thành một mệnh lệnh khách quan, mang tính sống còn đối với sự tồn vong của chế độ và sự phát triển bền vững của quốc gia.
Điều kiện phát triển mới của đất nước trước hết được định nghĩa bởi bối cảnh quốc tế đầy biến động với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây không chỉ là một sự thay đổi về công nghệ, mà là một cuộc tái cấu trúc toàn cầu về phương thức sản xuất, quản trị xã hội và quyền lực chính trị. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược và trí tuệ nhân tạo đang thay đổi cách thức con người tương tác, đòi hỏi Đảng phải có một tư duy quản trị quốc gia hiện đại, thoát ly khỏi những khuôn mẫu cũ kỹ của thời kỳ công nghiệp cơ khí. Khả năng làm chủ công nghệ, dự báo các xu thế chuyển dịch kinh tế toàn cầu và bảo đảm an ninh mạng trở thành thước đo mới cho năng lực lãnh đạo. Nếu Đảng không tự làm mới mình về mặt tri thức và công nghệ, nguy cơ tụt hậu về mặt quản trị sẽ dẫn đến sự lúng túng trong việc dẫn dắt đất nước hội nhập sâu rộng.
Ở bình diện trong nước, điều kiện phát triển mới được đánh dấu bằng khát vọng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Đây là một lộ trình đầy tham vọng, đòi hỏi sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ sang dựa vào đổi mới sáng tạo và năng suất tổng hợp (TFP). Trong bối cảnh này, năng lực lãnh đạo của Đảng phải được thể hiện qua việc khơi thông các điểm nghẽn về thể chế, tạo ra hành lang pháp lý minh bạch để giải phóng mọi nguồn lực của xã hội. Một Đảng mạnh trong điều kiện mới phải là một Đảng biết cách tạo ra động lực cho sự sáng tạo, biết cách bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Sự phức tạp của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi người lãnh đạo không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn phải có sự tinh thông về kinh tế, hiểu biết sâu sắc về các quy luật khách quan để điều tiết nền kinh tế một cách hiệu quả, tránh những cú sốc từ bên ngoài.
Bên cạnh đó, yêu cầu khách quan về nâng cao năng lực lãnh đạo còn xuất phát từ sự thay đổi trong cấu trúc xã hội và nhận thức của nhân dân. Khi trình độ dân trí được nâng cao và sự kết nối thông tin trở nên tức thời, tính chính danh của Đảng không chỉ dựa vào những thành quả trong quá khứ mà phải được khẳng định qua hiệu quả quản trị thực tế trong hiện tại. Nhân dân đòi hỏi một sự lãnh đạo công tâm, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao. Do đó, hoàn thiện năng lực lãnh đạo lúc này gắn liền với việc đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng dân chủ hóa và pháp quyền hóa. Đảng lãnh đạo xã hội không bằng mệnh lệnh hành chính đơn thuần mà bằng sự thuyết phục thông qua những quyết sách đúng đắn, mang lại lợi ích thiết thực cho đại đa số người dân. Năng lực tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc trong một xã hội đa dạng về nhu cầu và lợi ích là một bài thử nghiệm khắc nghiệt đối với bản lĩnh của Đảng.
Cuối cùng, môi trường an ninh phi truyền thống với những vấn đề như biến đổi khí hậu, dịch bệnh xuyên biên giới và sự xói mòn các giá trị văn hóa trong không gian số đang đặt ra những yêu cầu mới về năng lực phản ứng chính sách. Một tổ chức lãnh đạo có năng lực phải là một tổ chức có sức đề kháng cao và khả năng thích ứng linh hoạt (resilience). Việc nâng cao năng lực lãnh đạo thực chất là quá trình tự tiến hóa của Đảng để tương thích với một thế giới VUCA (biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ). Điều này đòi hỏi Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn, loại bỏ những yếu tố thoái hóa, biến chất trong nội bộ để giữ vững vai trò là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân. Tóm lại, việc hoàn thiện năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển mới không phải là một mục tiêu tự thân, mà là phương thức duy nhất để bảo đảm rằng Đảng luôn xứng đáng với niềm tin của nhân dân và hoàn thành sứ mệnh lịch sử đưa dân tộc Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Thực trạng năng lực lãnh đạo của Đảng và những thách thức đặt ra trong bối cảnh mới
Nhìn lại chặng đường đổi mới, đặc biệt là trong thập kỷ gần đây, năng lực lãnh đạo của Đảng đã có những bước tiến dài, bám sát sự vận động của thực tiễn và đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc hiện đại hóa quốc gia, thực trạng năng lực lãnh đạo vẫn đang bộc lộ những khoảng trống và mâu thuẫn nội tại cần được nhận diện một cách thẳng thắn và khoa học. Sự chuyển đổi từ mô hình quản trị truyền thống sang quản trị hiện đại đang đặt Đảng trước những bài thử nghiệm khắc nghiệt về cả bản lĩnh chính trị lẫn năng lực trí tuệ.
Trước hết, về mặt thành tựu, không thể phủ nhận Đảng đã thể hiện năng lực thích ứng cao trong việc hoạch định đường lối phát triển kinh tế - xã hội. Việc kiên định con đường đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và giữ vững ổn định chính trị trong một khu vực đầy biến động là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn chiến lược. Đặc biệt, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ đã góp phần thanh lọc bộ máy, nâng cao sức chiến đấu và củng cố niềm tin của nhân dân. Năng lực lãnh đạo trong những thời điểm khủng hoảng như đại dịch COVID-19 hay các cú sốc kinh tế toàn cầu cho thấy khả năng huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và tinh thần đoàn kết dân tộc một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, soi chiếu vào yêu cầu của điều kiện phát triển mới, những hạn chế về năng lực lãnh đạo đang trở thành rào cản cho sự bứt phá của quốc gia. Một trong những nút thắt lớn nhất là sự chậm đổi mới về tư duy quản trị ở một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, nhất là ở cấp cơ sở. Tư duy kinh nghiệm, hành chính hóa và sự trì trệ trong việc tiếp cận các giá trị hiện đại của kỷ nguyên số vẫn còn hiện hữu. Nhiều quyết sách vẫn mang tính giải quyết sự vụ, thiếu tính dự báo và chưa thực sự dựa trên bằng chứng khoa học hay phân tích dữ liệu chuyên sâu. Điều này dẫn đến tình trạng chính sách khi ban hành đôi khi không tương thích với hơi thở của đời sống, thậm chí gây khó khăn cho sự phát triển của doanh nghiệp và người dân.
Năng lực tổ chức thực hiện và đưa nghị quyết vào cuộc sống vẫn là khâu yếu nhất trong chu trình lãnh đạo. Hiện tượng trên nóng, dưới lạnh, tình trạng nghị quyết thì hay nhưng triển khai thì chậm phản ánh sự đứt gãy trong chuỗi truyền tải mệnh lệnh chính trị từ trung ương xuống địa phương. Đáng quan ngại hơn, trong những năm gần đây, đã xuất hiện tâm lý e dè, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức. Năng lực lãnh đạo bị suy giảm đáng kể khi một bộ phận đảng viên có tư tưởng giữ mình, không dám đột phá, không dám đổi mới vì sợ sai, sợ trách nhiệm. Đây chính là biểu hiện của sự suy giảm bản lĩnh lãnh đạo trước những áp lực của thực tiễn pháp lý và kỷ luật Đảng, làm chậm lại nhịp độ phát triển của nhiều địa phương và ngành nghề.
Bên cạnh đó, thách thức từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp. Những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa và sự xuống cấp về đạo đức công vụ không chỉ làm xói mòn uy tín lãnh đạo của Đảng mà còn tạo ra những lỗ hổng để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc. Trong môi trường không gian mạng bùng nổ, năng lực lãnh đạo về mặt tư tưởng của Đảng đang đứng trước thách thức về việc định hướng dư luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Sự chậm trễ hoặc lúng túng trong việc phản ứng với các thông tin xấu độc, sự thiếu hụt những luận cứ khoa học sắc bén để phản bác các quan điểm sai trái cho thấy năng lực tác chiến trên mặt trận tư tưởng cần phải được hiện đại hóa mạnh mẽ.
Cuối cùng, một thách thức mang tính thời đại là năng lực lãnh đạo trong môi trường quản trị đa bên và hội nhập quốc tế. Khi đất nước tham gia sâu vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sự lãnh đạo của Đảng phải đối mặt với các rào cản kỹ thuật, các chuẩn mực quốc tế khắt khe về nhân quyền, môi trường và lao động. Năng lực nội hóa các cam kết quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong môi trường cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo phải có tầm nhìn toàn cầu và kỹ năng ngoại giao đa phương tinh tế. Nhìn chung, thực trạng hiện nay cho thấy Đảng đang ở trong một giai đoạn quá độ về năng lực: từ một Đảng lãnh đạo trong điều kiện ổn định và truyền thống sang một Đảng lãnh đạo trong môi trường biến động và công nghệ. Những hạn chế nêu trên không phải là bản chất, nhưng nếu không được khắc phục thông qua những giải pháp đột phá về thể chế và con người, chúng sẽ trở thành rào cản ngăn bước dân tộc trên con đường hiện thực hóa khát vọng hùng cường.
Các nhóm giải pháp hoàn thiện năng lực lãnh đạo đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới
Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, việc hoàn thiện năng lực lãnh đạo của Đảng không thể chỉ dừng lại ở những điều chỉnh mang tính kỹ thuật hay cục bộ, mà phải là một cuộc cách mạng về phương thức quản trị và đào tạo con người. Đây là một lộ trình tổng thể, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc kiên định các nguyên tắc nền tảng với việc tiếp thu tinh hoa quản trị hiện đại, nhằm tạo ra một bộ máy lãnh đạo vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có khả năng dẫn dắt quốc gia trong một thế giới đầy biến động.
Nhóm giải pháp tiên phong và mang tính đột phá nhất chính là đổi mới mạnh mẽ tư duy và nâng cao năng lực hoạch định đường lối dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Trong điều kiện mới, Đảng lãnh đạo không phải bằng sự áp đặt chủ quan mà bằng sự ưu việt của trí tuệ và tính đúng đắn của chính sách. Muốn vậy, công tác nghiên cứu lý luận phải thoát ly khỏi lối mòn xơ cứng, thay vào đó là sự gắn kết chặt chẽ với các trung tâm tư vấn chiến lược, các học viện nghiên cứu và cộng đồng trí thức tinh hoa. Việc ra quyết định chính trị cần được chuyển đổi sang mô hình dựa trên bằng chứng (evidence-based policy), tận dụng sức mạnh của trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn để dự báo các xu hướng kinh tế, xã hội và an ninh quốc tế. Đảng cần thiết lập các cơ chế phản biện độc lập, công khai, minh bạch để mỗi nghị quyết ban hành đều mang hơi thở của cuộc sống, giải quyết trúng và đúng các điểm nghẽn của quốc gia, đồng thời có tính khả thi cao trong bối cảnh thị trường toàn cầu.
Tiếp theo là nhóm giải pháp về hoàn thiện phương thức lãnh đạo và hiện đại hóa tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Một Đảng có năng lực lãnh đạo cao phải là một Đảng có bộ máy vận hành thông minh, minh bạch và phân định rõ ràng giữa chức năng lãnh đạo chính trị với chức năng quản lý nhà nước. Cần tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, nhằm giải phóng sức sáng tạo cho các địa phương và cơ sở, tránh tình trạng bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo. Chuyển đổi số trong hoạt động của Đảng không chỉ đơn thuần là tin học hóa các quy trình hành chính, mà là xây dựng một Hệ điều hành chính trị hiện đại, nơi thông tin được lưu chuyển thông suốt từ Trung ương đến từng chi bộ. Điều này giúp lãnh đạo Đảng có cái nhìn toàn cảnh về thực trạng đất nước, từ đó đưa ra các phản ứng chính sách nhanh nhạy, kịp thời trước những diễn biến bất ngờ của thực tiễn.
Một giải pháp mang tính chiến lược, quyết định sự thành bại của mọi định hướng là tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Năng lực lãnh đạo suy cho cùng chính là năng lực của con người. Đảng cần đổi mới triệt để quy trình tuyển dụng, quy hoạch và đào tạo cán bộ theo hướng trọng dụng nhân tài và đánh giá thực chất. Cơ chế đánh giá cán bộ phải dựa trên các tiêu chí định lượng (KPIs) và chỉ số tín nhiệm của nhân dân, thay vì dựa trên cảm tính hay thâm niên. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện và thực thi có hiệu quả cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây là chìa khóa để giải tỏa tâm lý e dè, sợ sai đang tồn tại hiện nay, khơi dậy tinh thần dấn thân và khát vọng cống hiến của đội ngũ đảng viên trong việc thực hiện các mục tiêu đột phá về kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, nhóm giải pháp về tăng cường kiểm soát quyền lực và siết chặt kỷ luật, kỷ cương gắn liền với việc thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân là yêu cầu không thể tách rời. Đảng lãnh đạo bằng niềm tin của dân, do đó, năng lực tự soi, tự sửa, tự thanh lọc phải được nâng lên một tầm cao mới. Công tác kiểm tra, giám sát phải đi trước một bước, mang tính phòng ngừa cao, nhằm ngăn chặn từ sớm các biểu hiện suy thoái và tham nhũng. Tuy nhiên, kiểm soát quyền lực không được làm thui chột động lực phát triển; nó phải tạo ra hành lang an toàn để cán bộ tự tin thực thi công vụ. Đồng thời, cần đa dạng hóa các hình thức tiếp dân, đối thoại trực tiếp và lắng nghe phản biện xã hội thông qua các nền tảng số. Năng lực lãnh đạo của Đảng phải được soi rọi dưới ánh sáng của sự giám sát từ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, đảm bảo mọi quyết sách đều hướng tới lợi ích của đại đa số cư dân.
Cuối cùng, Đảng cần nâng cao năng lực lãnh đạo về mặt tư tưởng và văn hóa trong không gian mạng. Trong kỷ nguyên thông tin, trận địa tư tưởng không chỉ diễn ra tại các giảng đường hay hội nghị mà còn trên từng thiết bị di động. Đảng phải chủ động chiếm lĩnh không gian số bằng các nội dung tích cực, khoa học và thuyết phục. Việc xây dựng một nền văn hóa Đảng liêm chính, nhân văn và hiện đại sẽ là sức mạnh mềm cực lớn để quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng phải trở thành biểu tượng của sự tiến bộ, trí tuệ và đạo đức, từ đó tạo ra lực hút tự nhiên đối với thế hệ trẻ - những người sẽ kế tục sự nghiệp cách mạng trong tương lai.
Tóm lại, hoàn thiện năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển mới là một quá trình liên tục, đòi hỏi bản lĩnh dám tự phủ định những gì đã lạc hậu để vươn tới tầm cao mới của trí tuệ quản trị. Bằng việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ tư duy, tổ chức đến con người, Đảng sẽ không chỉ giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo mà còn là động cơ mạnh mẽ nhất đưa con tàu Việt Nam rẽ sóng, vượt qua mọi thách thức để cập bến một quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc.
1. V.I.Lênin toàn tập (1976). Tập 4. NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr. 122.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 622.
3. Bùi Quang Huy, Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/03/18/nang-cao-nang-luc-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-trong-giai-doan-cach-mang-moi/