CT&PT - Công bằng, bình đẳng là một giá trị phổ biến, là khát vọng của người dân trong mọi chế độ xã hội. Với sự dẫn dắt của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân từng bước thực hiện ngày càng đầy đủ mục tiêu công bằng, bình đẳng trong chế độ xã hội mới, với những dấu mốc phát triển vượt bậc kể từ sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bài viết chứng minh rằng giải quyết bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội luôn là một điểm tựa cốt yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng đất nước. Ngày nay, điểm tựa đó tiếp tục phát huy giá trị định hướng cho đường lối phát triển đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết bất bình đẳng xã hội trong chế độ xã hội mới
Trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh thông điệp về sự bình đẳng giữa con người với con người, giữa các dân tộc với tư cách là một giá trị phổ quát của nhân loại, đồng thời là mục tiêu tất yếu của nước Việt Nam tự do và độc lập. Thông điệp đó vừa khẳng định tư thế bình đẳng của quốc gia dân tộc Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác trên thế giới, vừa bao chứa một lời cam kết mạnh mẽ về việc thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội cho tất cả mọi người dân Việt Nam trong chế độ xã hội mới. Đây cũng là nội dung được tái khẳng định nhiều lần trong các bài viết, bài phát biểu của Người sau này.
Trong suốt quá trình lãnh đạo chính quyền cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lưu ý về đặc điểm mang tính bản chất của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã dày công xây đắp. Đó là việc bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam đều được hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trên cơ sở giá trị cốt lõi là công bằng, bình đẳng. Người luôn khẳng định tính chất dân chủ, tự do, bình đẳng đó trên tất cả các bình diện của đời sống xã hội, đối với tất cả mọi người: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”1; “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”2; “Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi. Nhân dân có quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, v.v. có quyền ứng cử và bầu cử. Đàn bà có mọi quyền lợi như đàn ông. Các dân tộc trong nước đều có quyền lợi như nhau”3; “Công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”4; “Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”5; “Cần giáo dục cho cán bộ hợp tác xã tinh thần bình đẳng đối với xã viên”6…
Trước thực tế chưa hoàn toàn đạt được những mục tiêu đó, Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở về phương hướng phấn đấu và các biện pháp cần thực hiện trong các bối cảnh xã hội khác nhau, đối với các nhóm đối tượng khác nhau. Người đặc biệt lưu ý về vấn đề thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội đối với một số nhóm xã hội đặc thù và khái quát thành những nội dung lớn như bình đẳng giữa các dân tộc, bình đẳng giới…, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của Chính phủ và các chủ thể liên quan trong thực hiện những mục tiêu này.
Về thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, ngay vào tháng 12/1945, trong Thư gửi các dân tộc thiểu số, Người khẳng định quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền của các dân tộc thiểu số và cam kết trách nhiệm của Chính phủ:
“Lợi quyền của các dân tộc thiểu số là:
1. Dân tộc bình đẳng. Chính phủ sẽ ra sức bãi bỏ những sự bất bình cũ giữa các dân tộc.
2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp các dân tộc thiểu số để mở mang nông nghiệp, ai cũng có đất mà cày.
3. Chính phủ sẽ chú ý, để nâng cao sự giáo dục, làm cho đồng bào dân tộc thiểu số ai cũng được học hành”.
Năm 1959, khi bàn về những nội dung lớn trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhắc lại: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”7; “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”8. Đây cũng là tinh thần nhất quán, được quán triệt ngay từ Diễn văn khai mạc phiên họp đầu tiên của Ban sửa đổi Hiến pháp (năm 1957): “Nó phải là một bản Hiến pháp đảm bảo được quyền tự do dân chủ cho các tầng lớp nhân dân, trên cơ sở công nông liên minh và do giai cấp công nhân lãnh đạo. Nó phải thật sự bảo đảm nam nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng, v.v.”9.
Đầu những năm 1960, đau đáu về tình trạng chưa phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng miền núi, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý: “Ngày nay, đồng bào rẻo cao được tự do bình đẳng, không bị áp bức bóc lột như trước kia. Nhưng đời sống vật chất và văn hóa chưa được nâng cao mấy. Đó là vì cán bộ lãnh đạo không chú ý đầy đủ đến đồng bào rẻo cao. Bác thay mặt Trung ương và Chính phủ giao cho cán bộ từ tỉnh đến xã phải ra sức giúp đỡ hơn nữa đồng bào rẻo cao về mọi mặt”10. Người cũng nhấn mạnh về trách nhiệm của đồng bào dân tộc đa số đối với đồng bào các dân tộc thiểu số: “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt”11.
Đối với vấn đề bình đẳng giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt. Ngay sau khi lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong thư gửi đại diện quân đội Tưởng Giới Thạch ở Việt Nam về việc chuẩn bị Tổng tuyển cử (ngày 19/12/1945), Người đã nêu bình đẳng giới là một trong những nội dung đầu tiên khi nói về Chính cương của Việt Nam độc lập đồng minh: “Nhân dân có các quyền tự do, dân chủ; nam nữ bình đẳng”12. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viện dẫn thông điệp nhất quán đó trong các văn bản chính thống của Đảng và Chính phủ trên tất cả các diễn đàn phù hợp, làm nổi bật tầm quan trọng của việc thực hiện bình đẳng giới với tư cách là một đặc điểm ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1959), Người nhấn mạnh: “Công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”13. Trong bài viết Phải thật sự tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, đăng trên Báo Nhân Dân ngày 23/10/1960, Người xác định: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”14. Nói chuyện tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III (năm 1961), Người khái quát: “Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ”15. Trong Bài nói với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình (năm 1967), Người cũng lưu ý: “Phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”16.
Để giúp dân chúng hiểu rõ và cùng chia sẻ, gánh vác các nhiệm vụ của công cuộc giải phóng phụ nữ, trong bài Nam nữ bình quyền (năm 1952), Người nhấn mạnh: “Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”… Dù to và khó nhưng nhất định thành công”17.
Trên cơ sở ghi nhận những thành tựu đã đạt được về bình đẳng giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích, động viên các cơ quan, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân, nhất là bản thân phụ nữ tiếp tục cố gắng, nỗ lực để đạt được kết quả tốt hơn. Tại Đại hội anh hùng và chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ II (năm 1958), Người đánh giá: “Ở Đại hội này, trong số 26 anh hùng lao động, có 5 phụ nữ. Thế là rất tốt. Nó chứng tỏ sự cố gắng và tiến bộ của phụ nữ ta và chứng tỏ dưới chế độ ta, nam nữ thật sự bình quyền”18. Tuy nhiên, ở một số diễn đàn khác, Người cũng nêu rõ và hối thúc: “Trên 350 học viên mà chỉ có 20 phụ nữ thì ít quá. Giáo dục phải cố gắng để phụ nữ nhiều hơn nữa. Trừ cải cách ruộng đất cán bộ phụ nữ được đào tạo nhiều, trong giáo dục, y tế, các ngành khác, số phụ nữ đều thấp. Nam nữ như thế đã bình đẳng chưa? Các cô phải cố gắng”19; “chị em còn phải cố gắng học tập và đấu tranh hơn nữa để đi đến thật sự nam nữ bình quyền”20; “Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hòa thuận trong gia đình”21.
Bên cạnh những thông điệp về giải quyết bất bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội, Hồ Chí Minh cũng thể hiện rõ tư tưởng chống hiểu không đúng về nội hàm của khái niệm “bình đẳng”, khiến có thể dẫn đến sai lầm trong hoạt động thực tiễn. Ngay từ năm 1947, khi viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người hết sức lưu ý về sự cần thiết của việc chống bệnh tị nạnh, chống bình đẳng kiểu “cào bằng”: “Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng…”. Do vậy, theo Hồ Chí Minh, cần “Giải thích cho họ hiểu: đồng cam cộng khổ là một điều rất hay, rất tốt… Nhưng cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh. Cái gì thái quá cũng không tốt. Bình đẳng thái quá cũng không tốt. Thí dụ: nếu một chiến sĩ bị thương được đi xe, ăn ngon, các chiến sĩ khác đều đòi đi xe, đòi ăn ngon. Hoặc vì bình đẳng mà bắt buộc một trẻ em cũng ăn nhiều, cũng gánh nặng, như một người lớn. Nếu như thế là bình đẳng, thì bình đẳng đó rất vô lý, rất xấu, chúng ta phải kiên quyết chống lại thứ bình đẳng đó”22. Người tóm tắt: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”23.
Trong một số bối cảnh khác, Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở về việc chống bình quân chủ nghĩa, để tránh triệt tiêu động lực phấn đấu, thậm chí đi ngược, làm trái mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người lưu ý “Phải tránh cách thưởng “bình quân”, bình quân thì người không đáng thưởng cũng được thưởng, còn người đáng thưởng có khi không được hoặc được thưởng rất ít ỏi”24; “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng. Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết. Ví dụ như Bác yếu chỉ ăn ba bát cơm, chú khỏe cần nhiều hơn mà cũng ăn ba bát, chú lùn cũng đòi may áo dài, Bác cao hơn cũng mặc áo dài như chú. Bình quân chủ nghĩa là trái chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng”25. Nói về điều này một cách khái quát, Người chỉ rõ hai yêu cầu quan trọng trong công tác lưu thông phân phối: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”26.
Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung quan trọng nhất của khái niệm “bình đẳng” là bình đẳng về cơ hội. Do vậy, muốn giải quyết bất bình đẳng tận gốc, thực hiện bình đẳng thực chất thì phải quan tâm tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người. Hồ Chí Minh cũng hết sức lưu ý rằng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần gắn chặt giữa bình đẳng về quyền lợi và bình đẳng về nghĩa vụ. Do đó, Người luôn nhắc nhở mọi người dân Việt Nam phải ý thức rõ về vai trò của người làm chủ nước nhà. Một khi đã thực hiện quyền làm chủ đó đồng thời phải thực thi nghĩa vụ của người làm chủ trong chế độ xã hội mới và phải tôn trọng nguyên tắc phân phối công bằng trong thụ hưởng các sản phẩm làm ra, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải quyết bất bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội
Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc giải quyết bất bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội là một nền tảng cơ bản của đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong lịch sử cách mạng của đất nước, nội dung này được thể hiện xuyên suốt, gắn liền với mục tiêu giải phóng dân tộc, phát triển kinh tế, mang lại cho nhân dân Việt Nam đời sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời cùng với nhân loại tiến bộ vun đắp các giá trị hòa bình, độc lập, dân chủ, tự do, bình đẳng và tiến bộ.
Trên cơ sở nhận thức về bản chất của chủ nghĩa xã hội và con đường tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam, vấn đề giải quyết bất bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội đã được đặt nền móng ngay từ những kỳ đại hội đầu tiên của Đảng. Mặc dù vậy, phải đến giai đoạn “đổi mới”, những nội dung về giải quyết bất bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội mới được thể hiện rõ nét và ngày càng được cụ thể hoá trong các văn bản chính thống. Từ năm 1986, công cuộc đổi mới đất nước bắt đầu được khởi xướng và đã tạo ra những thành quả vô cùng ngoạn mục. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đó là thực tế gia tăng đáng kể về khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm xã hội, kéo theo những nguy cơ lớn về sự bất bình đẳng không chỉ trong lĩnh vực kinh tế. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đưa ra quan điểm “ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được”27, nhưng sự hiện hữu của những lo ngại về việc phải hy sinh công bằng xã hội để đổi lấy tăng trưởng kinh tế vẫn là rất lớn.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), nội dung công bằng xã hội được diễn đạt cụ thể trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000: “Tăng trưởng kinh tế, gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường”. Điều này đã làm định hình rõ nét hơn về sự cân đối của các mục tiêu xã hội nói chung, giải quyết bất bình đẳng xã hội nói riêng trong đường lối phát triển đất nước. Kể từ đó về sau, cụm từ “công bằng xã hội” đã luôn hiện diện một cách nhất quán trong văn kiện của tất cả các kỳ đại hội, thể hiện cam kết của Đảng trong thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”; “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”28. “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”29; “Phát triển nhanh và bền vững (hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc); giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”30; “Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; phát huy vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển”31.
Về nguyên tắc thực hiện, bên cạnh việc xác định mục tiêu tất yếu phải thực hiện công bằng xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định không chấp nhận hy sinh công bằng xã hội để đổi lấy tăng trưởng kinh tế, không đặt mục tiêu công bằng xã hội ở vị trí kém ưu tiên hơn mục tiêu phát triển kinh tế. Đảng ta khẳng định: “Không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết các vấn đề xã hội, mà ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”32; “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người”33.
Các quan điểm chỉ đạo của Đảng cũng yêu cầu quán triệt thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội theo nghĩa rộng và thực chất, nhằm đảm bảo không chỉ công bằng trong phân phối kết quả mà quan trọng hơn là phải bảo đảm công bằng về cơ hội phát triển cho tất cả mọi người dân Việt Nam. “Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”34. Đặc biệt, cần quan tâm xử lý các vấn đề nóng, bức xúc trong đời sống xã hội, giảm thiểu các nguy cơ phân cực, phân hoá và xung đột xã hội do bất bình đẳng xã hội gây ra. Cần “xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội;... giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột xã hội... quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo”35. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, quan điểm này tiếp tục được nhấn mạnh: “Phát triển vì con người, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là trẻ em, nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư hòa nhập, tiếp cận bình đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện các chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, cùng phát triển”36.
Đảng ta cũng chỉ rõ công cụ và cách thức giải quyết bất bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội: sử dụng công cụ chính sách, với sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, bởi “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa”37. Theo tinh thần đó, cần “gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước”38; “Nhà nước sử dụng thể chế, các nguồn lực, công cụ điều tiết, chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo”39; “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa”40.
Như vậy, qua các kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm, đường lối lãnh đạo thực hiện mục tiêu công bằng, bình đẳng xã hội, từng bước giải quyết bất bình đẳng xã hội đồng thời với việc tập trung tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối lãnh đạo đó. Cho dù có những lo ngại ở giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới đất nước về việc không thể thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trước áp lực tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh kinh tế thị trường, nhưng thông qua công cụ chính sách, với sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, kết quả đã được chứng minh: Công bằng xã hội thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Có thể nói, giá trị bình đẳng và công bằng xã hội đã luôn là một điểm tựa cốt yếu trong các lập luận và thực tiễn lãnh đạo đấu tranh cách mạng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Kể từ khi đất nước giành được độc lập, giá trị đó càng được quan tâm thực hiện, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giải quyết bất bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội, đặc biệt là quan điểm công bằng về cơ hội phát triển vẫn đang tiếp tục phát huy những giá trị cốt lõi, định hướng cho đường lối phát triển của đất nước Việt Nam theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
1, 3, 5, 8, 9, 12, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 232; t. 8, tr. 264; t. 13, tr. 66; t. 12, tr. 372; t. 10, tr. 510; t. 4, tr. 138; t. 15, tr. 260; t. 7, tr. 342; t. 11, tr. 494, t. 10, tr. 344; t. 13, tr. 106; t. 15, tr. 260; t. 5, tr. 300; t. 11, tr. 404; t. 10, tr. 470; t. 10, tr. 583; t. 15, tr. 224.
2, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 371.
4, 13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 377.
6, 14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 360, 705.
10, 11, 15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 85, 495, 60.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986, tr. 43.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 89.
29, 37. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 21, 43.
30, 35, 38, 39. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 87, 135, 135-136, 269.
31, 36, 40. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 99, 264, 147-148.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 31.
33. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77-78.
34. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 113.
PGS, TS. LÊ THỊ THỤC
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật