1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức đoàn kết, thống nhất của những người con ưu tú của giai cấp và dân tộc, song Đảng cũng là một thực thể trong xã hội, cũng là những con người với tất cả điểm ưu và nhược, nên không phải lúc nào và bao giờ cũng giữ đúng và giữ được vai trò tiền phong. Hơn nữa, trong tiến trình vận động và phát triển, một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn và quy tụ được quần chúng, song không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ngợi ca, nếu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, để đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc từng bước giành thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng, bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực tổ chức, lãnh đạo của Đảng cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Người đặc biệt quan tâm, nhắc nhở toàn Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bởi theo Người “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”1.
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG”2. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Người đề cập trong Di chúc gồm ba nội dung:
Một là, phải tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”3. Người nhấn mạnh sự đoàn kết trong Đảng vì đó là nguồn gốc sức mạnh của Đảng, là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời cũng là yếu tố bảo đảm đầu tiên, thường xuyên cho sự trong sạch, vững mạnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng, giúp phòng ngừa sự chia rẽ, bè phái có thể làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng, tạo nên sức mạnh thống nhất trong ý chí và hành động để chiến thắng kẻ thù xâm lược, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Theo Người, đoàn kết, thống nhất không chỉ là vấn đề của mỗi tổ chức đảng các cấp, mà còn là sinh mệnh của toàn Đảng, là vấn đề sống còn của cách mạng; đoàn kết phải là đoàn kết thống nhất, trước sau như một, tức là phải dựa trên đường lối, quan điểm của Đảng và vì lợi ích của tập thể. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng là nguồn sức mạnh, là nền tảng, khâu then chốt dẫn đến thành công của cách mạng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối, chủ trương và những nguyên tắc sinh hoạt Đảng; được thể hiện trong nhận thức và hành động, trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhất quán giữa lời nói và việc làm; luôn coi đó là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, phải phát huy dân chủ trong Đảng, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”4. Người cặn dặn “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi” không chỉ nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, đảng viên trong tất cả các hoạt động của Đảng, để mọi cán bộ, đảng viên được bày tỏ ý kiến của mình, mà còn góp phần phòng, chống những biểu hiện chuyên quyền, độc đoán, hách dịch, chụp mũ, trù dập và những biểu hiện dân chủ quá trớn, những hiện tượng vì “sợ” mất dân chủ mà theo đuôi quần chúng trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, Đảng phải chú trọng thực thi nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Hai vế của nguyên tắc này phải luôn đi đôi với nhau, nhằm khắc phục những biểu hiện độc đoán, chuyên quyền của người đứng đầu và những biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm trước những quyết định quan trọng của những cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu năng lực lãnh đạo.
Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” để họ nhận thấy ưu điểm và khuyết điểm, biết phát huy ưu điểm, khắc phục và sửa chữa khuyết điểm, từ đó làm cho Đảng mạnh lên. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát 12 điều về Tư cách của đảng chân chính cách mạng, trong đó, Người yêu cầu phải đặc biệt chú trọng việc thực hiện tự phê bình và phê bình, phải củng cố và giữ vững mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng. Người viết: “Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”5. Nghĩa là phải có động cơ, thái độ tự phê bình và phê bình đúng đắn vì sự phát triển và vững mạnh của Đảng.
Ba là, hết sức coi trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân và những tiêu cực trong Đảng.
Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”6. Có thể thấy, Người quan niệm đạo đức là nền tảng của người cách mạng; làm cho cán bộ, đảng viên “phải thật thấm nhuần đạo đức cách mạng” được Người đặc biệt coi trọng và đặt lên hàng đầu. “Thật sự” nghĩa là phải nắm vững nội dung thực chất của đạo đức cách mạng, là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều cốt lõi nhất. Bởi “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”7; “khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ””8; “không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”9. Người xem đạo đức như ngọn nguồn của sông, như gốc của cây, như sức mạnh của con người: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”10. Theo Người, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Vì vậy, phải thường xuyên coi trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nâng cao đạo đức cách mạng, nâng cao năng lực trí tuệ của Đảng, đó chính là xây dựng cái “gốc” vững chắc của Đảng. Người từng nói: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”11.
Người luôn căn dặn thực hành đạo đức cách mạng không tách rời việc kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bởi chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng” rất độc, do nó mà sinh ra các thứ “bệnh” rất nguy hiểm, như bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ... Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Bàn về Tư cách của đảng chân chính cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”12. Muốn vậy, mỗi tổ chức và đảng viên của Đảng phải vững mạnh, gương mẫu để làm tròn vai trò “là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; phải xây dựng Đảng vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, mỗi đảng viên có đầy đủ cả đức và tài, trong đó đức phải là “gốc”. Muốn vậy, cần nhận thức rõ trách nhiệm của đảng viên, cán bộ: mỗi cán bộ, đảng viên phải trọng lợi ích của Đảng hơn hết, phải đặt lợi ích của Đảng lên trước, lợi ích của cá nhân lại sau, đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng - là “tính Đảng”. Theo đó, Người nêu lên những yêu cầu, nội dung mới của đạo đức cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện, đó là đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên có tác động mạnh mẽ tới quần chúng nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi những giá trị đạo đức truyền thống; tích cực đấu tranh với những biểu hiện chạy theo lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, coi vật chất, lợi ích cá nhân; chú trọng xây dựng tình đoàn kết, luôn tận tình giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, trưởng thành. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người giáo dục và rèn luyện Đảng ta về đạo đức cách mạng, mà Người còn là tấm gương mẫu mực về thực hành những phẩm chất đạo đức trong sáng đó.
Bên cạnh đó, nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau đối với sự phát triển và vững mạnh của Đảng, Người nêu rõ: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên””13. Trong Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hóa (ngày 31/8/1960), Người căn dặn: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”14. Có thể thấy, cùng với nỗi trăn trở phải làm sao để cán bộ, đảng viên “thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”, chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho các thế hệ đoàn viên, thanh niên cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Người khẳng định, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên sẽ giúp thanh niên trở thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt và người chủ tương lai của đất nước.
2. Quán triệt những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Di chúc, hơn 94 năm qua, xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng vừa thường xuyên, vừa cấp bách và lâu dài của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Đó không chỉ là nhiệm vụ trọng yếu của tất cả các cấp ủy Đảng và cả hệ thống chính trị mà còn là trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu và toàn thể cán bộ, đảng viên.
Trong mọi thời điểm, nhất là ở vào những thời khắc có tính bước ngoặt, công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh, tổng kết qua các kỳ đại hội Đảng toàn quốc và được triển khai sâu rộng theo các Nghị quyết chuyên đề về công tác xây dựng Đảng như: Nghị quyết trung ương 6 (lần 2) khóa VIII một số vấn đề cơ bản và cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Nhờ đó, Đảng không ngừng được củng cố, bảo vệ và phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Đồng thời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ chính trị, giữ vững ổn định chính trị quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, an sinh xã hội; kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị… với bước đi và phương pháp thích hợp; từng bước khẳng định vị thế là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, xã hội.
Có được những thành quả đó là nhờ sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị còn một số hạn chế. Nhiều cán bộ, đảng viên và người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xuất hiện ngày càng rõ hơn tình trạng đùn đẩy, không dám nghĩ, không dám làm, thậm chí né tránh và sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chuyển biến chưa đều, chưa đủ sức răn đe. Công tác phòng, chống và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở một số bộ, ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ rệt, ở một số nơi còn hình thức…
Trước tình hình trên, để những trăn trở, tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc được hiện thực hóa sinh động trong thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp, các ban, ngành chức năng trong hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chú trọng, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Trong đó, tiếp tục quyết liệt gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, Chỉ thị số 05-CT/TW, Kết luận số 01-KL/TW với Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.
Hai là, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đấu tranh bảo vệ, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, Điều lệ Đảng, kỷ luật đảng nhằm nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả. Giữ vững bản lĩnh chính trị của Đảng, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế phòng ngừa sự tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm” để cán bộ, đảng viên không dám, không thể, không cần, không muốn tham nhũng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu trên mọi lĩnh vực, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lợi ích nhóm và trong chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Đồng thời, chấn chỉnh, loại bỏ tư tưởng bàn lùi, tâm lý lo ngại rằng nếu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quá mạnh sẽ cản trở sự phát triển, làm nhụt chí một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
Ba là, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình các cấp cần bám sát hơn nữa nhiệm vụ chính trị của mình, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương trong việc mở rộng các chuyên trang, chuyên mục về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cả hệ thống chính trị. Chú trọng việc nhân rộng các gương điển hình trong cán bộ, đảng viên, trong nhân dân về tham gia xây dựng Đảng, về học và làm theo Bác để lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng. Đồng thời, mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động, linh hoạt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động; nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, thiết thực góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Bốn là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Chú trọng cơ cấu hợp lý, sớm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là ở cơ sở. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài; Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Năm là, phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, trong giám sát cán bộ, đảng viên nói riêng, bảo đảm các nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, dân thụ hưởng” được hiện thực hóa sinh động trong thực tiễn. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định, quy chế về phát huy dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân; xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2021, t. 2, tr. 289.
2, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 621, 611, .
3, 6, 13, . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 622.
5, 11. 12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 301, 294, 289 .
7, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 602, 603.
9, 10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292.
14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 647.