Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh mới

CT&PT - Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia.

1. Định hướng, quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế tư nhân

Trong những năm qua, Ðảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân (KTTN), phát huy vai trò của doanh nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Kinh tế tư nhân được Đảng ta nhìn nhận là một bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngay từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta chính thức thừa nhận KTTN là một thành phần quan trọng trong đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 18/3/2002, “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển KTTN” với nhiều giải pháp quan trọng khuyến khích phát triển KTTN. Đại hội lần thứ X, Đảng ta chính thức khẳng định KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế. Trong nhiệm kỳ Đại hội XI, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/12/2011 về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN đã đưa ra các mục tiêu cụ thể “Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp”; tỷ trọng đóng góp của khối KTTN vào GDP đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 đến 65%; năng suất lao động tăng khoảng 4 đến 5%/năm trong giai đoạn 2016-2025; trình độ phát triển của DNTN đạt tốp ASEAN-4; nhiều DNTN tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Đại hội Đảng XIII (năm 2021) tiếp tục khẳng định: “KTTN được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm”, “phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực KTTN vào GDP đạt 60 đến 65%”; tổng vốn đầu tư xã hội bình quân đạt 33 đến 35% GDP”. Nghị quyết 45/NQCP ngày 31/3/2023 về Chương trình hành động tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10- NQ/TW đưa ra các mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2025 có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp, trong đó có 60 đến 70 nghìn DN quy mô vừa và lớn; đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu DN; khoảng 35 đến 45% DNTN có hoạt động đổi mới sáng tạo. Hình thành và phát triển nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có tiềm lực, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế”.

2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian qua

Theo Nghị quyết số 68-NQ/TW và bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc (ngày 18/5/2025) triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, với báo cáo của Tổng cục Thống kê, cho thấy: tỷ trọng đóng góp GDP năm 2020 là 42% - 43%, tình hình đến năm 2025 là 45%, mục tiêu năm 2030 là 55% GDP; tương ứng thời gian tỷ trọng đầu tư xã hội là 46%, 50% và mục tiêu năm 2030 là 60%; tương tự số lượng doanh nghiệp tư nhân là 0,8 triệu - 1,25 triệu và mục tiêu năm 2030 là 2 triệu doanh nghiệp1. Từ đó, khẳng định, kinh tế tư nhân của nước ta ngày càng phát triển cả về quy mô, số lượng và chất lượng.

Báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2023 - 2024 của VCCI và số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, khu vực KTTN vẫn rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Đến cuối năm 2024, cả nước có khoảng 940.000 doanh nghiệp tư nhân, tăng 2% so với năm 2023. Phần lớn các doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhỏ và vừa phần lớn có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp khởi nghiệp trở lại đạt 233.400, mức cao nhất trong 10 năm qua. Điều này cho thấy khu vực này năng động và triển vọng như thế nào. Tuy nhiên, trong cùng thời gian đó, khoảng 198.000 doanh nghiệp đã rời khỏi thị trường, chủ yếu là các doanh nghiệp siêu nhỏ và siêu lớn, điều này cho thấy họ không thực sự bền vững. Nếu chỉ tính các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, KTTN chiếm khoảng 20% ​​GDP. Nhưng nếu tính cả các hộ kinh doanh cá thể, tỷ lệ đóng góp được cho là 50 - 51% GDP và kinh tế tư nhân sử dụng tới 82% tổng lực lượng lao động xã hội2.

Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đã hình thành một số doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Một số doanh nghiệp còn mở rộng đầu tư ra nước ngoài và đạt được những thành công nhất định về thương hiệu và vị thế trên thị trường quốc tế. Đội ngũ doanh nhân không ngừng phát triển, thể hiện tinh thần đổi mới, khởi nghiệp và khát vọng vươn lên; đồng thời ngày càng thể hiện rõ trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp lớn như Vingroup, Thaco, Masan, Vinamilk và FPT vẫn tự nhận mình là tốt nhất. Ví dụ, Vingroup đã kiếm được 192.159 tỷ đồng vào năm 2024, tăng 19% so với năm trước. Doanh nghiệp FPT cũng có mức tăng trưởng thu nhập 19,4%, đạt khoảng 63.000 tỷ đồng. Những doanh nghiệp này không chỉ giúp ích rất nhiều cho nền kinh tế địa phương mà còn đang dần mở rộng sang các quốc gia khác. Họ đang đầu tư rất nhiều tiền vào những ý tưởng mới và tăng trưởng dài hạn.

Đặc biệt, KTTN đóng góp quan trọng cho an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động. Giai đoạn 2010 - 2021, mặc dù tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên của khu vực này có xu hướng giảm từ 86,3% (năm 2010) xuống còn 82,6% (năm 2021), nhưng khu vực này vẫn bảo đảm việc làm cho hơn 80% lao động của nền kinh tế.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực, kinh tế tư nhân vẫn bộc lộ một số hạn chế và thách thức. Trước hết, cơ chế khuyến đổi mới sáng tạo còn thiếu và chưa phát huy hiệu quả, khiến doanh nghiệp khó tạo ra sản phẩm cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Công tác cải cách hành chính chưa đạt mục tiêu đề ra, thủ tục hành chính vẫn rườm rà, chồng chéo, chi phí “tuân thủ” và chi phí kinh doanh còn cao. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, có quy mô hạn chế, thiếu vốn, công nghệ và năng lực cạnh tranh; vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn còn mờ nhạt trong khi khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu còn thấp. Đầu tư R&D trong các doanh nghiệp thấp, phụ thuộc công nghệ nhập khẩu, lạc hậu; tốc độ chuyển đổi số chậm, chưa bắt kịp xu thế AI, blockchain3...

3. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh mới

Một là, hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch.

Cần tiếp tục cải cách thể chế kinh tế thị trường theo hướng nhất quán, đồng bộ và có khả năng dự báo cao. Nhà nước phải đảm bảo bình đẳng thực chất giữa các thành phần kinh tế, nhất là trong tiếp cận đất đai, tín dụng, tài nguyên và cơ hội đầu tư.
Đồng thời, cần cắt giảm mạnh thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy trình cấp phép, xây dựng hệ thống pháp luật ổn định, nhất quán, hạn chế tình trạng “giấy phép con”. Việc triển khai chính phủ số, dữ liệu mở sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân.

Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tư nhân.

Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đổi mới công nghệ, khuyến khích đầu tư vào R&D, chuyển đổi số, và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, cần xây dựng các quỹ đổi mới sáng tạo, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân - viện nghiên cứu - trường đại học, hình thành cụm liên kết ngành và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Việc nâng cao năng lực quản trị, tiêu chuẩn hóa sản xuất, và phát triển thương hiệu cũng là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tư nhân vươn tầm khu vực.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực tư nhân.

Một trong những điểm yếu của khu vực tư nhân là thiếu nhân lực có kỹ năng quản trị, tài chính, công nghệ. Vì vậy, cần đổi mới cơ chế đào tạo nhân lực gắn với nhu cầu doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào đào tạo nội bộ.
Nhà nước có thể ưu tiên chính sách thuế, tín dụng hoặc quỹ hỗ trợ đào tạo, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa các trường nghề - doanh nghiệp - hiệp hội ngành hàng. Việc phát triển lực lượng doanh nhân có bản lĩnh, tri thức và đạo đức kinh doanh cũng là nền tảng cho sự phát triển bền vững của khu vực này.

Bốn là, tăng cường tiếp cận vốn, đất đai và hạ tầng.

Doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn khó tiếp cận tín dụng ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp và hồ sơ tài chính chuẩn. Cần phát triển thị trường vốn đa dạng, khuyến khích tín dụng vi mô, quỹ đầu tư mạo hiểm, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cùng với việc minh bạch hóa báo cáo tài chính.
Ngoài ra, cần quy hoạch quỹ đất hợp lý cho doanh nghiệp tư nhân, phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp và logistics hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu.

Năm là, thúc đẩy liên kết công - tư và hội nhập quốc tế.

Kinh tế tư nhân cần được gắn kết chặt chẽ với khu vực nhà nước và FDI thông qua chuỗi cung ứng và mô hình đối tác công - tư (PPP). Nhà nước nên có chính sách ưu tiên doanh nghiệp tư nhân trong đấu thầu, cung ứng dịch vụ công; đồng thời, hỗ trợ họ tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) để mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn quốc tế.
Việc hội nhập sâu rộng không chỉ tạo áp lực cải cách mà còn mở ra cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân khẳng định vị thế trên trường quốc tế.


1. Tổng cục Thống kê: Báo cáo thường niên về năng suất lao động các khu vực kinh tế, Hà Nội, 2024.
2. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam, 2023 - 2024, Hà Nội, 2024.

3. Ngân hàng Thế giới: Doing Business in Vietnam, 2021.

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin