1. Quan điểm về nhà nước pháp quyền trên thế giới
Những ý niệm đầu tiên về nhà nước pháp quyền - một nhà nước công bằng, dân chủ, đã xuất hiện từ thời cổ đại và được phản ánh trong các quan niệm triết học, đạo đức, tôn giáo từ phương Đông đến phương Tây. Theo tiến trình phát triển của xã hội loài người, những ý niệm này dần được bổ sung, hoàn thiện và phát triển thành hệ thống tư tưởng, quan điểm tương đối hoàn chỉnh. Đặc biệt, đến thời kỳ cận đại, học thuyết về nhà nước pháp quyền có bước phát triển vượt bậc so với các giai đoạn trước, với những đại diện tiêu biểu như Baruch Spinoza, John Locke, Montesquieu, Jean-Jacques Rousseou. Trong đó, Baruch Spinoza là một trong những người đầu tiên đặt nền tảng lý luận cho nhà nước dân chủ gắn với pháp luật, bảo đảm quyền lợi và tự do thực sự của con người. Xuất phát từ quan niệm con người sinh ra đã có quyền tự do và pháp luật ra đời nhằm bảo vệ các quyền tự do đó, ông cho rằng nhà nước chỉ có thể vững mạnh khi bảo đảm cho mỗi công dân không chỉ được sống, mà còn được thụ hưởng các lợi ích chính đáng của mình, đồng thời ngăn chặn sự xâm phạm của những người cầm quyền đối với quyền sở hữu, sự an toàn, danh dự, các quyền tự do của nhân dân.
Tiếp theo, John Locke cho rằng, nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quyền tự nhiên của con người, bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu. Trong nhà nước đó, luật pháp giữ vị trí tối thượng và phải phù hợp với các quyền tự nhiên. Ông cũng chỉ rõ, quyền lực nhà nước về bản chất thuộc về nhân dân và do nhân dân ủy quyền. Theo đó, nhân dân có quyền kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước, thậm chí có thể thiết lập một chính quyền mới thay thế khi chính quyền hiện tại không còn đáp ứng lợi ích của các công dân. Những luận điểm này đã đặt nền móng quan trọng cho sự hình hành học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản.
Tiếp nối tư tưởng của John Locke, Montesquieu và Jean-Jacques Rousseou tiếp tục phát triển các quan điểm về tổ chức quyền lực nhà nước và chủ quyền nhân dân, qua đó góp phần hình thành cơ sở lý luận quan trọng cho việc xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền hiện đại. Đến thế kỷ XIX, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của thời kỳ Khai sáng, các nhà tư tưởng cổ điển Đức đã luận giải về sự tồn tại và vai trò của nhà nước pháp quyền. Tiêu biểu là Immanuel Kant khi cho rằng nhà nước pháp quyền phải là nhà nước cộng hòa chân chính, trong đó pháp luật giữ vị trí tối thượng, không phụ thuộc vào ý chí cá nhân, trong đó hoạt động lập pháp giữ vai trò trung tâm với mục đích bảo đảm quyền tự do của con người1.
Hệ thống lý luận về nhà nước pháp quyền tiếp tục được bổ sung và phát triển song hành với quá trình hiện thực hóa mô hình này trong thực tiễn. Năm 1991, Hội nghị quốc tế về nhà nước pháp quyền được tổ chức tại Benin nhằm làm rõ nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền trong xã hội đương đại. Tại Hội nghị, các nhà nghiên cứu đến từ hơn 40 quốc gia đã thống nhất đưa ra một quan niệm chung: Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị trong đó nhà nước và cá nhân đều phải tuân thủ pháp luật; các quyền và nghĩa vụ của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ; các quy trình và quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống tòa án độc lập. Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng các giá trị con người và bảo đảm cho công dân có khả năng chống lại sự tùy tiện của cơ quan công quyền thông qua các cơ chế kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của pháp luật cũng như các hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong hệ thống pháp luật đó, Hiến pháp giữ vị trí tối cao và phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm các quyền tự do và quyền công dân2.
Từ những quan điểm lý luận trên, có thể khái quát một số đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền như sau:
Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội. Trong nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân được thể hiện tập trung thông qua Hiến pháp. Những nội dung cơ bản của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng duy trì quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Trong đó, các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; nhà nước và công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
Thứ hai, quyền lực nhà nước được tổ chức theo cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Quyền lực nhà nước phải được giới hạn bởi pháp luật, nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền. Mọi thiết chế quyền lực nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm không một cá nhân hay cơ quan nào có thể sử dụng quyền lực một cách tùy tiện.
Thứ ba, nhà nước pháp quyền bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm hai chiều giữa nhà nước và công dân. Quyền và trách nhiệm luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Quyền của chủ thể này đồng thời là trách nhiệm của chủ thể khác và ngược lại. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và bảo vệ quyền của công dân, đồng thời công dân cũng có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
Thứ tư, quyền con người, quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Trong nhà nước pháp quyền, các quyền cơ bản của con người và công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng. Đồng thời, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc "dùng quyền lực để hạn chế quyền lực", nhằm hạn chế sự lạm quyền, vượt quyền, và ngằn ngừa việc xâm phạm các quyền tự do hợp pháp của cá nhân.
Thứ năm, cơ chế bảo hiến là một bộ phận không thể thiếu của nhà nước pháp quyền. Bảo hiến có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và duy trì trật tự pháp lý của quốc gia. Mức độ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp cũng phản ánh mức độ bảo đảm quyền con người, quyền công dân của một quốc gia. Vì vậy, bất kỳ quốc gia nào muốn xây dựng nhà nước pháp quyền đều phải đặc biệt coi trọng việc thiết lập và vận hành hiệu quả cơ chế bảo vệ Hiến pháp.
Năm đặc trưng nêu trên vừa là đặc điểm nhận diện mô hình tổ chức quyền lực trong nhà nước pháp quyền, đồng thời là yêu cầu, tiêu chuẩn trong xây dựng nhà nước pháp quyền. Khi những yêu cầu này được bảo đảm, quyền lực sẽ được thực thi trong khuôn khổ pháp luật, qua đó ngăn chặn nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, hay nói cách khác, quyền lực nhà nước được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ.
2. Vận dụng quan điểm về nhà nước pháp quyền để kiểm soát quyền lực nhà nước theo Văn kiện Đại hội XIV ở Việt Nam hiện nay
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được thế giới ghi nhận, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, được cộng đồng quốc tế ủng hộ. Những kết quả đó gắn liền với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ngày 09/11/2022, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, xác định hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mang tính đồng bộ nhằm huy động sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị cùng với nhân dân đồng sức, đồng lòng xây dựng thành công mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Một trong những quan điểm quan trọng được nhấn mạnh là "Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của Nhân dân"3.
Có thể thấy, quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn đặt vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước làm trọng tâm, trung tâm. Trên cơ sở đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: "Nhận thức rõ hơn về vai trò của kiểm soát quyền lực nhà nước là phương tiện để Nhà nước tự mình giữ vững và phát huy bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là nhiệm vụ quan trọng, kiên trì, lâu dài…"4.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, coi đây là một trong những trụ cột quan trọng của quá trình đổi mới hệ thống chính trị và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, việc kiểm soát quyền lực nhà nước đặt ra yêu cầu ngày càng cao, toàn diện hơn, gắn liền với xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Thứ nhất, kiểm soát quyền lực nhà nước được đặt trong tổng thể yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều này thể hiện bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng về tổ chức quyền lực nhà nước: quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng phải có cơ chế kiểm soát hiệu quả để ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực5.
Thứ hai, kiểm soát quyền lực gắn chặt với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định những kết quả nổi bật của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua đã góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, Đại hội cũng chỉ ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước và người có chức vụ, quyền hạn, đồng thời đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lạm quyền6.
Thứ ba, kiểm soát quyền lực nhà nước cần được thực hiện thông qua cả cơ chế bên trong và cơ chế bên ngoài bộ máy nhà nước. Cơ chế bên trong bao gồm sự kiểm soát giữa các cơ quan trong hệ thống quyền lực nhà nước, giữa các cấp chính quyền và giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị. Cơ chế bên ngoài bao gồm sự giám sát của Nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, của báo chí và truyền thông. Trong điều kiện chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các hình thức giám sát xã hội ngày càng trở nên đa dạng và có tác động lớn đến tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước.
Thứ tư, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số, kiểm soát quyền lực nhà nước cần gắn với việc xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực quản trị quốc gia, hiện đại hóa nền hành chính, xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng các cơ chế kiểm soát quyền lực dựa trên dữ liệu, minh bạch hóa quá trình ra quyết định và tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước.
Từ những định hướng nêu trên có thể thấy rằng lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang tiếp tục được bổ sung và phát triển theo hướng ngày càng toàn diện hơn. Kiểm soát quyền lực không chỉ nhằm phòng, chống tham nhũng mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng một nền quản trị quốc gia hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Một trong những định hướng quan trọng được nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Để cụ thể hóa định hướng này, cần: (1) Hoàn thiện các luật tổ chức bộ máy nhà nước (Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) theo hướng xác định rõ hơn cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các thiết chế; (2) Tăng cường cơ chế giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ và hệ thống tư pháp, đặc biệt là trong các lĩnh vực quản lý ngân sách, chính sách công và quản trị quốc gia; (3) Thiết lập cơ chế giải trình bắt buộc của cơ quan hành pháp đối với Quốc hội và cơ quan dân cử địa phương về việc thực hiện chính sách và sử dụng quyền lực công.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ là một trong những lĩnh vực dễ phát sinh lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực nếu không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Để cụ thể hóa chủ trương này cần: (1) Hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực trong tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển và đánh giá cán bộ; (2) Tăng cường cơ chế công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong công tác cán bộ, nhất là đối với các vị trí lãnh đạo, quản lý; (3) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, bảo đảm việc kê khai tài sản được kiểm tra, xác minh hiệu quả. Qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng hệ thống thể chế để "không thể tham nhũng" thông qua việc kiểm soát quyền lực ngay từ khâu tổ chức cán bộ.
Thứ ba, tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực thông qua giám sát của xã hội và nhân dân. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh vai trò của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội trong kiểm soát quyền lực nhà nước, đây là một trong những đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để phát huy vai trò này cần: (1) Hoàn thiện pháp luật về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Giám sát của nhân dân và Luật Phản biện xã hội để nâng cao chất lượng, hiệu quả của cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên ngoài đối với các thiết chế quyền lực nhà nước; (2) Tăng cường cơ chế tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước; (3) Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong phát hiện và đấu tranh với các hành vi lạm quyền, tham nhũng. Cơ chế giám sát và phản biện xã hội hiệu quả sẽ tạo ra một “vòng kiểm soát quyền lực mềm”, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của bộ máy nhà nước.
Thứ tư, ứng dụng chuyển đổi số để tăng cường minh bạch và kiểm soát quyền lực. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia và xây dựng Chính phủ số. Theo đó, cần: (1) Xây dựng hệ thống quản trị công dựa trên dữ liệu nhằm kiểm soát quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước; (2) Mở rộng các hệ thống công khai dữ liệu nhà nước trong các lĩnh vực như ngân sách, đầu tư công, đấu thầu và quản lý tài sản công; (3) Phát triển các nền tảng giám sát điện tử và kiểm toán số để kịp thời phát hiện các dấu hiệu lạm quyền, tham nhũng.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và trách nhiệm giải trình. Kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ thực sự hiệu quả khi có hệ thống thiết chế kiểm tra và giám sát hoạt động quyền lực hoạt động độc lập, khách quan và chuyên nghiệp. Do đó, cần tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan thanh tra, kiểm toán và cơ quan điều tra về tham nhũng; hoàn thiện cơ chế trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước và người đứng đầu; thiết lập cơ chế xử lý nghiêm minh các hành vi lạm quyền, bảo đảm nguyên tắc: "mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn"7.
Có thể khẳng định, kiểm soát quyền lực nhà nước vừa là yêu cầu tất yếu của nhà nước pháp quyền, vừa là phương thức quan trọng để bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Việc tiếp tục phát triển lý luận và hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
1. Zum Ewigen Frieden, Ein Philosophischer Entwurf: "Königberg, bey Friederich Nicovius, 1795", được in lại trong Die Kritiken, Zweitausendeins, Frankfurt am Main, 2008, p. 1099-1112.
2. http://democratie.francophonie.org.
3. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 102.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 285-286.
6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 98-99.