Xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới

CT&PT - Trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, đội ngũ trí thức giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm phát triển bền vững. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; đồng thời đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

1. Vị trí, vai trò và yêu cầu khách quan đối với đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình lịch sử nhân loại, trí thức luôn được xem là tầng lớp tinh hoa, là nguyên khí quốc gia và là lực lượng dẫn dắt sự tiến bộ xã hội1. Trí thức được xem là những người có nền tảng giáo dục bài bản, mang tinh thần phê phán hiện thực và nêu cao giá trị đạo đức xã hội2. Tại Hội nghị Trung ương 7 khóa X, Đảng ta lần đầu tiên đưa ra quan niệm có tính chất định nghĩa về trí thức: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”3.

Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế tri thức toàn cầu, vị thế của đội ngũ trí thức không còn chỉ dừng lại ở vai trò những người lưu giữ và truyền bá tri thức, mà đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh đất nước đang nỗ lực hiện thực hóa khát vọng hùng cường, vươn mình trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, việc xác lập lại vị trí và vai trò của đội ngũ trí thức là một yêu cầu mang tính chiến lược và cấp bách. Trí thức kỷ nguyên mới phải được định nghĩa lại là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt, những người không chỉ có học vấn uyên thâm mà còn sở hữu năng lực số, tư duy toàn cầu và khả năng chuyển hóa tri thức thành các giá trị kinh tế - xã hội cụ thể.

Vai trò hạt nhân của đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên mới trước hết thể hiện ở việc họ chính là động lực chủ yếu của đổi mới sáng tạo và tăng suất lao động tổng hợp (TFP). Trong một nền kinh tế mà giá trị gia tăng chủ yếu đến từ hàm lượng chất xám thay vì tài nguyên thiên nhiên hay lao động giá rẻ, trí thức trở thành lực lượng trực tiếp sản xuất ra các công nghệ cốt lõi, từ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) đến công nghệ sinh học và vật liệu mới. Không có đội ngũ trí thức đủ mạnh về tầm vóc và kỹ năng, quốc gia sẽ mãi kẹt trong bẫy thu nhập trung bình và trở thành vùng trũng của sự gia công công nghệ. Trí thức Việt Nam hiện nay mang trên vai sứ mệnh đưa đất nước đi tắt đón đầu, biến những lợi thế của người đi sau thành sức mạnh đột phá thông qua việc làm chủ và sáng tạo các nền tảng số, đảm bảo chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh vai trò kinh tế, trí thức còn đóng vị trí không thể thay thế trong việc tham mưu chiến lược và phản biện xã hội. Một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại và hiệu quả luôn cần đến sự soi sáng của những luận cứ khoa học sắc bén. Đội ngũ trí thức, với tư duy độc lập và khách quan, là những người giúp Đảng và Nhà nước dự báo các xu thế biến động của thế giới, nhận diện những nguy cơ tiềm ẩn và đề xuất các phương án chính sách tối ưu. Sức mạnh của trí thức nằm ở khả năng nói thật, nói đúng dựa trên bằng chứng khoa học, giúp xã hội định hình những giá trị chuẩn mực và ngăn chặn những quyết sách mang tính chủ quan, duy ý chí. Trong kỷ nguyên mới, khi các vấn đề xã hội ngày càng phức tạp và đa chiều, tiếng nói của trí thức chính là nhịp cầu kết nối giữa lý luận và thực tiễn, tạo ra sự đồng thuận dựa trên trí tuệ và niềm tin.

Yêu cầu khách quan về xây dựng đội ngũ trí thức hiện nay còn xuất phát từ cuộc cạnh tranh quyền lực mềm gay gắt trên trường quốc tế. Trong kỷ nguyên mới, sức mạnh của một dân tộc không chỉ đo bằng vũ khí hay tiềm lực tài chính, mà còn đo bằng số lượng các phát minh, các công trình khoa học tầm cỡ và tầm ảnh hưởng của các chuyên gia đầu đàn. Đội ngũ trí thức chính là những vị đại sứ văn hóa và khoa học, là lực lượng nòng cốt trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam trí tuệ, năng động và nhân văn ra thế giới. Nếu không ưu tiên phát triển đội ngũ này, chúng ta sẽ thua ngay trên sân nhà trong cuộc chiến giành giật nhân tài toàn cầu và rơi vào tình trạng xâm lăng tư tưởng khi không có những trí thức đủ bản lĩnh để bảo vệ và phát triển hệ giá trị văn hóa dân tộc trong môi trường số.

Cuối cùng, yêu cầu về sự chuyển đổi mô hình từ trí thức truyền thống sang trí thức số và trí thức khởi nghiệp là một tất yếu của thời đại. Trí thức trong kỷ nguyên mới không thể chỉ ngồi trong tháp ngà nghiên cứu mà phải dấn thân vào thị trường, biến các đề tài nghiên cứu thành các doanh nghiệp khoa học công nghệ (Spin-off). Sự gắn kết giữa trí và lực, giữa lý luận và thương trường chính là chìa khóa để giải phóng sức sáng tạo. Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có những bước chuyển tư duy đột phá trong việc tạo dựng môi trường tự do học thuật, cơ chế đãi ngộ xứng đáng và không gian dân chủ để trí thức tận hiến. Xây dựng đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên mới, do đó, không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục hay khoa học, mà là một cuộc cách mạng về thể chế quản trị nhân lực chất lượng cao, nhằm tạo ra một thế hệ trí thức Việt Nam có tâm thế của người làm chủ, có tầm nhìn của thế giới và có trái tim của một người yêu nước thiết tha.

Tóm lại, vị trí của trí thức trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là vị trí tiền phong trên mặt trận trí tuệ. Vai trò của họ là tạo ra những giá trị mới, định hình tương lai và bảo vệ phẩm giá dân tộc bằng sức mạnh của tri thức. Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ những yêu cầu khách quan này chính là tiền đề để chúng ta xây dựng những giải pháp đột phá, nhằm quy tụ và phát huy tối đa sức mạnh của đội ngũ trí thức, biến nguồn tài nguyên trí tuệ vô tận này thành động cơ vĩnh cửu đưa Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới.

2. Thực trạng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam: Thành tựu và những điểm nghẽn

Nhìn lại chặng đường đổi mới, đội ngũ trí thức Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng, đóng góp quan trọng vào những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của đất nước. Từ một nền khoa học còn non trẻ và bị bao vây, cấm vận, đến nay chúng ta đã hình thành được một cộng đồng trí thức đông đảo hoạt động trong mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật đến văn hóa, nghệ thuật. Sự lớn mạnh của đội ngũ trí thức không chỉ thể hiện qua các con số thống kê về học hàm, học vị mà còn minh chứng qua việc Việt Nam đang dần khẳng định vị thế trên bản đồ tri thức thế giới. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã có tên trong danh sách những người có tầm ảnh hưởng nhất toàn cầu; các chỉ số về đổi mới sáng tạo (GII) của Việt Nam liên tục được cải thiện, và chúng ta đang chứng kiến một thế hệ trí thức trẻ khởi nghiệp đầy năng động, dám nghĩ, dám làm, đưa công nghệ Việt vươn tầm quốc tế. Đặc biệt, sự kết nối giữa trí thức trong nước và trí thức Việt kiều ngày càng chặt chẽ, tạo thành một mạng lưới trí tuệ toàn cầu hướng về phụng sự Tổ quốc.

Tuy nhiên, khi đặt đội ngũ trí thức vào tâm thế của kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên đòi hỏi sự bứt phá về năng suất lao động và làm chủ công nghệ lõi, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng thực trạng phát triển trí thức vẫn còn nhiều nút thắt và mâu thuẫn gay gắt. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là sự bất hợp lý trong cơ cấu và sự thiếu hụt trầm trọng các chuyên gia đầu đàn, các nhóm nghiên cứu mạnh mang tầm quốc tế. Chúng ta có một đội ngũ đông về số lượng bằng cấp nhưng lại thiếu những tổng công trình sư, những nhà khoa học có khả năng dẫn dắt các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia. Tình trạng thừa lý thuyết, thiếu thực hành vẫn còn phổ biến; năng lực sáng tạo và kỹ năng số của một bộ phận trí thức chưa bắt kịp với tốc độ thay đổi chóng mặt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhiều trí thức vẫn hoạt động theo lối mòn kinh nghiệm, thiếu tư duy hệ thống và khả năng làm việc trong môi trường đa phương quốc tế.

Điểm nghẽn thứ hai, cũng là vấn đề nan giải nhất, chính là cơ chế đãi ngộ và môi trường làm việc chưa thực sự tạo động lực để trí thức tận hiến. Chính sách tiền lương và các chế độ phúc lợi đối với trí thức, đặc biệt là trong khu vực công, vẫn còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đúng giá trị của lao động đặc thù. Khi thu nhập không đảm bảo được cuộc sống tái sản xuất sức lao động trí tuệ, trí thức buộc phải chân trong chân ngoài, dẫn đến sự phân tán tâm trí và suy giảm nhiệt huyết nghiên cứu. Tệ hại hơn, tình trạng chảy máu chất xám không chỉ ra nước ngoài mà còn là từ khu vực công sang khu vực tư, đang làm suy yếu nguồn lực trí tuệ của các viện nghiên cứu và đại học quốc gia. Môi trường làm việc ở nhiều nơi vẫn còn nặng tính hành chính hóa; quy trình thủ tục thanh quyết toán tài chính cho khoa học còn hành trí thức hơn là hỗ trợ họ, khiến các nhà khoa học phải mất quá nhiều thời gian cho các giấy tờ vô bổ thay vì tập trung vào sáng tạo.

Thứ ba, hiệu quả thực tiễn và sự kết nối giữa ba nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) vẫn còn lỏng lẻo. Một thực tế đáng buồn là nhiều công trình nghiên cứu sau khi nghiệm thu xong lại bỏ ngăn kéo, không thể chuyển giao hoặc ứng dụng vào đời sống do thiếu tính thực tiễn hoặc do rào cản về cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Doanh nghiệp Việt Nam, chủ thể chính của nền kinh tế chưa thực sự mặn mà với việc đặt hàng các nhà khoa học trong nước, một phần vì thiếu tin tưởng, một phần vì cơ chế hỗ trợ rủi ro trong nghiên cứu khoa học chưa đủ mạnh. Sự đứt gãy trong chuỗi giá trị từ nghiên cứu đến ứng dụng khiến cho tri thức chưa thể trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như kỳ vọng, làm chậm lại quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của đất nước.

Cuối cùng, vai trò phản biện xã hội của trí thức vẫn chưa được phát huy tối đa. Một bộ phận trí thức vẫn còn tâm lý e ngại, dĩ hòa vi quý, thiếu bản lĩnh trong việc đóng góp những ý kiến phản biện sắc sảo, thẳng thắn đối với các quyết sách của Đảng và Nhà nước. Ngược lại, cơ chế để trí thức tham gia tham mưu, phản biện đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự cầu thị và lắng nghe những ý kiến khác biệt, trái chiều trên tinh thần khoa học. Trong kỷ nguyên mới, nếu không có một không gian dân chủ và tự do học thuật đủ rộng, trí thức sẽ khó có thể phát huy hết tiềm năng sáng tạo và vai trò ngọn hải đăng dẫn đường về mặt tư tưởng. Những hạn chế này không chỉ là rào cản cho sự phát triển của bản thân đội ngũ trí thức mà còn là lực cản cho khát vọng vươn mình của cả dân tộc nếu chúng ta không có những giải pháp đột phá để tháo gỡ ngay từ bây giờ.

3. Giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Để đưa đội ngũ trí thức trở thành lực lượng tiền phong trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chúng ta không thể tiếp tục duy trì những cách làm cũ, mang tính chất chắp vá hay cải cách nửa vời. Thay vào đó, cần một cuộc cách mạng về thể chế, chính sách và tư duy quản trị nguồn nhân lực chất lượng cao. Các giải pháp phải hướng tới việc giải phóng tối đa năng lực sáng tạo, tạo dựng môi trường sống và làm việc lý tưởng để trí thức không chỉ coi nghiên cứu là nghề nghiệp mà còn là sứ mệnh phụng sự quốc gia.

Giải pháp mang tính tiên phong chính là đổi mới tư duy quản lý khoa học, công nghệ theo hướng hiện đại và trọng dụng nhân tài thực chất. Nhà nước cần chuyển từ tư duy quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra, thực hiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng trong nghiên cứu khoa học. Phải xóa bỏ rào cản hành chính rườm rà, cởi trói cho các nhà khoa học khỏi những thủ tục quyết toán tài chính khô cứng vốn đang bòn rút thời gian và tâm trí của họ. Việc đánh giá trí thức phải dựa trên uy tín chuyên môn và đóng góp thực tế cho sự phát triển của đất nước, thay vì chỉ dựa trên bằng cấp, thâm niên hay các tiêu chí hành chính. Cần xây dựng các bộ chỉ số đánh giá năng lực khoa học chuẩn quốc tế, tạo điều kiện cho các tài năng trẻ được thăng tiến vượt cấp và nắm giữ các vị trí chủ chốt trong các chương trình khoa học trọng điểm, không để tình trạng sống lâu lên lão làng làm thui chột sức sáng tạo của giới trẻ.

Thứ hai, xây dựng môi trường tự do sáng tạo, dân chủ và tôn trọng sự khác biệt. Trí tuệ chỉ có thể thăng hoa trong một không gian mà sự phản biện được khuyến khích và những ý tưởng khác biệt được bảo vệ. Đảng và Nhà nước cần tạo ra cơ chế đối thoại thường xuyên, thực chất với đội ngũ trí thức, lắng nghe tiếng nói của họ trong việc hoạch định các quyết sách lớn. Phải xác lập hành lang pháp lý để bảo vệ quyền tự do học thuật, khuyến khích các nhà khoa học dấn thân vào những lĩnh vực mới, lĩnh vực khó, ngay cả khi xác suất thất bại là cao. Đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng nghiên cứu hiện đại, xây dựng các khu đô thị khoa học, các trung tâm đổi mới sáng tạo đạt chuẩn quốc tế tại các thành phố lớn là giải pháp cần thiết để tạo ra hệ sinh thái trí tuệ. Đây sẽ là nơi quy tụ các bộ óc tinh hoa cùng làm việc, trao đổi và tạo ra các đột phá về công nghệ cho đất nước.

Thứ ba, thiết lập cơ chế đãi ngộ đặc thù, vượt trội về vật chất và tinh thần. Để giải quyết bài toán chảy máu chất xám và thu hút nhân tài, cần áp dụng chính sách lương bổng và nhà ở xứng tầm với giá trị mà trí thức đóng góp. Cần có cơ chế thu hút chất xám ngược, mời gọi các nhà khoa học Việt kiều và các chuyên gia quốc tế hàng đầu về làm việc thông qua những ưu đãi về môi trường nghiên cứu và cơ chế quản lý linh hoạt. Việc tôn vinh trí thức không nên chỉ dừng lại ở các danh hiệu hình thức, mà phải được thể hiện qua việc tạo điều kiện để họ có tiếng nói quyết định trong chuyên môn của mình. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ gia đình, con cái của các chuyên gia để họ yên tâm cống hiến lâu dài. Khi trí thức không còn phải trăn trở về gánh nặng cơm áo, họ sẽ dành trọn vẹn trí tuệ cho những công trình mang tầm vóc quốc gia.

Thứ tư, thúc đẩy mô hình gắn kết hữu cơ giữa Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp (Mô hình Ba Nhà). Trong kỷ nguyên số, tri thức phải được chuyển hóa thành hàng hóa và sức mạnh kinh tế. Nhà nước cần đóng vai trò là bà đỡ thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm và chính sách thuế ưu đãi cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Khuyến khích trí thức tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp khoa học công nghệ ngay trong lòng các trường đại học (Spin-off). Việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu phải được coi là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, giúp các nhà khoa học có thêm nguồn thu từ chính trí tuệ của mình, đồng thời giúp doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực cạnh tranh bằng công nghệ nội địa.

Thứ năm, đổi mới giáo dục đại học gắn liền với bồi đắp đạo đức và trách nhiệm xã hội của trí thức. Để xây dựng đội ngũ trí thức kế cận, hệ thống giáo dục phải chuyển mạnh sang mô hình giáo dục khai phóng, chú trọng rèn luyện tư duy hệ thống, năng lực tự học và kỹ năng số. Trí thức trong kỷ nguyên mới không chỉ cần giỏi chuyên môn mà phải có lòng yêu nước thiết tha, liêm chính và bản lĩnh dấn thân vì cộng đồng. Cần xây dựng hệ giá trị chuẩn mực của trí thức Việt Nam hiện đại, lấy phụng sự Tổ quốc làm mục tiêu tối thượng. Việc phát huy vai trò của các hội trí thức, các tổ chức tư vấn độc lập trong việc tham mưu và phản bác các luận điệu sai trái cũng là giải pháp quan trọng để xây dựng một cộng đồng trí thức vững vàng về chính trị, sắc bén về chuyên môn.

Tóm lại, xây dựng đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên mới là một chiến lược đầu tư cho tương lai. Bằng việc thực hiện đồng bộ các giải pháp đột phá về thể chế, môi trường sáng tạo, chính sách đãi ngộ và kết nối thực tiễn, chúng ta sẽ tạo ra một lực lượng trí thức tinh hoa, đủ tầm vóc để dẫn dắt công cuộc đổi mới sáng tạo, đưa Việt Nam bứt phá thành công trên con đường trở thành một quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc. Đội ngũ trí thức chính là ngọn đuốc soi đường, là động cơ mạnh mẽ nhất để dân tộc Việt Nam vươn cao, vươn xa trong kỷ nguyên của trí tuệ và công nghệ.


1. Xem Vũ Trọng Lâm, Đổi mới nhận thức lý luận về đội ngũ trí thức và tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức trong điều kiện phát triển mới của đất nước, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/doi-moi-nhan-thuc-ly-luan-ve-doi-ngu-tri-thuc-va-tiep-tuc-xay-dung-doi-ngu-tri-thuc-trong-dieu-kien-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc

2. Xu Jilin: “Trí thức có chết không?” (tiếng Trung), https://culture.ifeng.com

3. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06-8-2008, của Hội nghị Trung ương 7 khóa X, “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, in trong: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, t. 67, tr. 792 - 793

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin