Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng trong phát huy nguồn lực con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

CT&PT - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mục tiêu của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chính là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để đi đến giải phóng con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể cũng là mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam, do đó, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân ngay sau ngày giải phóng là phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và được học hành. Người cho rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Kế tục quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương phải xây dựng và phát triển con người Việt Nam một cách toàn diện.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề con người có vị trí đặc biệt quan trọng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không viết tác phẩm riêng biệt nào bàn về con người cũng như không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về con người, nhưng dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và vận dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác về con người vào hoạt động thực tiễn, Người đã lý giải các vấn đề con người bằng một ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu đối với mọi người Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nêu lên quan niệm độc đáo về con người: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bạn bè. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn nữa là cả loài người”. Con người ở đây vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội, giai cấp, dân tộc và cả nhân loại. Với cách hiểu này, bản chất con người có tính xã hội, là con người xã hội, là thành viên của cộng đồng xã hội. Điều đó cắt nghĩa tại sao Hồ Chí Minh rất coi trọng sức mạnh cộng đồng dân tộc Việt Nam, tìm mọi cách phát huy sức mạnh đó trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam và đây là một trong những cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng Cộng sản Việt Nam dựa vào đó đề ra chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa, phát triển một cách sáng tạo giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại, mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin, đặt con người trong lịch sử sản xuất vật chất để xem xét. Theo Hồ Chí Minh, “Con người ta đẻ ra, ai cũng lớn lên, già đi và chết”, “Người ta ai cũng ham muốn sung sướng mạnh khỏe”. Con người muốn tồn tại thì phải có ăn, ở, mặc, đi lại... Đó là quy luật sinh học của con người, cho nên “Người ta cũng ham muốn sung sướng mạnh khỏe”. Hồ Chí Minh nhắc lại những suy nghĩ của nhân dân: “Dân dĩ thực vi thiên, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời”, “Có thực mới vực được đạo, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả”. Từ đó, Người luôn quan tâm đến cái ăn, cái ở, cái mặc của nhân dân lên hàng đầu, Người viết “Đầu tiên là công việc đối với con người”.

Trong quan niệm về bản chất con người, Hồ Chí Minh cho rằng, ai cũng có cái bản tính tự nhiên, sinh học, những nhu cầu, ham muốn, ước mơ, hoài bão, khát vọng, lý tưởng của mình. Những cái bản tính tự nhiên ấy được bộc lộ thông qua môi trường xã hội, thông qua giáo dục. Trên lập trường duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh khẳng định cái quyết định đến bản chất con người là yếu tố xã hội, là môi trường giáo dục. Người viết: “Ngủ thì ai cũng như lương thiện, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền; Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Ở đây, Hồ Chí Minh viết “phần nhiều” chứ không phải “chỉ” do giáo dục mà nên, như vậy, Người càng khẳng định quan điểm duy vật biện chứng rằng, bản chất con người phải dựa trên một nền tảng sinh học nhất định, còn cái xã hội là cái quyết định bản chất con người.

Con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh được xem xét trong sự thống nhất giữa các thuộc tính giai cấp, dân tộc và nhân loại. Khi đề cập đến con người, Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến “người phương Đông”, “người châu Á”, “người châu Âu”... mà còn đề cập một cách cụ thể hơn đến “người da vàng”, “người da trắng”, “người da đen”, “người Đông Dương”, “người Pháp”, “người Việt Nam”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là một di sản quý báu, chiều sâu trong tư tưởng đó là triết lý nhân sinh sâu sắc.

Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, là yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng. Người nhấn mạnh “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”. “Người là gốc của làng nước”.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh là kết hợp cán bộ già và cán bộ trẻ để phát huy được ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong đội ngũ cán bộ. Thực chất là tư tưởng coi con người là động lực quyết định, trong đó đội ngũ cán bộ có vai trò trực tiếp quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu và động lực cách mạng, giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu gần và mục tiêu xa; cụ thể hóa mục tiêu chủ nghĩa xã hội phù hợp từng giai đoạn cách mạng. Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của Người rất cụ thể, gần gũi với nhu cầu, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Người đề ra những chủ trương, chính sách để từng bước hiện thực hóa mục tiêu đó.

Hồ Chí Minh quan tâm việc kết hợp giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, trong đó, coi trọng phát huy vai trò động lực chính trị - tinh thần. Người chú trọng tuyên truyền giáo dục, động viên kịp thời các hành động tích cực của con người.

Giá trị bền vững và lớn nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người là vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của con người trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta.

2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát huy nguồn lực con người Việt Nam giai đoạn hiện nay

Một là, xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người, phát triển kinh tế, xã hội. “Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần”, là sức mạnh nội sinh làm cho Việt Nam phát triển bền vững, văn hóa còn nuôi dưỡng các giá trị chuẩn, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu, ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội.

 Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển con người mới hiện đại. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ giá trị, nhân cách con người Việt Nam trong thời đại mới, đồng thời nâng cao nhận thức và xác định rõ trách nhiệm với việc xây dựng và phát huy nhân tố con người là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng ta sớm đề cập. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Việc phê phán, đấu tranh, đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chống các quan điểm, hành vi sai trái gây hại đến văn hóa, lối sống con người được chú trọng”. “Nâng cao nhận thức của toàn xã hội, trước hết là các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền là điều kiện tiên quyết cho việc phát huy nhân tố con người. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, con người giàu lòng nhân ái, khoan dung, chân thành, tín nghĩa, trọng đạo lý, cần cù, chăm chỉ, tiết kiệm, sáng tạo, hiện đại”. Trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 10 năm 2021-2030, một trong năm quan điểm phát triển xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Hai là, giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích chính đáng, hợp pháp được pháp luật và xã hội thừa nhận, tạo động lực cho con người. Lợi ích chính là điểm mấu chốt, là một trong những động lực hàng đầu nhằm phát huy nhân tố con người. Trong thực tiễn cách mạng trước đây, nhu cầu giải phóng dân tộc là quan trọng hàng đầu, nên lợi ích toàn dân tộc phải được đặt lên trên hết trong giải quyết mọi mối quan hệ lợi ích. Tuy nhiên, khi đất nước hòa bình, các nhu cầu và lợi ích chính đáng của người dân cần được tôn trọng và bảo đảm ngày càng tốt hơn. Đó chính là việc quan tâm, giải quyết tốt vấn đề lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động; hạn chế, loại bỏ các hình thức thu nhập bất chính, triệt tiêu động lực của người lao động, thực hiện công bằng về cơ hội, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong thực tế hiện nay, vấn đề giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích toàn xã hội, giữa lợi ích trực tiếp trước mắt với lợi ích lâu dài, giữa lợi ích vật chất với lợi ích tinh thần đang được đặt ra và không dễ tìm được sự đồng thuận.

Ba là, mở rộng và phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Thực hiện dân chủ là một trong những điều kiện tiên quyết để khơi nguồn sáng tạo cho con người trong sản xuất, tham gia kiến thiết xã hội. Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và phát huy nhân tố con người, chúng ta phải hoàn thiện các cơ chế để mở rộng dân chủ; xây dựng lối sống dân chủ đưa nó vào thực tế hằng ngày để dần trở thành nề nếp, thói quen, nhu cầu của mỗi người và của cả cộng đồng. Bên cạnh đó, chúng ta cần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Bốn là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham những, lãng phí và các tiêu cực khác trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong bộ máy Đảng và Nhà nước là “quốc nạn”, nó làm suy yếu năng lực kinh tế, làm chậm quá trình phát triển của đất nước, khiến nhân dân mất lòng tin vào bộ máy lãnh đạo và đội ngũ cán bộ thi hành đường lối, chính sách, nhân tố con người do vậy cũng sẽ chịu những ảnh hưởng không tốt... Đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng con người và phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Kinh tế thị trường ở nước ta là một kiểu tổ chức kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện ở trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối.

Sáu là, tiếp tục nâng cao hiệu quả, đổi mới giáo dục - đào tạo, phát triển khoa học - công nghệ theo hướng đáp ứng nhu cầu phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện nay. Thực hiện triết lý giáo dục học hiện đại, với bốn trụ cột: học để biết; học để làm; học để cùng chung sống và học để làm người. Triết lý này cho thấy, mục đích của giáo dục, một mặt là nâng cao trình độ nhận thức, mặt khác là rèn luyện kỹ năng, hoàn thiện nhân cách cho đối tượng được giáo dục.

Bảy là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa giáo dục - đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đối với người lao động. Năng lực con người muốn có cần được giáo dục - đào tạo, muốn tỏa sáng cần được sử dụng, muốn thăng hoa, phát triển cần có động lực qua các chính sách đãi ngộ thỏa đáng. Thực tế thời gian vừa qua, nhiều người trong độ tuổi lao động không tìm được việc làm, trong số đó có một lực lượng không nhỏ đã qua đào tạo; trong số lao động đã qua đào tạo không phải ai cũng làm việc đúng ngành nghề chuyên môn; tình trạng làm trái ngành, trái nghề không phải là cá biệt. Có thể nói, việc sử dụng không hợp lý lao động nói chung đã là một sự lãng phí, song sử dụng không hợp lý lao động đã qua đào tạo thì mức độ lãng phí còn lớn hơn nhiều.

HOÀNG THỊ MỸ LINH (TH)

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin