Nâng cao chất lượng phản biện chính sách trong điều kiện phát triển mới

CT&PT - Phản biện chính sách là một khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách công hiện đại, góp phần bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn, tính khả thi và tính đồng thuận xã hội của các quyết sách phát triển. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, hoạt động phản biện chính sách ở Việt Nam đứng trước cả thời cơ lẫn thách thức mới. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của phản biện chính sách; đánh giá thực trạng chất lượng phản biện chính sách hiện nay; làm rõ những vấn đề đặt ra trong điều kiện phát triển mới; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện chính sách, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

1. Yêu cầu nâng cao chất lượng phản biện chính sách trong điều kiện phát triển mới

Phản biện chính sách là một bộ phận quan trọng trong chu trình chính sách công, gắn chặt với các khâu từ hoạch định, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Về bản chất, phản biện chính sách là quá trình phân tích, đánh giá, góp ý một cách khoa học, khách quan và có căn cứ đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước nhằm làm rõ tính đúng đắn, hợp lý, khả thi và hiệu quả của chính sách trước khi ban hành hoặc trong quá trình thực thi. Hoạt động phản biện chính sách không nhằm phủ nhận hay đối lập với quyết định chính sách, mà hướng tới bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn, giúp cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chính sách, hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước.

Xét trong tổng thể quản trị quốc gia, phản biện chính sách giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính khoa học, dân chủ và minh bạch của quá trình ra quyết định công. Thông qua phản biện chính sách, các ý kiến đa chiều từ giới chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức chính trị, xã hội và các nhóm xã hội khác nhau được tập hợp, phân tích và chuyển tải tới cơ quan hoạch định chính sách. Điều này góp phần khắc phục tình trạng tư duy chủ quan, phiến diện, hạn chế nguy cơ chính sách xa rời thực tiễn, thiếu tính khả thi hoặc gây ra những hệ quả không mong muốn trong quá trình triển khai. Đồng thời, phản biện chính sách còn là kênh quan trọng để tăng cường sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Về mặt lý luận, chất lượng phản biện chính sách được quyết định bởi nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là tính khoa học của nội dung phản biện, tính độc lập và khách quan của chủ thể phản biện, mức độ gắn kết giữa phản biện với thực tiễn và hiệu quả tiếp thu, phản hồi của cơ quan xây dựng chính sách. Phản biện chính sách có chất lượng cao phải dựa trên hệ thống luận cứ khoa học vững chắc, kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, giữa phân tích định tính và định lượng, đồng thời xuất phát từ lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Bên cạnh đó, phản biện chính sách cần được thực hiện trong khuôn khổ thể chế rõ ràng, bảo đảm quyền, trách nhiệm và điều kiện cần thiết để các chủ thể phản biện phát huy vai trò của mình một cách thực chất.

Trong điều kiện phát triển mới của đất nước, yêu cầu nâng cao chất lượng phản biện chính sách ngày càng trở nên cấp thiết. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt ra nhiều vấn đề chính sách mới, phức tạp, có tác động đa chiều đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường. Nhiều chính sách không chỉ ảnh hưởng trong phạm vi một ngành, một địa phương, mà có tác động lan tỏa rộng lớn, lâu dài, đòi hỏi phải được xem xét, đánh giá thận trọng từ nhiều góc độ khác nhau. Trong bối cảnh đó, nếu thiếu phản biện chính sách có chất lượng, nguy cơ ban hành những chính sách chưa chín muồi, thiếu tính khả thi hoặc không phù hợp với thực tiễn là rất lớn.

Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ số và dữ liệu lớn, đang làm thay đổi phương thức quản trị và xây dựng chính sách. Điều này đòi hỏi hoạt động phản biện chính sách cũng phải được đổi mới cả về nội dung, phương pháp và công cụ. Phản biện không chỉ dừng lại ở việc góp ý văn bản, mà cần dựa trên phân tích dữ liệu, mô hình hóa tác động chính sách, so sánh kinh nghiệm quốc tế và dự báo xu hướng phát triển. Chất lượng phản biện vì thế không chỉ đo bằng số lượng ý kiến đóng góp, mà quan trọng hơn là chiều sâu khoa học và giá trị thực tiễn của các luận cứ phản biện.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”1.

Từ góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện chính sách còn gắn liền với yêu cầu phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình quản lý nhà nước và xã hội. Việc tạo điều kiện để các tổ chức chính trị, xã hội, các hội nghề nghiệp, giới trí thức và nhân dân tham gia phản biện chính sách là biểu hiện sinh động của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời là cơ chế quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, để phản biện chính sách thực sự phát huy hiệu quả, không thể chỉ dừng lại ở việc mở rộng kênh tham gia, mà cần chú trọng nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và trách nhiệm của hoạt động phản biện.

2. Thực trạng chất lượng phản biện chính sách ở Việt Nam hiện nay

Những kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, hoạt động phản biện chính sách ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, từng bước khẳng định vai trò là một khâu quan trọng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách công. Nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước về ý nghĩa của phản biện chính sách ngày càng được nâng cao, thể hiện rõ trong nhiều chủ trương, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát huy dân chủ, tăng cường sự tham gia của xã hội vào quá trình hoạch định chính sách. Phản biện chính sách không còn bị nhìn nhận như hoạt động mang tính hình thức, mà từng bước được coi là nguồn cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn quan trọng cho việc ra quyết định.

Một kết quả nổi bật là phạm vi và chủ thể tham gia phản biện chính sách ngày càng được mở rộng. Bên cạnh các cơ quan nghiên cứu, các viện, trường đại học, nhiều tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, trí thức đã tham gia tích cực hơn vào quá trình góp ý, phản biện các dự thảo chủ trương, chính sách lớn. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã từng bước phát huy vai trò trong phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, đề án phát triển kinh tế, xã hội. Việc lấy ý kiến nhân dân đối với một số chính sách quan trọng ngày càng được thực hiện bài bản hơn, qua đó góp phần tăng tính công khai, minh bạch và đồng thuận xã hội.

Cùng với đó, hình thức và phương thức phản biện chính sách từng bước được đa dạng hóa. Ngoài các hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên đề, nhiều cơ quan đã tổ chức lấy ý kiến bằng văn bản, thông qua cổng thông tin điện tử, nền tảng số, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia phản biện. Một số nội dung phản biện đã đi vào những vấn đề cốt lõi của chính sách, như mục tiêu, đối tượng tác động, nguồn lực thực hiện và tác động xã hội, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo chính sách trước khi ban hành. Trong một số trường hợp, ý kiến phản biện đã được tiếp thu, chỉnh sửa, qua đó nâng cao tính khả thi và hiệu quả của chính sách trong thực tiễn.

Một số tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng phản biện chính sách ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quản trị quốc gia trong điều kiện phát triển mới. Trước hết, hoạt động phản biện chính sách ở nhiều lĩnh vực còn mang tính hình thức, chưa thực sự đi vào chiều sâu khoa học. Không ít ý kiến phản biện mới dừng lại ở việc góp ý câu chữ, kỹ thuật lập pháp, hoặc nêu kiến nghị chung chung, thiếu các phân tích định lượng, thiếu đánh giá tác động toàn diện và dự báo dài hạn. Điều này làm giảm giá trị sử dụng của các ý kiến phản biện đối với cơ quan hoạch định chính sách.

Một hạn chế đáng chú ý khác là tính độc lập và khách quan của phản biện chính sách chưa được bảo đảm đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, phản biện được thực hiện bởi các chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan xây dựng chính sách, dẫn đến tâm lý e ngại, nể nang, hoặc chưa mạnh dạn chỉ ra những bất cập, rủi ro tiềm ẩn của chính sách. Cơ chế lựa chọn, mời gọi các chủ thể phản biện độc lập, có uy tín khoa học và kinh nghiệm thực tiễn còn chưa thực sự rõ ràng, đồng bộ, làm hạn chế tính đa chiều và phản biện thực chất.

Bên cạnh đó, năng lực phản biện chính sách của một bộ phận chủ thể tham gia còn hạn chế. Không ít ý kiến phản biện thiếu nền tảng lý luận vững chắc, chưa gắn chặt với thực tiễn quản lý và điều kiện triển khai chính sách. Kỹ năng phân tích chính sách, đánh giá tác động, sử dụng dữ liệu và bằng chứng khoa học của một số chủ thể phản biện còn yếu, trong khi đây lại là yêu cầu ngày càng quan trọng trong bối cảnh các vấn đề chính sách trở nên phức tạp và liên ngành. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức thuyết phục của hoạt động phản biện.

Một vấn đề khác là cơ chế tiếp thu, phản hồi ý kiến phản biện chính sách chưa thực sự rõ ràng và hiệu quả. Ở nhiều trường hợp, việc phản biện được tổ chức nhưng chưa có quy trình minh bạch để giải trình việc tiếp thu hoặc không tiếp thu các ý kiến phản biện. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả của phản biện chính sách, mà còn ảnh hưởng đến động lực và trách nhiệm của các chủ thể tham gia phản biện. Việc thiếu cơ chế gắn kết chặt chẽ giữa phản biện chính sách và quyết định chính sách khiến phản biện chưa trở thành một khâu không thể thiếu trong chu trình chính sách công.

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Về thể chế, hệ thống quy định pháp lý về phản biện chính sách tuy đã được hình thành nhưng chưa đồng bộ, chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan xây dựng chính sách trong việc tổ chức phản biện và tiếp thu ý kiến phản biện. Về tổ chức thực hiện, việc bố trí thời gian, nguồn lực cho phản biện chính sách còn hạn chế, nhiều trường hợp phản biện được tiến hành gấp gáp, mang tính thủ tục, không đủ điều kiện để phân tích sâu. Về con người, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học tham gia phản biện chính sách tuy đông đảo nhưng chưa được tổ chức, phát huy hiệu quả, thiếu các cơ chế khuyến khích, đãi ngộ tương xứng để thu hút sự tham gia chuyên nghiệp, lâu dài.

Ngoài ra, trong bối cảnh phát triển mới, sự gia tăng nhanh chóng của thông tin và ý kiến trên không gian mạng cũng đặt ra thách thức đối với hoạt động phản biện chính sách. Sự lẫn lộn giữa phản biện khoa học, xây dựng với các ý kiến cảm tính, thiếu căn cứ khoa học khiến việc sàng lọc, tiếp thu ý kiến phản biện trở nên khó khăn hơn. Nếu không có cơ chế và phương pháp phù hợp, phản biện chính sách rất dễ bị phân tán, thiếu trọng tâm, ảnh hưởng đến chất lượng quyết định chính sách.

Từ thực trạng trên cho thấy, mặc dù hoạt động phản biện chính sách ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định, song chất lượng phản biện vẫn chưa tương xứng với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng phản biện chính sách, bảo đảm phản biện thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong quản trị quốc gia hiện đại.

3. Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách trong điều kiện phát triển mới

Nâng cao chất lượng phản biện chính sách là yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại. Trên cơ sở nhận diện đầy đủ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động phản biện chính sách thời gian qua, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm phản biện chính sách thực sự trở thành một khâu quan trọng, có giá trị thực chất trong chu trình chính sách công.

Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế pháp lý về phản biện chính sách theo hướng đồng bộ, rõ ràng và khả thi. Các quy định về phản biện chính sách cần được cụ thể hóa hơn nữa về phạm vi, đối tượng, thời điểm và quy trình phản biện, bảo đảm phản biện được tiến hành từ sớm, xuyên suốt quá trình xây dựng chính sách, không chỉ tập trung ở giai đoạn hoàn thiện văn bản. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì xây dựng chính sách trong việc tổ chức phản biện, tiếp thu và giải trình các ý kiến phản biện, coi đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng công tác hoạch định chính sách. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm tạo hành lang pháp lý cho phản biện chính sách, mà còn góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và dân chủ trong quản lý nhà nước.

Nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia phản biện chính sách giữ vai trò then chốt. Cần chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có trình độ chuyên môn sâu, kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh khoa học vững vàng, đủ khả năng phân tích, đánh giá các vấn đề chính sách phức tạp, liên ngành. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cần tập trung vào các kỹ năng phân tích chính sách, đánh giá tác động, sử dụng dữ liệu và bằng chứng khoa học, cũng như kỹ năng trình bày, lập luận phản biện một cách khoa học, thuyết phục. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích, đãi ngộ phù hợp để thu hút sự tham gia chuyên nghiệp, thường xuyên của đội ngũ chuyên gia, trí thức vào hoạt động phản biện chính sách.

Đổi mới phương thức và quy trình phản biện chính sách theo hướng khoa học, minh bạch và hiệu quả. Hoạt động phản biện cần được tổ chức trên cơ sở kế hoạch rõ ràng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những vấn đề cốt lõi, những tác động lớn và những rủi ro tiềm ẩn của chính sách. Phản biện không chỉ dừng lại ở việc góp ý nội dung văn bản, mà cần mở rộng sang đánh giá tác động chính sách, phân tích chi phí, lợi ích, so sánh kinh nghiệm quốc tế và dự báo xu hướng phát triển. Việc áp dụng các phương pháp phản biện hiện đại, kết hợp giữa định tính và định lượng, sẽ góp phần nâng cao chiều sâu khoa học và giá trị thực tiễn của các ý kiến phản biện.

Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và dữ liệu trong hoạt động phản biện chính sách. Việc xây dựng và khai thác các cơ sở dữ liệu phục vụ phản biện, sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu, mô hình hóa tác động chính sách sẽ giúp nâng cao tính khách quan, chính xác và kịp thời của phản biện. Đồng thời, các nền tảng số có thể được sử dụng để mở rộng kênh lấy ý kiến phản biện, tăng cường sự tham gia của các chủ thể xã hội, song cần có cơ chế sàng lọc, tổng hợp và xử lý thông tin khoa học nhằm bảo đảm chất lượng phản biện.

Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả tiếp thu, phản hồi và sử dụng kết quả phản biện chính sách. Cơ quan xây dựng chính sách cần thiết lập cơ chế giải trình rõ ràng về việc tiếp thu hoặc không tiếp thu các ý kiến phản biện, công khai kết quả xử lý ý kiến phản biện ở mức độ phù hợp. Việc phản hồi đầy đủ, kịp thời không chỉ góp phần nâng cao chất lượng chính sách, mà còn tạo động lực, trách nhiệm và niềm tin cho các chủ thể tham gia phản biện. Về lâu dài, cần gắn kết quả phản biện chính sách với việc đánh giá chất lượng công tác hoạch định và ban hành chính sách của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Ngoài ra, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị, xã hội, các hội nghề nghiệp và các thiết chế tư vấn, phản biện trong hệ thống chính trị. Việc tăng cường phối hợp giữa các chủ thể phản biện sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, bảo đảm phản biện chính sách vừa có chiều sâu khoa học, vừa phản ánh được tiếng nói và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, cần xây dựng môi trường phản biện dân chủ, cởi mở, tôn trọng ý kiến khác biệt, khuyến khích tranh luận khoa học trên tinh thần xây dựng, vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc.

Nâng cao chất lượng phản biện chính sách đòi hỏi sự thống nhất cao về nhận thức và quyết tâm chính trị trong toàn bộ hệ thống chính trị. Các cấp ủy đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, coi phản biện chính sách là một bộ phận quan trọng của năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Chính quyền các cấp cần chủ động, cầu thị trong tiếp nhận phản biện, xem phản biện như nguồn lực trí tuệ quan trọng để hoàn thiện chính sách. Sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của đội ngũ trí thức, chuyên gia và nhân dân sẽ góp phần nâng cao chất lượng phản biện chính sách, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong điều kiện mới.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, t. 1, tr. 172.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin