Quan điểm về quyền con người của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

CT&PT - Hiện nay, cùng với sự phát triển của đời sống chính trị - pháp lý quốc tế, những vấn đề liên quan đến con người và quyền con người ngày càng được quan tâm nghiên cứu và hoàn thiện, cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Tuy nhiên, do sự khác biệt về điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hóa, mỗi quốc gia có cách tiếp cận và quan niệm riêng về quyền con người. Trên cơ sở hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, bài viết làm rõ quan điểm về quyền con người và các vấn đề liên quan đến quyền con người trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đề ra những nhiệm vụ quan trọng nhằm đẩy mạnh tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

1. Cơ sở lý luận về quyền con người trong nhà nước pháp quyền

Theo Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc (OHCHR), “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”1. Gắn bó mật thiết với với khái niệm “quyền con người” là khái niệm “quyền công dân”, “quyền công dân là tổng hợp các quyền và tự do cơ bản của mỗi cá nhân, tạo nên địa vị pháp lý của cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước thông qua chế định quốc tịch, được thừa nhận và bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật của quốc gia”2. Như vậy, quyền công dân có thể hiểu là một quyền nằm trong các quyền của quyền con người. Chủ thể của quyền con người là tất cả mọi thành viên của nhân loại, không phân biệt quốc tịch, chịu sự tác động của pháp luật quốc tế về quyền con người; còn chủ thể của quyền công dân là những con người mang quốc tịch của một quốc gia, chịu sự tác động của pháp luật quốc gia đó. Để hiểu rõ các quan điểm về quyền con người, cần đặt vấn đề này trong mối liên hệ với quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, được thể hiện ở mọi quốc gia, dân tộc, ở mọi thời kỳ lịch sử.

Trong thời kỳ cổ đại, trước sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, các nhà tư tưởng phải tìm kiếm một phương thức tổ chức quyền lực kiểu mới, hướng tới xây dựng một nhà nước vì hạnh phúc, tự do của con người. Chẳng hạn như tư tưởng của Aristotle: “con người là động vật chính trị, vì vậy, cần một tổ chức xã hội thành nhà nước với quyền điều hành thuộc về công dân tự do… tự do công dân có vị trí đặc biệt quan trọng đối với hình thành chế độ dân chủ, nó bao hàm cả quyền và nghĩa vụ gánh vác những công việc chung của xã hội và luôn đòi hỏi họ những phẩm chất trí tuệ, đạo đức và tinh thần phê phán để thực hiện quyền tự do đúng đắn, dù ở tư cách người bị cai trị hay tư cách người cai trị”3. Chính từ những quan điểm như vậy, các quan điểm về quyền con người dần dần được hình thành và phát triển.

Đến thời kỳ cận đại, C. Mác chỉ rõ: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”4. Vì vậy, C. Mác đánh giá cao quan điểm của Hêghen về nhân quyền: “Nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh ra trong lịch sử”5. Từ đó, C. Mác cho rằng, quyền con người không phải là sự ban phát của Thượng đế và quyền con người chính là thành quả của sự phát triển lịch sử, của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội.

Bên cạnh đó, theo Ph. Ăngghen: “Bình đẳng không chỉ còn hạn chế trong những quyền lợi chính trị, mà đã mở rộng ra đến cả địa vị xã hội của mỗi cá nhân; không những phải xóa bỏ đặc quyền giai cấp mà còn phải xóa bỏ ngay cả những sự khác biệt giai cấp”6, tức là, quyền con người mặc dù là một thành tựu của nhân loại, nhưng đó mới chỉ là một nấc thang của sự phát triển, trên hành trình hướng tới tự do, bình đẳng thực sự của nhân loại.

Từ đó, C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ rõ những bất cập trong bản hiến pháp đầu tiên của nước Mỹ, đó là thừa nhận quyền con người song cũng chuẩn y chế độ nô lệ của người da màu đang sinh sống và tồn tại ở nước Mỹ. C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ rõ chỉ có ở xã hội cộng sản thì mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng mới được giải quyết một cách trọn vẹn, “Thay thế cho xã hội tư sản cũ với các giai cấp và những sự đối lập giai cấp của nó sẽ là một khối liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện của sự phát triển tự do của tất cả mọi người”7.

Kế thừa quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen, trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, V.I. Lênin kiên quyết ủng hộ quyền đấu tranh khẳng định quyền tự quyết dân tộc, cả về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế. Vì vậy, bên cạnh các quan điểm bảo vệ quyền con người thì V.I. Lênin đã xây dựng các vấn đề lý luận về xây dựng chế độ dân chủ bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động và con đường giành quyền tự quyết của các dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề quyền con người mới mẻ và sâu sắc, xuất phát từ thực trạng của đất nước trong bối cảnh bị áp bức, bóc lột nặng nề bởi địa chủ phong kiến và thực dân đế quốc, các vấn đề về quyền con người phải gắn liền với quyền tự do, độc lập, bình đẳng của dân tộc. Điều này được khẳng định thông qua nội dung các đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam, đề cập trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.

Bên cạnh đó, tư tưởng về quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh được bổ sung, phát triển gắn liền với quá trình xây dựng nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hệ thống pháp luật dân chủ. Ngay trước Tổng khởi nghĩa, Đại hội đại biểu quốc dân do Người trực tiếp chỉ đạo đã thông qua một nghị quyết quy định toàn diện về nhân quyền:

“5. Ban bố những quyền của dân, do dân;

a. Nhân quyền

b. Tài quyền (quyền sở hữu)

c. Dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam, nữ bình quyền”8.

Xét về bản chất, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sứ mệnh bảo vệ quyền con người là chức năng cốt yếu và chính đáng của nhà nước cách mạng chân chính, mà hình thức tiêu biểu là nhà nước xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng tư tưởng ấy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa của một phong trào giành độc lập dân tộc, mà sâu xa hơn còn là quá trình hiện thực hóa quyền con người trong điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể. Sự nghiệp đấu tranh đó, với biết bao hy sinh gian khổ, xét đến cùng, nhằm bảo đảm và phát triển những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân, của cộng đồng dân tộc cũng như của từng cá nhân con người. Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam tuyên bố với toàn thế giới trong ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 02/9/1945) đã chỉ rõ: Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc… "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”9.

Từ những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người, có thể rút ra một số nội dung như sau:

Một là, bảo vệ nền tảng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia sẽ là cơ sở để bảo vệ quyền con người. Trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng được đăng trên Báo Cứu quốc ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”10. Và trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Cứu quốc ngày 11/01/1946, Người viết: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”11. Từ những quan điểm này của Người cho thấy, nếu giành được độc lập thì phải bảo đảm cho người dân được ấm no, tự do, hạnh phúc, nhưng để người dân được hưởng những điều như vậy, đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn một con đường mang tính thời đại, tất yếu để xây dựng, phát triển đất nước. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng ta cùng nhân dân thực hiện con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi thực hiện con đường này, con người mới thực sự được giải phóng về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần.

Hai là, xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là cơ sở để thực hiện quyền con người. Một trong những giá trị phổ biến được các quốc gia thừa nhận khi xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền đó là bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Chính vì vậy, Đảng ta xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính là một định hướng đúng đắn, phù hợp với thời đại. Tuy nhiên, để có cơ sở cho định hướng này thì trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định trong bản Việt Nam yêu cầu ca với hai câu thơ như sau:

“Bảy xin hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”12.

Bên cạnh đó, tư tưởng của Người luôn đi cùng với việc đề cao vai trò của nhân dân, quyền làm chủ của nhân dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Người đã khẳng định: “Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân13. Chính vì vậy, chính quyền được xây dựng phải thực hiện mục tiêu cao cả là phục vụ nhân dân, “nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”14.

2. Thực tiễn tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

Hiện nay, trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các vấn đề liên quan đến quyền con người ngày càng được Đảng, Nhà nước và Nhân dân quan tâm. Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”15. Ngoài ra, Chương II Hiến pháp năm 2013 còn quy định rõ những vấn đề khác nhau của quyền con người và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đối với việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Để xây dựng được những quy định quan trọng như vậy, không chỉ căn cứ theo quy định của các công ước quốc tế, mà quan trọng nhất là xuất phát từ chủ trương, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta đã thay đổi tư duy, nhận thức và tiếp thu những tinh hoa từ lý luận cho đến thực tiễn của nhân loại về vấn đề quyền con người. Cụ thể, ngay trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã xác định rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”16. Chính vì vậy, từ trước đến nay, so sánh với các bản Hiến pháp qua từng thời kỳ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bản Hiến pháp năm 2013 là bản Hiến pháp phát triển nhất, quy định rõ về từng vấn đề, từng mối quan hệ cơ bản và quan trọng nhất trong xã hội; quy định rõ, tách bạch về các vấn đề liên quan đến quyền con người và quyền công dân.

Đồng thời, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã xác định “kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”17, cùng với đó là “kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng””18 đã khẳng định mục tiêu của Đảng lãnh đạo đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phải vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển của nhân dân.

Ngoài ra, việc nội luật hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” cũng là một trong các nhiệm vụ quan trọng được xác định cụ thể trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới nhằm bảo đảm thực hiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đáp ứng những yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ những quy định của Hiến pháp cùng với quan điểm của Đảng về vấn đề quyền con người, có thể khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là những minh chứng cụ thể cho mục tiêu tôn trọng quyền con người, tạo nền tảng để thực hiện các cam kết quốc tế, tuân thủ các tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế được công nhận rộng rãi, cũng như các điều ước, cam kết song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi trách nhiệm bổ sung, hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm mọi công dân đều được thụ hưởng quyền con người, đồng thời ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền con người bởi các chủ thể khác trong xã hội, đặc biệt là những chủ thể có thẩm quyền.

Tuy nhiên, trong bối cảnh ngày càng đổi mới của thế giới hiện nay, việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn đứng trước nhiều thách thức như:

Thứ nhất, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và chậm cập nhật. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định mạnh mẽ các quyền con người, nhưng nhiều quyền con người hiện nay vẫn chưa được bảo đảm ở một số vấn đề nhất định trong xã hội. Chẳng hạn như đối với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương được quy định trong luật Phòng thủ dân sự năm 2013, bao gồm: người, nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ sự cố, thảm họa so với những nhóm người khác trong cộng đồng; trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo, người nghèo, người mất năng lực hành vi dân sự, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Đề án thực hiện thí điểm cơ chế bảo vệ quyền lợi trong quan hệ dân sự cho nhóm người dễ bị tổn thương do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thì đối tượng nhóm người dễ bị tổn thương theo Đề án bao gồm: trẻ em, người già, người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Như vậy, theo Đề án này thì đối tượng là người, nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ sự cố, thảm họa so với những nhóm người khác trong cộng đồng, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo, người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn không thuộc đối tượng của nhóm người dễ bị tổn thương được bảo vệ trong quan hệ dân sự. Nội dung này hoàn toàn trái ngược với quy định về đối tượng được xác định là nhóm dễ bị tổn thương trong Luật Phòng thủ dân sự năm 2023 và làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những chủ thể này khi tham gia vào quan hệ dân sự mà họ đang rất cần được cơ quan, tổ chức được giao quyền bảo vệ quyền lợi. Do đó, ở một số góc độ thì pháp luật của Việt Nam hiện nay chưa thực sự cung cấp một “tấm khiên” đủ mạnh để bảo vệ đầy đủ cho các chủ thể thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước nguy cơ bị phân biệt đối xử, lạm dụng.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh xã hội ngày càng phức tạp, những thách thức mới như chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, đại dịch, bất bình đẳng kinh tế… đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết về đổi mới pháp luật để bảo vệ quyền con người một cách toàn diện hơn. Ngoài ra, sự khác biệt giữa Hiến pháp và pháp luật của Việt nam với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia cũng gây ra nhiều khó khăn trong quá trình nội luật hóa, đặc biệt khi phải bảo đảm đồng thời cả chủ quyền quốc gia lẫn nghĩa vụ quốc tế.

Thứ hai, một số lĩnh vực hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước vẫn chưa thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Chẳng hạn như, công tác phòng, chống tham nhũng - công tác quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người bởi tham nhũng có thể gây ra sự bất công bằng, vi phạm các quyền cơ bản của con người như quyền được bình đẳng trước pháp luật, quyền được bảo vệ tài sản và nhiều quyền khác - vẫn còn tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi chính đáng của người dân. Bên cạnh đó, với tư cách là thiết chế trọng yếu trong bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, Tòa án vẫn gặp nhiều hạn chế trong quá trình giải quyết các vụ việc nói chung, liên quan đến quyền con người nói riêng, “Tỷ lệ các bản án, quyết định giải quyết các vụ án hành chính bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của Tòa án chưa đạt chỉ tiêu của Quốc hội. Vẫn còn vụ việc giải quyết quá thời hạn luật định do nguyên nhân chủ quan”19.

Thứ ba, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong bảo vệ quyền con người vẫn chưa được phát huy. Hiện nay, vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình trong mối quan hệ với công dân, còn biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm. Từ đó dẫn đến nhiều hành vi ứng xử thiếu tôn trọng, thiếu trách nhiệm, thậm chí vi phạm quyền con người trong thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.

3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện việc bảo đảm quyền con người của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Mỗi quốc gia đều thực hiện xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền riêng biệt, phụ thuộc vào những yếu tố đặc thù của từng quốc gia. Việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người chính là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt trong các chính sách, kế hoạch của từng nhà nước. Đối với Việt Nam, để đẩy mạnh tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, cần thực hiện những nhiệm vụ sau trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Cụ thể là cần tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm và bảo vệ các quyền con người cho mọi đối tượng trong các lĩnh vực về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Để làm được điều đó, theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, phải hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, cần tiến hành nghiên cứu, tổng kết một cách toàn diện, sâu sắc hệ thống pháp luật hiện hành; phân tích, đối chiếu với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, ký kết hoặc gia nhập trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia và phù hợp với điều kiện, thực tiễn của đất nước. Mặt khác, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là nguyên tắc xuyên suốt, chính vì vậy, cần đặc biệt quan tâm đến những nhóm xã hội dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi và người khuyết tật, với yêu cầu đặt ra là: bảo đảm không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào đối với nhóm đối tượng này trong các quy định pháp luật; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm đối tượng này được thực hiện đầy đủ, hiệu quả trong thực tiễn cuộc sống.

Thứ hai, phát huy vai trò của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, một trong những trách nhiệm của hệ thống chính trị nói chung, Nhà nước nói riêng là bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, Nhà nước bảo đảm thực hiện tốt 36 điều được quy định tại Chương II của Hiến pháp năm 2013.

Bên cạnh đó, một khi quyền con người bị xâm phạm, có hành vi vi phạm pháp luật của một số chủ thể tác động, đặc biệt là các hành vi của các nhà chức trách, các công chức trong bộ máy nhà nước thì chủ thể bị xâm phạm, bị tác động cần được tiếp cận ngay các thiết chế tư pháp một cách thuận lợi, nhanh chóng. Trong đó, phải phát huy vai trò của Tòa án, bởi vì Tòa án là then chốt quan trọng trong bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, để Tòa án phán xử một cách công bằng thì yêu cầu đặt ra là tòa án, thẩm phán phải được độc lập, không chịu sự tác động của bất kỳ một chủ thể nào khác. Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu xây dựng cơ chế phán xét các hành vi vi phạm quyền con người trong các hoạt động của cơ quan nhà nước.

Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi cần phải thực hiện hai yêu cầu quan trọng sau đây: (1) xây dựng và hoàn thiện chế độ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm mọi hoạt động của nhà nước, bao gồm việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người ngày càng đi vào khuôn khổ và đạt hiệu quả cao; (2) trong thời gian tới, phải xác lập chế độ trách nhiệm rõ ràng, minh bạch đối với cán bộ, công chức, viên chức trong mối quan hệ với công dân. Để thực hiện được hai yêu cầu này đòi hỏi, đối với mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải được tạo điều kiện phát huy đầy đủ năng lực và xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân trong thi hành công vụ để hạn chế tối đa các hành vi vi phạm đối với quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó, pháp luật cần tiếp tục cụ thể hóa mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước với công dân theo tinh thần của Hiến pháp; quán triệt rõ nguyên tắc: công dân được làm những gì pháp luật không cấm; cán bộ, công chức, viên chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Từ đó, mới có thể phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước trong việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


1. Trung tâm nghiên cứu quyền con người - quyền công dân: Hỏi đáp về quyền con ngườiNxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2012, tr. 21.

2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021, tr. 15.

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021, tr. 38-39.

4. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 11.

5. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 173.

6. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 19, tr. 278.

7. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 39, tr. 258.

8. GS.TSKH. Đào Trí Úc: Giáo trình Nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015, tr. 319.

9, 10, 11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 4, tr. 1, 64, 175.

12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 473.

13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 232.

14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 75.

15. “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-nam-2013-215627.aspx.

16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, t. 69, tr. 507.

17, 18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 180, 96.

19. Tòa án nhân dân tối cao: Báo cáo số 167/BC-TA ngày 20/12/2023 về tổng kết công tác năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2024 của các tòa án.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin