Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện, năng lực quản trị quốc gia trở thành yếu tố quyết định hiệu quả phát triển, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, quá trình hội nhập không chỉ mở ra nhiều cơ hội phát triển mà còn đặt ra những yêu cầu mới, khắt khe hơn đối với việc hoạch định và thực thi chính sách, tổ chức bộ máy và phương thức quản lý nhà nước. Nhận thức rõ yêu cầu đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Thực tiễn cho thấy, quản trị quốc gia hiệu quả không chỉ góp phần khai thác tốt các cơ hội từ hội nhập, mà còn là điều kiện quan trọng để kiểm soát rủi ro, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, làm rõ yêu cầu và giải pháp nâng cao năng lực quản trị quốc gia có ý nghĩa thiết thực, góp phần đáp ứng đòi hỏi phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay.
1. Quan điểm của Đảng về nâng cao năng lực quản trị quốc gia
Nâng cao năng lực quản trị quốc gia là yêu cầu tất yếu của phát triển nhanh và bền vững.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh gắn với bền vững, nâng cao năng lực quản trị quốc gia được Đảng xác định là yêu cầu tất yếu, có tính quyết định. Quản trị quốc gia không chỉ là hoạt động quản lý hành chính nhà nước, mà là tổng thể các phương thức, công cụ và năng lực điều phối xã hội, nhằm định hướng, tổ chức và dẫn dắt quá trình phát triển.
Thực tiễn cho thấy, mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và đầu tư dàn trải không còn phù hợp. Chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực đòi hỏi năng lực hoạch định chính sách khoa học, thực thi hiệu quả và điều chỉnh linh hoạt. Do đó, nâng cao năng lực quản trị quốc gia là điều kiện tiên quyết để phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển; kiểm soát rủi ro, xử lý tốt các vấn đề phức tạp, liên ngành; bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nền tảng của quản trị quốc gia hiện đại.
Đảng khẳng định Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trụ cột, là nền tảng thể chế của quản trị quốc gia hiện đại. Quản trị hiệu quả phải dựa trên thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền lực nhà nước được phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ.
Trong Nhà nước pháp quyền, quản trị quốc gia không vận hành theo ý chí chủ quan hay mệnh lệnh hành chính đơn thuần, mà được dẫn dắt bằng thể chế minh bạch, pháp luật ổn định, dự báo được và có khả năng thực thi cao. Điều này tạo lập môi trường ổn định cho phát triển kinh tế, củng cố niềm tin xã hội và nâng cao hiệu quả điều hành của Nhà nước.
Đối với Việt Nam, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn gắn với yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm bộ máy nhà nước hoạt động liêm chính, kỷ cương và vì nhân dân phục vụ. Đây chính là nền móng để năng lực quản trị quốc gia được nâng lên một cách thực chất, bền vững.
Quản trị quốc gia phải gắn với đổi mới tư duy phát triển, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Một điểm nhấn quan trọng trong quan điểm của Đảng là yêu cầu đổi mới tư duy quản trị quốc gia, chuyển từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị hiện đại, linh hoạt và thích ứng. Quản trị không chỉ là “điều hành”, mà là kiến tạo phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khơi thông các nguồn lực xã hội.
Chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng nâng cao năng lực quản trị quốc gia, giúp tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình; nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công; cải thiện năng lực dự báo, ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Bên cạnh đó, quản trị quốc gia hiện đại không thể tách rời hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về quản trị, quản lý công, kinh tế số, phát triển bền vững… giúp Việt Nam nâng cao chất lượng thể chế và năng lực điều hành, đồng thời gia tăng uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Phát huy vai trò của nhân dân, doanh nghiệp và xã hội trong quản trị quốc gia.
Đảng nhấn mạnh quản trị quốc gia hiện đại phải là quản trị đa chủ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò trung tâm kiến tạo, nhưng nhân dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội là chủ thể tham gia tích cực. Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của xã hội không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản trị.
Việc người dân tham gia giám sát, phản biện chính sách; doanh nghiệp tham gia xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách; các tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ công… giúp giảm gánh nặng cho Nhà nước, nâng cao tính phù hợp và khả thi của chính sách, tăng cường đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân.
Quan điểm này thể hiện rõ sự chuyển dịch từ “Nhà nước quản lý” sang “Nhà nước kiến tạo phát triển”, trong đó quản trị quốc gia được thực hiện thông qua sự phối hợp, đồng hành và chia sẻ trách nhiệm giữa các chủ thể trong xã hội.
Bảo đảm độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế chủ động, tích cực.
Nâng cao năng lực quản trị quốc gia, theo quan điểm của Đảng, phải luôn đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ là nguyên tắc nền tảng, bảo đảm khả năng tự quyết về đường lối phát triển, chính sách kinh tế - xã hội và an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng, quản trị quốc gia hiệu quả không đồng nghĩa với khép kín, mà đòi hỏi hội nhập chủ động, tích cực và có chọn lọc. Thông qua hội nhập, Việt Nam tiếp cận tri thức quản trị hiện đại, công nghệ mới, nguồn lực tài chính và thị trường quốc tế, từ đó nâng cao năng lực nội sinh và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Có thể khẳng định, quan điểm của Đảng về nâng cao năng lực quản trị quốc gia là hệ thống quan điểm toàn diện, hiện đại và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Việc hiện thực hóa các quan điểm này sẽ quyết định khả năng chuyển hóa khát vọng phát triển thành kết quả thực tiễn, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hội nhập thành công.
2. Thực trạng năng lực quản trị quốc gia của Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, nền tảng ổn định chính trị - xã hội và năng lực điều hành vĩ mô được giữ vững.
Trong những năm qua, Việt Nam đã duy trì vững chắc nền tảng ổn định chính trị - xã hội, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng, vai trò quản lý hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước cùng sự đồng thuận xã hội ngày càng được củng cố đã góp phần giữ vững trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Đây là lợi thế căn bản của Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường.
Cùng với đó, năng lực điều hành vĩ mô của Nhà nước không ngừng được nâng cao, thể hiện rõ qua việc chủ động, linh hoạt trong hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế - xã hội, tài khóa, tiền tệ, đầu tư công và an sinh xã hội. Các giải pháp điều hành được triển khai kịp thời, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đặc biệt, trong những thời điểm khó khăn như dịch bệnh, suy giảm kinh tế toàn cầu hay biến động địa chính trị, Nhà nước đã thể hiện rõ vai trò “kiến tạo phát triển”, điều tiết hiệu quả các nguồn lực, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, qua đó củng cố niềm tin xã hội và tăng cường tính bền vững của quá trình phát triển đất nước.
Thứ hai, chuyển đổi số khu vực công và cung cấp dịch vụ số có bước tiến rõ rệt.
Chuyển đổi số trong khu vực công thời gian qua đã được triển khai một cách đồng bộ, bài bản, từng bước đi vào chiều sâu và đạt nhiều kết quả tích cực. Hệ thống thể chế, chiến lược và chương trình hành động về chuyển đổi số quốc gia được ban hành tương đối đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới phương thức quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã chủ động xây dựng chính quyền số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu số trong hoạt động điều hành, góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả quản lý.
Cùng với đó, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến được mở rộng cả về số lượng và chất lượng, nhiều thủ tục hành chính thiết yếu đã được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số, giúp giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Các nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống một cửa điện tử từng bước được kết nối, liên thông, tạo thuận lợi cho người sử dụng và thúc đẩy hình thành nền hành chính hiện đại, phục vụ. Những chuyển biến này không chỉ góp phần cải cách hành chính, nâng cao mức độ hài lòng của xã hội, mà còn khẳng định vai trò của chuyển đổi số như một động lực quan trọng trong nâng cao năng lực quản trị quốc gia và phát triển bền vững đất nước.
Thứ ba, kiểm soát tham nhũng, tiêu cực có tác động rõ tới chuẩn mực quản trị.
Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ và ngày càng đi vào chiều sâu, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Việc tăng cường kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước đã góp phần thiết lập và củng cố các chuẩn mực quản trị dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Thông qua việc hoàn thiện thể chế, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm, kể cả đối với cán bộ giữ chức vụ cao, công tác phòng, chống tham nhũng đã tạo ra hiệu ứng răn đe mạnh mẽ, góp phần điều chỉnh hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng chuẩn mực, liêm chính và chuyên nghiệp hơn. Đồng thời, việc công khai hóa kết quả xử lý các vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, nâng cao tính chính danh và hiệu lực của bộ máy công quyền. Những chuyển biến này không chỉ góp phần làm trong sạch hệ thống chính trị, mà còn từng bước hình thành văn hóa quản trị liêm chính, minh bạch - nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ tư, năng lực triển khai chính sách theo mục tiêu phát triển mới ngày càng rõ định hướng.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển và phát triển bền vững, năng lực triển khai chính sách của bộ máy nhà nước ngày càng thể hiện rõ tính định hướng, chủ động và thống nhất. Các mục tiêu phát triển lớn như chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, nâng cao năng suất lao động, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển con người toàn diện đã được cụ thể hóa tương đối đồng bộ trong hệ thống chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình hành động của các cấp, các ngành.
Đáng chú ý, việc tổ chức thực hiện chính sách ngày càng chú trọng tiếp cận theo mục tiêu, lấy kết quả đầu ra làm thước đo, gắn với phân bổ nguồn lực, trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát, đánh giá. Nhiều chính sách được thiết kế theo hướng linh hoạt, có khả năng thích ứng với biến động của môi trường trong nước và quốc tế, đồng thời bảo đảm sự liên thông giữa trung ương và địa phương. Những chuyển biến này cho thấy năng lực triển khai chính sách của Nhà nước đang từng bước chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển mới và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia vẫn còn một số hạn chế nhất định. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hiện nay1.
Theo đó, nhận thức của một bộ phận cấp ủy, chính quyền, cán bộ, công chức và Nhân dân về vai trò, ý nghĩa và tính tất yếu của chuyển đổi số còn chưa đầy đủ, thiếu chiều sâu, dẫn đến tâm lý e dè, lúng túng trong tổ chức thực hiện. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tạo được bước đột phá thực chất; năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi còn hạn chế, phụ thuộc nhiều vào bên ngoài.
Bên cạnh đó, hệ thống thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn chậm được hoàn thiện, thiếu đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Hạ tầng khoa học, công nghệ và hạ tầng số phát triển chưa đồng đều, nhất là ở cấp cơ sở; trong khi đó, các vấn đề về an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu quốc gia đang đặt ra nhiều thách thức mới, đòi hỏi phải có giải pháp căn cơ, đồng bộ và dài hạn.
3. Giải pháp nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và khả năng thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế.
Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý theo hướng nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, coi đây là khâu đột phá nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Trước hết, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, lấy lợi ích tổng thể của quốc gia - dân tộc và yêu cầu phát triển bền vững làm mục tiêu trung tâm. Quá trình xây dựng luật phải dựa trên đánh giá tác động chính sách một cách khoa học, thực chất, gắn với phân tích chi phí, lợi ích và khả năng thực thi, khắc phục tình trạng ban hành văn bản thiên về quản lý hành chính, thiếu tính khả thi trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ chu trình xây dựng và thực thi pháp luật. Việc mở rộng tham vấn chính sách, lấy ý kiến rộng rãi của các chủ thể chịu tác động, đặc biệt là doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân, sẽ góp phần nâng cao chất lượng quy định pháp luật, tạo sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế rà soát, sửa đổi kịp thời các quy định không còn phù hợp, bảo đảm tính ổn định tương đối của pháp luật nhưng không cứng nhắc, lạc hậu.
Đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng tạo hành lang pháp lý cho chính phủ số, kinh tế số và xã hội số phát triển; tăng cường quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư, an ninh, an toàn thông tin; đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua các cơ chế linh hoạt, thử nghiệm có kiểm soát. Song song với đó, việc nâng cao mức độ tương thích của pháp luật trong nước với các cam kết và chuẩn mực quốc tế là yêu cầu tất yếu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, uy tín và vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ hai, đẩy mạnh quản trị số, quản trị dữ liệu, phát triển chính phủ điện tử, chính phủ số, hướng tới mô hình quản trị hiện đại, lấy người dân làm trung tâm.
Phát triển chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, coi mức độ hài lòng của xã hội là thước đo hiệu quả quản trị. Trọng tâm là tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ trước khi số hóa, loại bỏ các thủ tục trung gian không cần thiết, bảo đảm nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, giảm tối đa thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cần được mở rộng cả về phạm vi và chất lượng, hướng tới cung cấp dịch vụ công toàn trình, thuận tiện, minh bạch và dễ tiếp cận đối với mọi nhóm đối tượng trong xã hội.
Cùng với đó, quản trị dữ liệu cần được xác định là trụ cột của quản trị số. Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông và chia sẻ hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương; đồng thời thiết lập các chuẩn dữ liệu thống nhất, cơ chế phân quyền truy cập rõ ràng và trách nhiệm giải trình cụ thể. Việc khai thác và sử dụng dữ liệu phải gắn với bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ quyền riêng tư của người dân, coi đây là điều kiện tiên quyết để củng cố niềm tin xã hội đối với chính phủ số.
Về lâu dài, quản trị số và quản trị dữ liệu cần được tích hợp chặt chẽ với công tác hoạch định chính sách và điều hành vĩ mô, từng bước hình thành mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Điều này cho phép Nhà nước nâng cao năng lực dự báo, phản ứng chính sách kịp thời trước các biến động kinh tế - xã hội, đồng thời tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị. Như vậy, đẩy mạnh quản trị số không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là đòn bẩy quan trọng để nâng cao năng lực quản trị quốc gia, hướng tới một nền quản trị hiện đại, hiệu quả và phục vụ.
Thứ ba, tiếp tục phân quyền hợp lý gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, nâng cao trách nhiệm giải trình, phòng chống tham nhũng, lạm quyền.
Theo đó, cần rà soát, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trên nguyên tắc “việc nào địa phương làm tốt hơn thì giao cho địa phương”, đồng thời bảo đảm sự thống nhất quản lý của trung ương đối với những lĩnh vực liên quan đến chiến lược, thể chế, tiêu chuẩn, quy chuẩn và các cân đối lớn của quốc gia. Việc phân quyền phải gắn chặt với phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực thực thi, tránh tình trạng giao quyền nhưng không giao đủ nguồn lực hoặc thiếu cơ chế hướng dẫn, giám sát, dẫn đến hiệu quả thực hiện thấp.
Cùng với phân quyền, cần thiết lập và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đồng bộ, hiệu quả, thông qua tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Đặc biệt, phải đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý, điều hành và phòng, chống tham nhũng, lạm quyền; thực hiện nghiêm việc công khai, minh bạch trong ra quyết định và sử dụng nguồn lực công. Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu số trong quản lý, theo dõi và giám sát hoạt động công vụ sẽ góp phần hạn chế can thiệp chủ quan, giảm “khoảng trống” cho tham nhũng, tiêu cực phát sinh.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về trách nhiệm giải trình, gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ với đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ. Song song với đó, phát huy vai trò giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và dư luận xã hội trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Những giải pháp này sẽ góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia liêm chính, hiệu quả, bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền, qua đó nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
Thứ tư, vận hành hiệu lực, hiệu quả tổ chức bộ máy và cải cách chế độ công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tinh gọn, chuyên nghiệp, năng động và tận tâm phục vụ nhân dân.
Tiếp tục vận hành và hoàn thiện tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm, gắn với cải cách mạnh mẽ chế độ công vụ. Trọng tâm là sắp xếp, kiện toàn các cơ quan trong hệ thống chính trị theo nguyên tắc một việc một đầu mối chủ trì, tăng cường phối hợp liên thông, giảm tầng nấc trung gian, khắc phục tình trạng phân tán, trùng lặp trong quản lý. Việc tinh giản biên chế phải đi đôi với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức theo vị trí việc làm, bảo đảm “đúng người, đúng việc”, lấy hiệu quả thực thi nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu.
Song song với đó, đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, lấy năng lực, phẩm chất và kết quả công tác làm căn cứ đánh giá, sử dụng và đãi ngộ cán bộ. Cần đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng theo hướng cạnh tranh, công khai, minh bạch; chú trọng bồi dưỡng kỹ năng quản trị, năng lực số, khả năng phân tích và thực thi chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đồng thời, xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Đặc biệt, cần nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm và thái độ tận tâm phục vụ nhân dân. Việc nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát cán bộ sẽ góp phần phòng ngừa tiêu cực, nâng cao hiệu suất làm việc và chất lượng phục vụ. Thông qua đó, tổ chức bộ máy và chế độ công vụ sẽ thực sự trở thành trụ cột quan trọng nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ năm, tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng, giám sát và phản biện chính sách, qua đó nâng cao tính dân chủ và đồng thuận xã hội.
Mở rộng các hình thức tham vấn công khai, minh bạch, đa dạng và thuận tiện, đặc biệt thông qua nền tảng số, nhằm tạo điều kiện để các chủ thể chịu tác động trực tiếp có thể đóng góp ý kiến một cách kịp thời, hiệu quả. Việc tiếp thu, giải trình và phản hồi các ý kiến góp ý cần được quy định rõ ràng, tránh tình trạng tham vấn hình thức, thiếu trách nhiệm.
Cùng với đó, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và báo chí trong việc theo dõi quá trình thực thi chính sách, phát hiện kịp thời những bất cập, hạn chế và kiến nghị điều chỉnh. Việc công khai thông tin, dữ liệu liên quan đến chính sách, ngân sách và hoạt động của cơ quan công quyền là điều kiện tiên quyết để xã hội thực hiện tốt chức năng giám sát, đồng thời góp phần phòng ngừa tham nhũng, lãng phí và lạm quyền.
Từng bước xây dựng văn hóa đối thoại, hợp tác và đồng hành giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp và xã hội, coi đây là một cấu phần quan trọng của quản trị quốc gia hiện đại. Khi các chủ thể xã hội được tham gia một cách thực chất vào quá trình chính sách, mức độ dân chủ và đồng thuận xã hội sẽ được nâng cao, qua đó củng cố niềm tin vào Nhà nước, tăng hiệu lực, hiệu quả quản trị và tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển bền vững đất nước.
1. Xem Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162.