1. Thực tế cho thấy, khoa học, công nghệ là động lực then chốt cho tăng trưởng kinh tế thần kỳ của nhiều quốc gia, như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Ấn Độ, Ailen, Hàn Quốc, Singapore. Việc các quốc gia này tận dụng công nghệ để chuyển đổi mô hình kinh tế, thúc đẩy tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu đã chứng minh vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học - kỹ thuật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội toàn cầu.
Với mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, yêu cầu đặt ra là Việt Nam phải coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ chốt, là yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu, đồng thời hiện thực hóa khát vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộc. Tuy nhiên, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số mới chỉ là “phương tiện quan trọng” để đạt tới mục đích. Đột phá, đổi mới sáng tạo mới là yếu tố kỳ diệu để làm nên kỳ tích, bởi đột phá, sáng tạo mới tạo ra bước tiến vượt bậc mang tính cách mạng, mới vượt qua rào cản, giới hạn hiện tại để đạt kết quả vượt trội, nổi bật.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển khoa học, công nghệ, Đảng và Nhà nước ta luôn coi phát triển khoa học, công nghệ là yếu tố quyết định và nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Ngay từ Đại hội IV (năm 1976), khoa học và công nghệ đã được xác định là một cuộc cách mạng, và đến nay, là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ”. Từ đó, xác định mục tiêu tổng quát: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI”. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xác định chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, là cơ hội để Việt Nam “bắt kịp, tiến cùng và vượt lên” trong phát triển kinh tế - xã hội. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ là “đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”1. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới khẳng định phát triển công nghệ sinh học là xu thế của thế giới; là động lực quan trọng để thực hiện quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân. Đồng thời yêu cầu tập trung phát triển, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á. Xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đóng góp tích cực vào GDP cả nước.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, nhận thức rõ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học, công nghệ trong sự phát triển bền vững của quốc gia, ngày 22/12/2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Nghị quyết số 57-NQ/TW nêu quan điểm liên quan đến thúc đẩy hợp tác công - tư, hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học công lập với doanh nghiệp, khối tư nhân; kêu gọi các nguồn lực đầu tư của xã hội, doanh nghiệp cho hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, hạ tầng nghiên cứu phát triển. Đồng thời, đưa ra những quan điểm theo kịp thời đại, bắt kịp xu thế phát triển của thế giới về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số như: Coi dữ liệu là một nguồn tài nguyên mới, nguồn tư liệu sản xuất mới, từ đó đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh; có cơ chế thuê chuyên gia theo mức của thị trường. Cùng với đó, đổi mới cơ chế sở hữu kết quả nghiên cứu từ các đề tài nghiên cứu của ngân sách nhà nước đối với các đơn vị chủ trì để họ tiếp tục đầu tư phát triển, đưa kết quả, ứng dụng phát huy vào thực tiễn, tạo công ăn việc làm, các sản phẩm để từ đó đóng góp cho đất nước, cho ngân sách; thúc đẩy cơ chế quỹ trong các quỹ đầu tư của nhà nước cho khoa học công nghệ; cải cách cơ chế quản lý, triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ, cơ chế tài chính sao cho thông thoáng, nhanh và đạt hiệu quả cao nhất…
Trên cơ sở định hướng của Đảng, Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (kèm theo Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 của Chính phủ), trong đó “xác định nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, hiện thực hóa mục tiêu đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”. Ngày 01/4/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 71/NQ-CP sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó đặc biệt xác định nhiệm vụ xây dựng, triển khai Chương trình phát triển kinh tế số, xã hội số với các mục tiêu được lượng hóa cụ thể; thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
Có thể nói, Nghị quyết số 57-NQ/TW ra đời như một mũi nhọn tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn từ nhận thức chung đến thể chế, từ đó giải phóng sức sáng tạo, sức lao động, tập trung nguồn lực đầu tư của toàn xã hội cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết đưa ra cách tiếp cận mở, vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra; chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ bắt buộc trong giai đoạn hiện nay để phát triển đất nước.
2. Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương của Đảng, sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đất nước.
Khoa học tự nhiên, khoa học - kỹ thuật và công nghệ có nhiều tiến bộ; nhiều công trình nghiên cứu đã có đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các lĩnh vực nông nghiệp, y học, dược học, năng lượng, dầu khí, cơ khí, chế tạo, quân sự, an ninh... Tiềm lực khoa học và công nghệ được tăng cường. Các tổ chức khoa học - công nghệ và đội ngũ cán bộ phát triển cả về số lượng và chất lượng, là lực lượng đi đầu trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Quản lý nhà nước, cơ chế, chính sách về phát triển, quản lý khoa học và công nghệ được tiếp tục đổi mới. Đã hình thành hành lang pháp lý tạo thuận lợi cho việc phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia; hệ sinh thái Khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam tiếp tục phát triển năng động, tạo ra một thế hệ doanh nghiệp mới kinh doanh dựa trên tài sản trí tuệ và đủ năng lực tiếp cận thị trường toàn cầu.
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia được thành lập và đi vào hoạt động bước đầu phát huy hiệu quả. Việt Nam thuộc nhóm đầu các quốc gia ban hành Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia. Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước và khung khổ pháp lý cho công nghệ thông tin, chuyển đổi số tiếp tục hoàn thiện. Hạ tầng số quốc gia được đẩy mạnh xây dựng theo hướng đồng bộ, hiện đại; hạ tầng viễn thông phát triển hiện đại, rộng khắp ngang tầm các nước phát triển. Cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành từng bước được triển khai. Công nghiệp công nghệ số phát triển nhanh, đóng góp ngày càng lớn cho GDP.
Hiện Việt Nam có 423 tổ chức nghiên cứu và phát triển với quy mô khác nhau, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; hiện có gần 900 doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Việt Nam có khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, 208 quỹ đầu tư, 84 vườn ươm, 20 trung tâm khởi nghiệp sáng tạo; hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam đứng thứ 56/100 quốc gia; thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh lọt vào top 200 thành phố khởi nghiệp sáng tạo toàn cầu. Năm 2024, Việt Nam xếp hạng 44/133 về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu và 71/193 quốc gia về Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử2.
Đến hết năm 2024, tỷ trọng kinh tế số trong GDP ước tính 18,3%. Năm 2024, công nghiệp công nghệ số đạt doanh thu 152 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử ước đạt 132 tỷ USD3.
Năm 2023, Việt Nam đã kiến tạo thành công nền tảng phát triển ngành công nghiệp bán dẫn và có những đơn hàng lớn trong năm 2023, 2024, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Triển khai hiệu quả các nhiệm vụ khoa học, công nghệ về phát triển các công nghệ chủ chốt của công nghiệp lần thứ tư như: trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (Big Data), internet kết nối vạn vật (IoT), Robot tiên tiến, In 3D, Công nghệ thực tế ảo (VR)...
Kết quả xếp hạng Chính phủ điện tử của Việt Nam có những thành tựu lớn. Năm 2016, Việt Nam đứng thứ 89 trong tổng số 193 quốc gia4, tăng lên 18 bậc, xếp thứ 71 năm 20245 (so với năm 2022, tăng 15 bậc). Đây là lần đầu tiên, Việt Nam có bước nhảy vọt về kết quả xây dựng Chính phủ điện tử kể từ khi tham gia vào đánh giá xếp hạng năm 2003.
Số lượng dịch vụ công trực tuyến cung cấp cho người dân và doanh nghiệp ở cấp độ 4 ngày càng tăng, từ 1.378 dịch vụ (năm 2016) đã tăng lên 66.271 (năm 2022), tăng 48 lần trong 6 năm. Trong giai đoạn 2015 - 2021, tổng chi quốc gia cho nghiên cứu, phát triển (R&D) tăng gần gấp đôi, từ 18.496 tỷ đồng (năm 2015) lên 36.066 tỷ đồng (năm 2021). Cơ cấu nhân lực nghiên cứu và phát triển của Việt Nam đã có sự gia tăng tương đối ổn định, đặc biệt, tỷ lệ nhà nghiên cứu có trình độ tiến sĩ tăng nhanh, từ khoảng 11% (năm 2015) lên 15,62% (năm 2021). Số lượng nhà nghiên cứu (FTE) tăng từ 62.886 (năm 2015) lên 75.665 (năm 2021)6.
Thị trường khoa học, công nghệ ở Việt Nam đã dần hình thành, phát triển và đạt được một số kết quả khả quan. Việc chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với giá trị xuất khẩu đạt 53,2 tỷ USD vào năm 20227.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém như: Tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm, chưa thực sự trở thành động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội; tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách so với nhóm các nước phát triển; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ số cốt lõi. Hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn chưa đồng bộ với pháp luật về tài chính, ngân sách, đầu tư, đấu thầu…; chưa phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế; chưa có cơ chế đặc thù, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu và phát triển. Đầu tư và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn còn nhiều vướng mắc. Còn thiếu các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học tài năng, nhà khoa học đạt trình độ quốc tế đủ năng lực giải quyết các vấn đề khoa học, công nghệ lớn, các dự án cấp quốc gia quan trọng; thiếu tổng công trình sư có khả năng chủ trì các dự án khoa học, công nghệ quy mô lớn. Thị trường khoa học, công nghệ còn chậm phát triển; thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đẩy mạnh cung - cầu công nghệ; năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp còn yếu.
3. Trong kỷ nguyên mới, để tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Xác định việc ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững gắn với đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh. Đưa các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương; xác định rõ trách nhiệm, đặc biệt là người đứng đầu tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ hai, khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách: hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định pháp luật, cơ chế chính sách, tháo gỡ hết các điểm nghẽn, rào cản để phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, giải phóng tối đa sức sáng tạo, khuyến khích dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tạo không gian cho người quản lý quyết định và chịu trách nhiệm. Tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ công nghệ các dự án đầu tư, kiên quyết không chấp thuận chuyển giao, đầu tư các công nghệ lạc hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường.
Thứ ba, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Ban hành cơ chế thu hút nhân tài nói chung, đặc biệt là nhân tài khoa học, công nghệ, nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế, với các chính sách hấp dẫn về quốc tịch, thu nhập, nhà ở và môi trường làm việc. Thủ tục liên quan phải thông thoáng, hấp dẫn, cạnh tranh với quốc tế. Xây dựng mạng lưới chuyên gia trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phong trào tôn vinh tài năng và sáng tạo, khơi dậy tinh thần yêu nước, cống hiến của các nhà khoa học. Tiếp tục duy trì phong trào học tập suốt đời, cải cách hệ thống giáo dục đào tạo, trọng tâm là sau đại học, đại học, dạy nghề.
Thứ tư, phát triển thị trường khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khuyến khích phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khoa học - công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, vườn ươm sáng tạo; hình thành các tổ chức dịch vụ khoa học - công nghệ. Thúc đẩy gắn kết đổi mới sáng tạo giữa nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức khoa học - công nghệ. Hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm khoa học - công nghệ và các hoạt động xúc tiến, tìm kiếm, môi giới, mua, bán công nghệ. Hỗ trợ thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong các trường đại học, hỗ trợ các viện nghiên cứu, trường đại học thành lập doanh nghiệp để khai thác quyền sở hữu trí tuệ, rút ngắn quá trình ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ với các quốc gia tiên tiến, nhất là trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, bán dẫn và năng lượng tái tạo. Tích cực tham gia xây dựng các chuẩn mực quốc tế, trước mắt là trong khu vực ASEAN, thông qua các sáng kiến như Công ước Hà Nội. Thu hút đầu tư từ các tập đoàn công nghệ lớn, tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, khuyến khích chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực học hỏi, tiếp thu, làm chủ, cải tiến tri thức, công nghệ của thế giới.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 200-201.
2. “Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu”, Cổng Thông tin Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngày 13/01/2025, https://dangbo.mae.gov.vn/phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-la-dot-pha-quan-trong-hang-dau-1479.htm.
3. “Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu”, Tlđd.
4. Xem: UN: “UN E-Government Survey 2016”, https://publicadministration.un.org/egovkb/en-us/reports/un-e-government-survey-2016.
5. Xem: UN: “UN E-Government Survey 2024”, https://publicadministration.un.org/egovkb/en-us/Reports/UN-E-Government-Survey-2024.
6. Bộ Khoa học và Công nghệ: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam năm 2023, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2024, tr. 69-72,
7. Bộ Khoa học và Công nghệ: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam năm 2023, Sđd, tr. 129.