1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân và công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh (năm 1927), Người khẳng định cách mệnh là việc của cả dân chúng chứ không phải việc của một, hai người; cách mạng muốn thành công thì phải biết tổ chức dân chúng lại. Đồng thời, nhận thức rõ yêu cầu cách mạng phải có tổ chức vững bền thì mới thành công, Người đã đưa ra cách thức tổ chức quần chúng như công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, Quốc tế cứu tế đỏ... theo đường lối của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản.
Thấy rõ những khó khăn trong việc tập hợp và vận động quần chúng, nhất là ở vùng đồng bào các dân tộc, đồng thời chuẩn bị cho công tác tuyên truyền vận động quần chúng một cách hiệu quả, trước khi trở về nước sau 30 năm bôn ba, tại làng Nậm Quang (thuộc Tĩnh Tây, Trung Quốc) - một làng sát biên giới Việt - Trung, Người đã tổ chức một lớp huấn luyện chính trị cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam. Sau khi kết thúc chương trình học tập, Người đã đưa họ về nước tuyên truyền vận động, tổ chức quần chúng đấu tranh cách mạng. Từ lớp huấn luyện này những bài học về công tác vận động quần chúng được Bác căn dặn cán bộ rất cụ thể và thiết thực. Khi sinh hoạt chung với dân, Người nêu 5 điều nên làm và 5 điều nên tránh để giữ được mối quan hệ tốt với nhân dân vùng căn cứ. Trong đó 5 điều nên làm đối với dân là: Giúp dân những công việc thiết thực hàng ngày; tìm hiểu những phong tục tập quán, nghiêm túc chấp hành điều kiêng kỵ; học tiếng địa phương, dạy hát dạy chữ, gây cảm tình với dân; tùy nơi tùy lúc mà tuyên truyền cách mạng cho thích hợp; làm cho dân thấy mình đúng đắn, chăm công việc, trọng kỷ luật để dân tin và giúp đỡ... đây chính là tiền đề, là kim chỉ nam cho công tác dân vận trong những năm đầu Người trở về nước.
Để vận động được quần chúng, tiến tới xây dựng lực lượng cách mạng, theo Người, một trong những công tác ưu tiên trước mắt của Đảng lúc bấy giờ là xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận, mà nòng cốt là những cán bộ ngay ở tại địa phương, hiểu phong tục tập quán địa phương, hiểu được tâm tư và nguyện vọng của nhân dân, với phương châm càng cố gắng đào tạo được nhiều cán bộ là người dân tộc bao nhiêu thì càng có lợi cho cách mạng bấy nhiêu. Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, cùng với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh (ngày 19/5/1941), Người trực tiếp chỉ đạo việc cho mở các lớp huấn luyện về Chương trình Việt Minh, Điều lệ của Hội Cứu quốc... cho các đồng chí cốt cán là người địa phương, cũng như một số các đồng chí quần chúng trung kiên khác. Những học viên phần lớn là người dân tộc thiểu số, chữ quốc ngữ không biết, trình độ nhận thức còn thấp, do đó vấn đề quan trọng đặt ra là phải dạy chữ, dạy văn hóa cho người học và thông qua đó mà tuyên truyền đường lối cách mạng, vận động quần chúng. Từ các lớp học này, những bài học bổ ích về công tác dân vận đã được Người truyền đạt cho các cán bộ, học viên. Người cho rằng, làm cán bộ thì phải sống với dân, thường xuyên thăm hỏi dân. Có như vậy thì khi cán bộ nói chính sách Việt Minh họ mới nghe, họ mới nhiệt tình ủng hộ, được dân tin, dân yêu, dân bảo vệ. Người căn dặn, cán bộ làm dân vận là đi nói chuyện ở đâu phải hiểu rõ trình độ dân nơi ấy, phải nói sao cho thiết thực, để đồng bào dễ hiểu, dễ nhớ thì đồng bào mới theo mình được.
Thời kỳ này, những lớp học như vậy đã đào tạo ra một đội ngũ cán bộ cho phong trào, cơ sở. Những cán bộ, nhất là những cán bộ là người địa phương được học tập qua những lớp huấn luyện đã phát huy hiệu quả, họ đi về các địa phương, đi vào quần chúng để vận động thành những tổ chức quần chúng theo cách mạng. Nhiều tổ chức quần chúng dưới sự lãnh đạo của Việt Minh được ra đời trong thời kỳ này như: Hội Nông dân Cứu quốc; Hội Thanh niên Cứu quốc; Hội Lão nhân Cứu quốc; Hội Nhi đồng Cứu quốc; Hội Phụ nữ Cứu quốc...
Bên cạnh việc mở các lớp huấn luyện cho cán bộ, các lớp dạy chữ, dạy văn hóa cho nhân dân ở địa phương, Người còn đề nghị mở các lớp dạy học cho trẻ em là con em đồng bào các dân tộc. Những lớp học như vậy không chỉ giúp các cháu biết chữ, mà từ đó còn góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân đối với cách mạng. Cũng từ những năm tháng ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một cán bộ dân vận tận tụy, gần gũi và thân thiết với đồng bào các dân tộc. Người luôn quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc, cùng chia sẻ những thiếu thốn, khó khăn, vất vả với bà con.
Năm 1949, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta bắt đầu bước vào những chiến dịch lớn, đây là thời điểm quan trọng để chuẩn bị vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài báo đăng trên Báo Sự thật, Báo Cứu quốc, Báo Quân du kích… để hiệu triệu, kêu gọi toàn dân cứu nước, trong đó đặc biệt là tác phẩm Dân vận, đăng trên báo Sự thật, số 120, ngày 15/10/1949, với bút danh X.Y.Z
Dân vận là sự kết tinh tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề căn cốt nhất trong công tác dân vận của Đảng, được thể hiện một cách toàn diện, hoàn chỉnh, cô đọng, khúc chiết, dễ hiểu, dễ nhớ. Đó chính là mối quan hệ giữa dân chủ và dân vận; quan điểm, nguyên tắc tiến hành công tác dân vận; trách nhiệm vận động quần chúng của cả hệ thống chính trị; phương pháp vận động quần chúng; những phẩm chất cần có đối với người cán bộ dân vận…
Ngay ở phần đầu tác phẩm, Người đã khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”1. Để trả lời câu hỏi dân vận là gì, Người chỉ rõ: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”2. Cách đặt câu hỏi và trả lời tuy ngắn gọn, song Người đã đề cập một cách toàn diện những nguyên lý cơ bản nhất trong công tác dân vận của Đảng; đồng thời lưu ý: “Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”3. Theo Người: “Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”4.
Để thực hiện tốt công tác dân vận, Hồ Chí Minh yêu cầu tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận. Theo Người: “Cán bộ chính quyền và cán bộ Đoàn thể địa phương phải cùng nhau bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công rõ rệt, rồi cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức nhân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những điều khó khăn...5”; “Những hội viên các đoàn thể thì phải xung phong thi đua làm, để làm kiểu mẫu cho dân, giúp dân làm”6.
Về tiêu chuẩn của người cán bộ phụ trách công tác dân vận, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”7. Nghĩa là Người yêu cầu cán bộ làm dân vận phải khắc phục bệnh quan liêu, giấy tờ, xa dân; phải quan tâm giải quyết những bức xúc, đề xuất, kiến nghị chính đáng của nhân dân. Đồng thời, đó phải là những người luôn gương mẫu trong thực hành cần, kiệm, liêm chính để nhân dân noi theo. Vì quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, có đạo đức, những người luôn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”8.
Về phương pháp tuyên truyền, vận động nhân dân, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng, vấn đề rất quan trọng là phải có cách tuyên truyền, vận động hợp lý, khoa học, nhất là nói và viết sao cho hiệu quả, làm thế nào mà “mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”9. Phương pháp tuyên truyền, vận động quần chúng phải thực hiện đúng các yêu cầu: “Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách… Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu… Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết… Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần”10.
2. Thực trạng công tác dân vận trong thời gian qua
Quán triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác dân vận, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác dân vận, xác định công tác dân vận có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, gắn liền với sự trưởng thành và phát triển của Đảng. Điều đó được thể hiện một cách nhất quán trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Đặc biệt, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng đã ban hành các nghị quyết và chỉ thị về công tác dân vận, về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, về dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đề ra phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; đồng thời, kịp thời có các chủ trương, biện pháp tăng cường công tác dân vận ở những địa bàn trọng điểm.
Trước yêu cầu xây dựng Đảng trong bối cảnh tình hình mới, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân. Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đảng rút ra 5 bài học kinh nghiệm, trong đó đặc biệt nhấn mạnh bài học: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”11.
Đánh giá khái quát công tác dân vận trong thời gian qua, Đảng ta khẳng định: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”12. Thực hiện các văn kiện của Đảng, Quy chế dân chủ ở cơ sở, cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan, công tác dân vận của các cơ quan nhà nước đạt được nhiều kết quả tích cực; việc tiếp công dân, đối thoại với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy được thực hiện nền nếp, tinh thần gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động hướng về cơ sở, tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh. Các hình thức vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên ngày càng phong phú, đa dạng và hiệu quả. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào “Dân vận khéo”, được đẩy mạnh, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tính đến cuối năm 2024, cả nước có hơn 408.000 mô hình “Dân vận khéo” được đăng ký. Ban Dân vận các cấp đã tham mưu cấp ủy tổ chức 971 cuộc thi, hội thi về công tác dân vận, dân vận khéo13...
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân vẫn còn một số hạn chế cần quan tâm giải quyết. Một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Công tác tuyên truyền gương điển hình là tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng có lúc chưa được quan tâm đúng mức. Việc tiến hành sơ kết, tổng kết theo quy định của Trung ương có nơi làm chậm hoặc làm hình thức, chiếu lệ. Các thế lực thù địch lợi dụng những hạn chế và vấn đề phức tạp, núp dưới các chiêu bài dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, ráo riết tăng cường các thủ đoạn hoạt động, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong tình hình mới
Đề cập phương hướng công tác dân vận trong tình hình mới, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích chính đáng của nhân dân, mọi sự nỗ lực phấn đấu, hy sinh của Đảng đều vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, công tác dân vận của Đảng càng không nằm ngoài mục tiêu này, hơn hết, phải triển khai tốt nhất mục tiêu này của Đảng. Do đó, Tổng Bí thư đề nghị thống nhất về tầm quan trọng đặc biệt và yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác dân vận ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, nhằm huy động sức mạnh vô địch của nhân dân, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đích đến của công tác dân vận trong giai đoạn mới là phải tập hợp “không sót một người dân nào” như căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mục tiêu cao nhất là công tác dân vận trong giai đoạn mới là vì dân; mang lại hiệu quả thiết thực cho dân; giải quyết nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đặt lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân lên trên hết, trước hết; thật sự tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; củng cố gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân14. Theo đó, để làm tốt công tác dân vận trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp.
Một là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhất là của chính quyền các cấp đối với công tác dân vận. Phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, địa phương; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.
Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận theo hướng thiết thực, lấy cuộc sống và quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân làm trọng tâm của công tác dân vận. Đồng thời, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nhân dân bằng nhiều hình thức (gặp gỡ trực tiếp, qua báo chí, truyền thông, mạng xã hội…), để nhân dân hiểu rõ về tình hình đất nước, tin tưởng và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cấp ủy đảng phải thường xuyên quán triệt thực hiện nghị quyết, chủ trương, mục tiêu về công tác dân vận của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay. Học tập và vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác dân vận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan trọng nhất là phải thông qua học tập, quán triệt để biến thành nhận thức và hành động hằng ngày, trở thành công việc thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người đân.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện và thực thi quy định về đạo đức công vụ trong công tác dân vận, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, nêu cao tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đặc biệt, người làm công tác dân vận phải có phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với nhân dân. Phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, sâu sát cơ sở. Tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, góp phần giải tỏa bức xúc, hoài nghi trong xã hội, để người dân được nói, được thể hiện quyền, chính kiến của mình, góp phần xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và đối với cán bộ, tổ chức.
Bốn là, hiện nay, tham nhũng, quan liêu và những biểu hiện tiêu cực khác đang ít nhiều làm xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng. Vì vậy, đẩy mạnh việc phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lợi ích nhóm, xa hoa, lãng phí chính là một nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng, công tác dân vận. Theo đó, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.
Năm là, tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở; đa dạng hóa hình thức tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên; làm tham mưu cho cấp ủy, là nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, tình hình nhân dân; phát huy dân chủ, ý thức trách nhiệm của công dân trong thực hiện giám sát xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc, nhất quán nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động theo pháp luật khi phát triển các tổ chức quần chúng. Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức quần chúng, thường xuyên bồi dưỡng đoàn viên, hội viên ưu tú, tiêu biểu cả đức và tài để giới thiệu nguồn cán bộ cho Đảng, Nhà nước; đồng thời, quan tâm xây dựng, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, kể cả đồng bào ta ở nước ngoài hướng về xây dựng đất nước.
Sáu là, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận. Rà soát bổ sung và thực hiện Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; tích cực đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác dân vận.
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 6, tr. 232.
4, 5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 233.
7, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 233-234, 234.
9, 10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 345, 345-346.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 27-28.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 201-202.
13. “Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Dân vận Trung ương”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 18/11/2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1001502/view_content.
14. “Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Dân vận Trung ương”, Tlđd.