Hoàn thiện quản lý nhà nước về báo chí trong tình hình mới

CT&PT - Bài viết tổng hợp, phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về báo chí tại Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả nổi bật, hạn chế tồn tại và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

1. Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về báo chí thời gian qua

Trải qua gần bốn thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới, báo chí cách mạng Việt Nam đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng và vai trò trong đời sống xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, báo chí đã thực sự trở thành kênh thông tin quan trọng, diễn đàn của Nhân dân, là phương tiện tuyên truyền hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trên bình diện thể chế, hệ thống văn bản pháp luật về báo chí ngày càng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động báo chí. Luật Báo chí năm 2016 là một dấu mốc quan trọng, quy định rõ về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, đồng thời xác lập trách nhiệm pháp lý cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động báo chí. Trong những năm gần đây, Bộ Thông tin và Truyền thông với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đã chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng dẫn, bổ sung, cụ thể hóa các quy định của Luật Báo chí, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện hiệu quả chức năng quản lý nhà nước đối với báo chí.

Về mặt tổ chức, hệ thống báo chí được quy hoạch, sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại. Theo Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 362/QĐ-TTg, ngày 03/4/2019, các cơ quan báo chí đã từng bước thực hiện sáp nhập, chuyển đổi mô hình tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích. Nhiều cơ quan báo chí đã chuyển sang hoạt động theo mô hình tòa soạn hội tụ, tòa soạn đa phương tiện, ứng dụng công nghệ số vào sản xuất và phát hành nội dung, đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin nhanh chóng, đa dạng của công chúng.

Trong hoạt động chỉ đạo, định hướng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan chủ quản báo chí thường xuyên phối hợp tổ chức giao ban báo chí, ban hành văn bản hướng dẫn, định hướng tuyên truyền, giúp các cơ quan báo chí bám sát nhiệm vụ chính trị, phản ánh kịp thời, đầy đủ các sự kiện quan trọng của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, đồng thời phát hiện, biểu dương các nhân tố tích cực, phê phán các hành vi sai trái, tiêu cực.

Trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, cơ quan quản lý nhà nước đã tăng cường hoạt động giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về báo chí. Năm 2022, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tiến hành 61 cuộc thanh tra, kiểm tra các cơ quan báo chí, xử phạt vi phạm hành chính đối với 32 cơ quan báo chí với tổng số tiền trên 1,8 tỷ đồng, tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động báo chí của 2 cơ quan. Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố xử phạt thêm 102 tổ chức, cá nhân vi phạm. Cùng năm, Bộ tiếp nhận và xử lý 477 đơn thư phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động báo chí, qua đó góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, giữ vững kỷ cương trong lĩnh vực báo chí.

Một kết quả nổi bật trong quản lý nhà nước về báo chí là việc xác lập vai trò, trách nhiệm rõ ràng giữa các chủ thể quản lý. Bộ Thông tin và Truyền thông, với tư cách là cơ quan quản lý ngành, đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, cơ quan chủ quản và chính các cơ quan báo chí để triển khai các chính sách, chiến lược phát triển báo chí phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản báo chí, trách nhiệm của người đứng đầu, cũng như tiêu chí thành lập cơ quan báo chí đã giúp lành mạnh hóa môi trường báo chí, loại bỏ tình trạng “báo hóa” trang thông tin điện tử và mạng xã hội.

Về phương diện phát triển đội ngũ, công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên, biên tập viên được chú trọng. Các cơ sở đào tạo báo chí trong nước, các lớp tập huấn ngắn hạn, chương trình hợp tác quốc tế đã góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ người làm báo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Báo chí hiện nay không chỉ giữ vai trò là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, Nhà nước mà còn là phương tiện phản biện xã hội, là diễn đàn để Nhân dân thể hiện ý chí, nguyện vọng. Trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, báo chí thể hiện vai trò xung kích, chủ động phát hiện, lên tiếng phản ánh những bất cập trong công tác cán bộ, đầu tư công, chi tiêu ngân sách, góp phần tạo sức ép dư luận nhằm thúc đẩy cải cách và minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh cạnh tranh thông tin ngày càng quyết liệt, báo chí nước ta đã dần thích nghi với xu thế chuyển đổi số, xây dựng chiến lược phát triển nội dung đa nền tảng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để phân tích hành vi người dùng, cá nhân hóa nội dung, tăng tính tương tác. Một số cơ quan báo chí chủ lực như Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo điện tử Chính phủ… đã đi đầu trong đổi mới mô hình hoạt động, trở thành hạt nhân dẫn dắt truyền thông chính thống.

Từ thực tiễn hoạt động báo chí và quản lý nhà nước trong thời gian qua có thể khẳng định, báo chí Việt Nam đã và đang thực hiện tốt vai trò là công cụ đắc lực trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch.

2. Hạn chế trong quản lý nhà nước về báo chí ở nước ta trong thời gian qua

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, công tác quản lý nhà nước về báo chí tại Việt Nam vẫn tồn tại những bất cập cần được nhận diện và khắc phục kịp thời. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động báo chí mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, định hướng tư tưởng và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân.

Trước hết, mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí trong một số trường hợp chưa được xác lập rõ ràng, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả. Một số cơ quan chủ quản buông lỏng vai trò quản lý, không thực hiện đầy đủ trách nhiệm chính trị và pháp lý, thậm chí có biểu hiện “khoán trắng” nội dung, tài chính cho cơ quan báo chí trực thuộc. Việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo một số cơ quan báo chí chưa đảm bảo quy trình, tiêu chuẩn, tiêu chí; tình trạng bổ nhiệm cán bộ thiếu chuyên môn nghiệp vụ báo chí vẫn còn xảy ra. Có trường hợp, việc thành lập cơ quan báo chí được thực hiện mà không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về nhân lực, cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính.

Thứ hai, tình trạng vi phạm đạo đức nghề nghiệp báo chí, lợi dụng tư cách nhà báo để trục lợi cá nhân vẫn diễn ra ở một bộ phận nhỏ người làm báo, ảnh hưởng đến uy tín của báo chí cách mạng. Không ít trường hợp phóng viên, cộng tác viên hoạt động không đúng tôn chỉ mục đích, đưa tin sai lệch, giật gân, thiếu kiểm chứng, thậm chí lợi dụng danh nghĩa báo chí để “đánh hội đồng”, tống tiền doanh nghiệp hoặc cá nhân. Một số nhà báo không thực hiện đúng quy trình tác nghiệp, xâm phạm quyền riêng tư, danh dự của công dân, vi phạm pháp luật và đạo đức báo chí.

Thứ ba, hoạt động nội dung báo chí vẫn còn dàn trải, trùng lặp đề tài, thiếu trọng tâm, thiếu tính điều phối ở cấp hệ thống. Sự chênh lệch trong phát hành giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa vẫn còn rõ rệt. Theo thống kê, khoảng 75% báo chí được phát hành tập trung tại đô thị, trong khi chỉ có khoảng 25% đến được các khu vực miền núi, hải đảo, nơi nhu cầu thông tin đáng lẽ cần được ưu tiên hơn. Thực trạng này dẫn đến bất bình đẳng trong tiếp cận thông tin giữa các tầng lớp nhân dân và giữa các vùng địa lý.

Thứ tư, một số cơ quan báo chí chưa tuân thủ đúng quy định pháp luật về lưu chiểu, phát hành, dẫn đến khó khăn trong kiểm soát nội dung trước khi xuất bản. Tình trạng không nộp lưu chiểu, hoặc nộp chậm, không đúng định dạng vẫn diễn ra. Điều này khiến cho cơ quan quản lý nhà nước gặp khó khăn trong việc phát hiện sớm các vi phạm, làm chậm quá trình xử lý và để lại những hệ quả khó khắc phục trong dư luận xã hội.

Thứ năm, bộ máy quản lý báo chí ở một số địa phương còn thiếu đồng bộ, chưa có sự phân công cụ thể giữa các bộ phận, chưa bố trí đội ngũ cán bộ chuyên trách có đủ chuyên môn. Việc thiếu cán bộ có kiến thức nghiệp vụ báo chí, kỹ năng pháp lý và năng lực công nghệ thông tin làm ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát và chỉ đạo hoạt động báo chí tại địa phương. Một số Sở Thông tin và Truyền thông còn lúng túng trong việc xử lý vi phạm hoặc chưa thực hiện đầy đủ quyền hạn theo quy định.

Ngoài ra, hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra báo chí tuy được tăng cường song vẫn còn mang tính hình thức ở một số địa phương. Việc xử lý sai phạm còn chậm, thiếu tính răn đe, đôi khi thiên về giải pháp hành chính mà chưa quan tâm đúng mức đến nguyên nhân gốc rễ, như sự xuống cấp đạo đức nghề nghiệp, sự buông lỏng quản lý từ cơ quan chủ quản hay sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trong môi trường báo chí.

Bên cạnh những vấn đề mang tính nội tại, báo chí Việt Nam còn phải đối mặt với những thách thức từ môi trường truyền thông kỹ thuật số toàn cầu. Sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội và các nền tảng thông tin xuyên biên giới làm xói mòn vai trò định hướng thông tin của báo chí chính thống nếu không được quản lý và điều phối kịp thời. Trong khi đó, việc ứng dụng công nghệ mới trong công tác quản lý nhà nước về báo chí còn ở mức độ hạn chế, chưa phát huy được vai trò của dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), công cụ phân tích nội dung, hệ thống báo cáo tự động… vào giám sát và kiểm soát thông tin.

Tổng thể, những hạn chế trong quản lý nhà nước về báo chí không chỉ phản ánh sự bất cập về thể chế, tổ chức, nhân sự mà còn là biểu hiện của khoảng trống trong phối hợp liên ngành, liên cấp và cơ chế kiểm soát quyền lực báo chí. Việc khắc phục những tồn tại này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan quản lý, cơ quan chủ quản, các tổ chức hội nghề nghiệp, cùng với sự tự giác và chuẩn mực của chính đội ngũ người làm báo.

3. Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về báo chí thời gian tới

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí trong giai đoạn mới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ. Những giải pháp này cần được thiết kế gắn với thực tiễn chuyển đổi số, toàn cầu hóa thông tin và yêu cầu giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong môi trường truyền thông đa nền tảng.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về báo chí.

Luật Báo chí năm 2016 là nền tảng quan trọng cho hoạt động báo chí, tuy nhiên trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, mô hình báo chí mới và hành vi tiêu dùng thông tin thay đổi mạnh mẽ, hệ thống pháp luật cần được điều chỉnh, cập nhật để phù hợp thực tiễn. Cần cụ thể hóa các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của cơ quan chủ quản, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí, quy chuẩn nội dung, trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, cần rà soát, bổ sung chính sách về tài chính báo chí, bảo đảm cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các cơ quan báo chí hoạt động tại vùng khó khăn, các loại hình báo chí không vì lợi nhuận, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy mô hình kinh doanh báo chí hiện đại, minh bạch. Việc quy định rõ cơ chế cấp phép, thu hồi giấy phép, tiêu chí về nhân lực, cơ sở vật chất, điều kiện công nghệ cũng cần được điều chỉnh để bảo đảm chất lượng và tính chuyên nghiệp của báo chí.

Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý báo chí.

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về báo chí cần tinh gọn, rõ chức năng, tránh chồng chéo, tăng cường hiệu lực thực thi. Cần làm rõ vai trò của Bộ Thông tin và Truyền thông, các ban, ngành liên quan và các cơ quan chủ quản báo chí trong quá trình chỉ đạo, quản lý và giám sát hoạt động báo chí. Ở cấp địa phương, cần củng cố hệ thống quản lý nhà nước về báo chí với sự tham gia của các sở, phòng chuyên môn, bảo đảm có đội ngũ chuyên trách, hiểu biết sâu về pháp luật, nghiệp vụ và công nghệ thông tin.

Cùng với đó, cần hoàn thiện khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý báo chí ở trung ương và địa phương. Thiết lập cơ chế đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, cập nhật kiến thức về truyền thông hiện đại, quản trị số, kỹ năng phân tích và phản ứng chính sách truyền thông. Việc quy hoạch và sử dụng cán bộ cần gắn với tiêu chí về đạo đức, bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn và khả năng thích ứng với môi trường truyền thông đa nền tảng.

Thứ ba, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước về báo chí.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nhà nước là yêu cầu tất yếu. Cần đẩy mạnh triển khai hệ thống quản lý nội dung báo chí dựa trên nền tảng dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), công cụ phân tích xu hướng, phát hiện sớm tin giả, sai sự thật, thông tin xuyên tạc. Đồng thời, phát triển hệ thống lưu chiểu điện tử và cấp phép trực tuyến để bảo đảm công khai, minh bạch và kịp thời.

Cần xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương trong giám sát nội dung báo chí, xử lý vi phạm và đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông. Việc tích hợp các nền tảng báo cáo, đánh giá chỉ số tuân thủ pháp luật, chất lượng nội dung, mức độ ảnh hưởng xã hội sẽ giúp công tác quản lý trở nên chủ động và hiệu quả hơn.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được tổ chức thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những cơ quan báo chí có biểu hiện sai phạm, thông tin thiếu kiểm chứng, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội và quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cần xác lập quy trình giám sát chặt chẽ, từ khâu lưu chiểu, phát hành, đến phân tích nội dung sau khi xuất bản.

Cùng với đó, cần xây dựng đội ngũ thanh tra chuyên sâu, hiểu biết pháp luật báo chí, nghiệp vụ truyền thông và am hiểu kỹ thuật số. Tăng cường phối hợp giữa Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan liên quan để nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm. Việc công khai các hành vi vi phạm và biện pháp xử lý sẽ góp phần nâng cao tính răn đe và ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng báo chí.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm quản lý báo chí từ các quốc gia.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin, hợp tác quốc tế về quản lý báo chí là xu thế tất yếu. Việt Nam cần chủ động tham gia các tổ chức quốc tế, diễn đàn chuyên ngành, đồng thời học hỏi kinh nghiệm quản trị báo chí số, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quản lý thông tin xuyên biên giới từ các nước có hệ thống pháp lý và công nghệ phát triển. Việc ký kết các hiệp định song phương, đa phương về trao đổi dữ liệu, xử lý thông tin sai lệch, bảo vệ an ninh mạng và quyền lợi người dùng cũng cần được đẩy mạnh.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của ngoại giao báo chí, chủ động cung cấp thông tin chính thống ra thế giới, phản bác các thông tin sai lệch về Việt Nam, đồng thời lan tỏa hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam ra cộng đồng quốc tế một cách chuyên nghiệp, hiệu quả.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin