1. Vai trò của tiêu dùng xanh đối với quá trình xây dựng nền kinh tế xanh ở Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi mô hình phát triển hướng tới tăng trưởng xanh, tiêu dùng xanh không chỉ là biểu hiện của một lối sống bền vững mà còn là một động lực chiến lược thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế xanh. Ở Việt Nam, vai trò của tiêu dùng xanh ngày càng được nhìn nhận rõ nét hơn trong mối quan hệ biện chứng với sản xuất xanh, đổi mới công nghệ và điều chỉnh chính sách kinh tế - xã hội. Thúc đẩy tiêu dùng xanh chính là tạo ra sức cầu mới cho các sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường, từ đó tái cấu trúc toàn bộ hệ thống sản xuất và thương mại theo hướng hiệu quả, tiết kiệm và phát thải thấp.
Tiêu dùng xanh - động lực nội sinh thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Tiêu dùng xanh giữ vị trí trung tâm trong mô hình tăng trưởng xanh, vì chính người tiêu dùng là tác nhân quyết định hướng đi của thị trường. Khi hành vi tiêu dùng chuyển dịch từ “mua rẻ - dùng nhanh” sang “mua bền - dùng xanh”, doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh phương thức sản xuất, cải tiến quy trình công nghệ, tăng cường sử dụng năng lượng sạch, nguyên liệu tái chế và thân thiện môi trường. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP, 2023), trên 60% quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh ở các nước đang phát triển bắt nguồn từ thay đổi hành vi tiêu dùng chứ không chỉ từ chính sách nhà nước1.
Tại Việt Nam, sự gia tăng nhận thức về tiêu dùng bền vững đang tạo nên “làn sóng xanh” trong nhiều lĩnh vực: nông nghiệp hữu cơ, sản phẩm thân thiện môi trường, du lịch sinh thái, hay thời trang tái chế. Các chiến dịch “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam xanh” hay “Sống xanh cùng cộng đồng” đã góp phần hình thành thói quen tiêu dùng mới, khuyến khích lựa chọn sản phẩm có nhãn sinh thái, tiết kiệm năng lượng hoặc được chứng nhận giảm phát thải. Từ góc độ kinh tế, tiêu dùng xanh làm tăng cầu đối với hàng hóa “carbon thấp”, tạo thị trường cho các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch - đây chính là nền tảng cho tăng trưởng xanh lấy thị trường làm trung tâm.
Tiêu dùng xanh - nhân tố định hướng chuyển đổi mô hình sản xuất.
Khi người tiêu dùng ưu tiên sản phẩm xanh, các doanh nghiệp phải chuyển đổi mô hình sản xuất để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Như vậy, tiêu dùng xanh đóng vai trò định hướng, dẫn dắt quá trình sản xuất xanh và chuỗi cung ứng bền vững. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, dệt may, điện tử, đã bắt đầu áp dụng các tiêu chuẩn “xanh hóa” để giữ vững thị phần xuất khẩu sang EU, Mỹ, Nhật Bản - nơi yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chứng nhận môi trường ngày càng khắt khe.
Tiêu dùng xanh không chỉ tạo áp lực đổi mới mà còn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, tái chế, và mô hình kinh tế tuần hoàn. Quá trình này tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ: từ cải tiến kỹ thuật, thay đổi cơ cấu ngành, đến nâng cao năng suất và sức cạnh tranh quốc gia.
Đặc biệt, tiêu dùng xanh góp phần giảm chi phí xã hội dài hạn thông qua việc giảm ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, từ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn trong toàn nền kinh tế. Ngân hàng Thế giới ước tính nếu Việt Nam áp dụng mô hình sản xuất - tiêu dùng bền vững đồng bộ, GDP có thể tăng thêm 4 - 5% vào năm 2030 nhờ cắt giảm chi phí xử lý ô nhiễm và tận dụng tốt nguồn tài nguyên tái tạo2.
Tiêu dùng xanh - công cụ quan trọng trong bảo vệ môi trường và giảm phát thải.
Tiêu dùng xanh góp phần trực tiếp vào việc giảm áp lực lên môi trường thông qua hạn chế rác thải, giảm phát thải khí nhà kính và tăng khả năng tái chế. Nếu hành vi tiêu dùng được điều chỉnh theo hướng ưu tiên sản phẩm thân thiện môi trường, sử dụng bao bì sinh học, mua sắm tiết kiệm, lượng rác thải có thể giảm đáng kể, qua đó giúp thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 theo cam kết tại COP26.
Bên cạnh đó, tiêu dùng xanh còn đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi văn hóa tiêu dùng của xã hội. Khi người tiêu dùng ý thức được giá trị môi trường, họ sẽ trở thành “người giám sát” tự nhiên đối với hoạt động của doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp phải công khai thông tin môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) và tuân thủ quy định về phát thải. Điều này giúp hình thành cơ chế thị trường - xã hội trong quản lý môi trường, giảm gánh nặng cho bộ máy nhà nước.
Tiêu dùng xanh - cầu nối giữa chính sách và hành động cộng đồng.
Một nền kinh tế xanh không thể được xây dựng chỉ bằng các văn bản hay chính sách vĩ mô, mà cần có sự tham gia tự nguyện, chủ động của cộng đồng dân cư. Tiêu dùng xanh chính là “cầu nối” giữa ý chí chính trị của Nhà nước và hành vi thực tế của người dân. Các chính sách tăng trưởng xanh, nếu được cụ thể hóa thông qua việc khuyến khích tiêu dùng xanh, như ưu đãi thuế cho hàng hóa thân thiện môi trường, chương trình nhãn sinh thái, hay giáo dục tiêu dùng bền vững sẽ lan tỏa giá trị môi trường đến từng hộ gia đình, từng người tiêu dùng.
Tiêu dùng xanh - nền tảng cho phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tiêu dùng xanh gắn bó chặt chẽ với mô hình kinh tế tuần hoàn, trong đó sản phẩm sau khi sử dụng được thu hồi, tái chế, tái sử dụng để giảm thiểu chất thải và khai thác tài nguyên mới. Khi người tiêu dùng chủ động phân loại rác, lựa chọn sản phẩm có khả năng tái chế hoặc sử dụng lâu dài, họ đã trực tiếp tham gia vào chuỗi tuần hoàn của nền kinh tế. Việt Nam hiện đang triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, trong đó xác định tiêu dùng xanh là một trong những trụ cột quan trọng để thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tuần hoàn và carbon thấp.
Do vậy, có thể khẳng định: tiêu dùng xanh không chỉ là hệ quả của phát triển mà còn là nguyên nhân tạo nên sự phát triển bền vững, là động lực nội sinh của nền kinh tế xanh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển “thịnh vượng - công bằng - xanh và bền vững” mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.
2. Thực trạng tiêu dùng xanh ở Việt Nam
Về chủ trương chính sách
Trong những năm qua, với chủ trương phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ môi trường, việc khuyến khích, thúc đẩy tiêu dùng xanh đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 889/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030. Đặc biệt, nhấn mạnh việc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững trên nền tảng đổi mới và phát triển các mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững hướng đến phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam. Bên cạnh đó, tháng 6/2023, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng (sửa đổi), trong đó bổ sung quy định, chính sách về thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững...
Về thực hiện tiêu dùng xanh
Khảo sát của Nielsen IQ (2023) cho thấy, 49% người tiêu dùng mang túi riêng, sử dụng túi tái chế; 47% chỉ mua đồ cần thiết, tránh lãng phí; 45% người tiêu dùng có ý thức phân loại rác tái chế và tiết kiệm điện. Nghiên cứu cũng chỉ rõ, 38% người tiêu dùng đánh giá sáng kiến và hành động thiết thực của DN nhằm cải thiện môi trường là cực kỳ quan trọng, cho thấy sự kỳ vọng của người tiêu dùng với DN về những sáng kiến và hành động thiết thực nhằm cải thiện môi trường.
Theo khảo sát của Công ty Nghiên cứu thị trường Intage Việt Nam với người tiêu dùng Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh mới đây, 95% người tiêu dùng đã có ý thức về bảo vệ môi trường, 73% sử dụng thực phẩm được sản xuất hữu cơ và thuần tự nhiên; 44% hạn chế sử dụng túi nhựa… Đáng lưu ý, gần 90% người tiêu dùng ủng hộ những DN kinh doanh đạo đức và có trách nhiệm xã hội; 43% người tiêu dùng có ấn tượng tốt về nhãn hàng, DN thân thiện với môi trường...

Thực tế tại Việt Nam, thông qua các kênh phân phối, nhiều nhà bán lẻ đã và đang góp phần lan tỏa và thực hiện các chính sách phát triển xanh, bền vững của Chính phủ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Để khuyến khích khách hàng sử dụng túi bảo vệ môi trường, Aeon Việt Nam đã triển khai dịch vụ cho khách hàng mượn túi môi trường khi mua sắm với giá chỉ 5.000 đồng/túi. Việc cho thuê túi sẽ góp phần giúp người dân “ghi nhớ” việc mang túi khi đi mua sắm, chi phí thuê túi sẽ được Aeon hoàn trả lại khi khách hàng mang túi trả tại quầy. Từ tháng 4/2020 đến tháng 11/2023, Aeon Việt Nam ghi nhận giảm đến hơn 11 triệu túi phân hủy sinh học (tương đương hơn 3,6 triệu giao dịch) trên toàn hệ thống. Hay như Central Retail đã thí điểm thành công chương trình “Ngày không túi ni-lông” (năm 2022) và “Mang theo túi riêng đi chợ” (năm 2023) tại các siêu thị Tops Market trên toàn quốc - tiến tới hoàn toàn chấm dứt cung cấp túi ni-lông ở các siêu thị Tops Market trong thời gian tới. Toàn bộ hệ thống siêu thị của Central Retail đã sử dụng túi ni-lông thân thiện với môi trường, đồng thời khuyến khích khách hàng sử dụng túi sử dụng nhiều lần với giá không lợi nhuận... Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Saigon Co.op cho biết, hơn 14 năm qua doanh nghiệp đã đồng hành trong nhiều chiến dịch phát triển tiêu dùng xanh, hưởng ứng chủ trương tiết kiệm bao bì với khẩu hiệu “tiết kiệm bao bì là bảo vệ môi trường”, hay chương trình “ngày không túi nilon”... Tại Hòa Bình tính đến năm 2023, Tỉnh đã hỗ trợ giảm 60% tỉ lệ sử dụng bao bì khó phân hủy tại các chợ dân sinh và các trung tâm thương mại, siêu thị; hỗ trợ các đối tượng là cơ sở, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ và vừa để hình thành chuỗi sản xuất sạch cũng như mối liên kết chặt chẽ là sản xuất xanh - phân phối xanh - tiêu dùng xanh...

Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay tiêu dùng xanh cũng đang đối mặt với không ít rào cản, thách thức:
- Hiện nay ở Việt Nam, người tiêu dùng đã dành ra sự quan tâm nhất định tới các sản phẩm thân thiện với môi trường, nhưng nhu cầu sử dụng các sản phẩm này chưa phải quá lớn. Bên cạnh đó, giá cả vẫn là yếu tố chi phối hàng đầu, với mức giá thành phẩm các nguyên liệu thân thiện môi trường hiện đang chênh lệch tới 30% so với bao bì thông thường, sẽ là rào cản lớn trong việc thay đổi hành vi và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
- Ý thức trách nhiệm đối với vấn đề bảo vệ môi trường từ phía DN còn hạn chế khi quan tâm nhiều hơn đến lợi nhuận. Trong khi đó, người dân vẫn thường quan tâm đến tính tiện lợi khi sử dụng hơn là lợi ích bảo vệ môi trường nên nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm xanh còn hạn chế. Việc tiêu dùng các hàng hóa được dán nhãn sinh thái cũng chủ yếu tập trung ở người có trình độ học vấn cao, thu nhập tốt, am hiểu, cũng như quan tâm nhiều hơn đến vấn đề thân thiện với môi trường hơn so với các nhóm khác.
- Các chính sách hướng đến hỗ trợ phát triển tiêu dùng xanh còn thiếu đồng bộ. Chính sách hỗ trợ chưa thu hút được các DN đầu tư thay đổi dây chuyền công nghệ, chưa tạo ra được sự chuyển biến đáng kể để DN đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất. Các quy định chính sách hỗ trợ thường tập trung cho khâu sản xuất, chưa hướng mạnh tới người tiêu dùng.
- Việc đầu tư, chi phí ban đầu lớn đã tác động rất nhiều đến việc tiếp cận công nghệ xanh. Chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm xanh thường lớn hơn nhiều so với loại hàng hóa tương tự, nên giá thành cao và không có khả năng cạnh tranh trên thị trường (mức giá trung bình của các hàng hóa xanh thường cao hơn 20 - 40% so với các loại hàng hóa tiêu dùng cùng loại).
- Việc kiểm định các hàng hóa xanh, hàng hóa sạch, hàng hóa đạt các tiêu chuẩn chứng chỉ cho các DN chưa được thực hiện nghiêm túc. Tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng vẫn còn lưu thông trên thị trường, làm giảm niềm tin của người tiêu dùng đối với các loại sản phẩm xanh.
3. Giải pháp thúc đẩy tiêu dùng xanh nhằm xây dựng nền kinh tế xanh ở Việt Nam
Thúc đẩy tiêu dùng xanh là nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm hướng tới mô hình phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải ròng về “0”. Để tiêu dùng xanh trở thành động lực bền vững cho nền kinh tế xanh ở Việt Nam, cần triển khai đồng bộ hệ thống giải pháp từ thể chế, chính sách đến công nghệ, giáo dục và truyền thông xã hội.
Một là, hoàn thiện thể chế và chính sách khuyến khích tiêu dùng xanh.
Trước hết, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để tạo nền tảng cho sản xuất và tiêu dùng bền vững. Hiện nay, Việt Nam đã có những văn bản quan trọng như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh , Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030 và Luật Bảo vệ môi trường quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, người tiêu dùng và cơ quan quản lý. Tuy nhiên, các chính sách này vẫn còn phân tán, thiếu cơ chế phối hợp và thiếu công cụ kinh tế cụ thể để khuyến khích tiêu dùng xanh.
Do đó, cần xây dựng Luật Tiêu dùng bền vững hoặc Nghị định về tiêu dùng xanh, quy định rõ tiêu chí, tiêu chuẩn và trách nhiệm của các bên liên quan. Đồng thời, áp dụng chính sách ưu đãi thuế, tín dụng, và đấu thầu xanh cho doanh nghiệp sản xuất hoặc phân phối sản phẩm thân thiện môi trường; miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với thiết bị, công nghệ phục vụ sản xuất xanh; giảm thuế giá trị gia tăng cho hàng hóa được chứng nhận nhãn sinh thái.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường vai trò điều tiết của chính sách công thông qua các công cụ kinh tế - môi trường như thuế carbon, phí xả thải, hoặc hệ thống hạn ngạch phát thải, từ đó điều chỉnh hành vi tiêu dùng theo hướng tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Chính sách công nên khuyến khích các chương trình “mua sắm công xanh”, trong đó các cơ quan nhà nước ưu tiên mua sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường, tạo thị trường mẫu mực để lan tỏa ra khu vực tư nhân.
Hai là, nâng cao nhận thức xã hội và giáo dục tiêu dùng xanh.
Một trong những rào cản lớn nhất của tiêu dùng xanh ở Việt Nam hiện nay là nhận thức xã hội chưa đồng đều, đặc biệt ở khu vực nông thôn và nhóm thu nhập thấp. Vì vậy, nâng cao nhận thức, giáo dục lối sống xanh và tiêu dùng có trách nhiệm cần trở thành nhiệm vụ xuyên suốt của hệ thống giáo dục, truyền thông và tổ chức xã hội.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần lồng ghép nội dung về bảo vệ môi trường, tiêu dùng bền vững, và phát triển xanh vào chương trình giảng dạy ở các cấp học, nhất là trong giáo dục công dân và kinh tế học. Các trường đại học, cao đẳng nên đưa nội dung “kinh tế xanh” và “quản lý tiêu dùng bền vững” vào chương trình đào tạo, góp phần hình thành đội ngũ tri thức và doanh nhân xanh cho tương lai.
Song song với đó, cần phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, báo chí, mạng xã hội và tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ trong việc lan tỏa giá trị của lối sống xanh. Các chiến dịch như “Nói không với rác thải nhựa”, “Sống xanh mỗi ngày”, “Tiêu dùng vì Trái đất” cần được triển khai thường xuyên, có chiều sâu, kết hợp giữa truyền thông trực quan và hoạt động cộng đồng.
Ba là, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và thị trường hàng hóa xanh.
Tiêu dùng xanh chỉ có thể phát triển khi thị trường có đủ hàng hóa và dịch vụ xanh. Vì vậy, cần xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp xanh, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng thân thiện môi trường.
Nhà nước nên thúc đẩy chương trình chứng nhận và dán nhãn sinh thái quốc gia, tạo cơ sở để người tiêu dùng nhận diện sản phẩm xanh trên thị trường.
Ngoài ra, cần tạo cơ chế khuyến khích tài chính cho doanh nghiệp xanh: ưu tiên vay vốn tín dụng xanh từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội hoặc Quỹ Bảo vệ môi trường; khuyến khích các ngân hàng thương mại thiết lập “Green Finance Hub” để cung cấp sản phẩm tài chính thân thiện môi trường. Việc thúc đẩy thị trường vốn xanh (green bonds, ESG funds) cũng là công cụ hữu hiệu để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ sạch và sản xuất hàng hóa xanh.
Bốn là, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong tiêu dùng xanh.
Khoa học và công nghệ là yếu tố then chốt để giảm chi phí sản xuất và mở rộng quy mô hàng hóa xanh. Do đó, Việt Nam cần tăng cường đầu tư nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xanh, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn (Cleaner Production), hệ thống quản lý môi trường ISO 14001, và chuỗi cung ứng tuần hoàn.
Đồng thời, cần tận dụng chuyển đổi số để thúc đẩy tiêu dùng xanh. Các nền tảng thương mại điện tử có thể tích hợp bộ lọc “sản phẩm xanh”, cung cấp thông tin truy xuất nguồn gốc, đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA), giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận biết hàng hóa thân thiện môi trường. Việc sử dụng blockchain trong truy xuất nguồn gốc, AI trong phân tích hành vi tiêu dùng xanh, hoặc ứng dụng di động để khuyến khích tái chế và tiết kiệm năng lượng, sẽ làm gia tăng tính minh bạch và hiệu quả của thị trường.
Chính phủ cần hỗ trợ phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu dùng xanh, kết nối các doanh nghiệp, cơ quan quản lý và người tiêu dùng. Điều này giúp xây dựng “hệ sinh thái số về tiêu dùng bền vững”, đồng thời tạo điều kiện cho công tác thống kê, đánh giá, hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu thực tế.
Năm là, phát huy vai trò của khu vực công và doanh nghiệp nhà nước trong tiên phong tiêu dùng xanh.
Các cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính, doanh nghiệp nhà nước cần đi đầu trong thực hiện mua sắm công xanh, sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường trong hoạt động thường ngày, từ văn phòng phẩm, thiết bị tiết kiệm điện, đến phương tiện giao thông công cộng.
Đối với doanh nghiệp nhà nước - lực lượng nòng cốt của nền kinh tế, cần đưa chỉ tiêu xanh hóa sản xuất và tiêu dùng nội bộ vào đánh giá hiệu quả hoạt động; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp công khai báo cáo phát triển bền vững, ESG và lộ trình giảm phát thải. Việc thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn này sẽ góp phần hình thành văn hóa quản trị xanh, trở thành hình mẫu cho khu vực tư nhân học hỏi và nhân rộng.
Sáu là, thúc đẩy hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm toàn cầu.
Việt Nam cần tận dụng tối đa nguồn lực quốc tế về tài chính xanh, công nghệ xanh và giáo dục tiêu dùng bền vững. Thông qua các cơ chế hợp tác như Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, Chương trình Hỗ trợ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), Sáng kiến Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI), và các quỹ như Green Climate Fund (GCF), Việt Nam có thể nhận được hỗ trợ kỹ thuật, vốn vay ưu đãi, và chuyển giao công nghệ xanh.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển chuỗi cung ứng xanh, xây dựng cơ sở tái chế hiện đại, và phát triển hạ tầng năng lượng sạch phục vụ tiêu dùng xanh. Việt Nam cũng có thể học tập mô hình “Eco-Label School” của Hàn Quốc, “Sustainable Consumption Network” của Thụy Điển, hay chương trình “Green Deal” của Liên minh châu Âu để hoàn thiện chính sách trong nước.
Bảy là, xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá và truyền thông chính sách tiêu dùng xanh.
Cần xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá thường xuyên về kết quả thực hiện tiêu dùng xanh. Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính nên thiết lập bộ chỉ tiêu thống kê quốc gia về tiêu dùng xanh, bao gồm tỷ lệ hàng hóa có nhãn sinh thái, tỷ lệ người dân sử dụng năng lượng tái tạo, mức độ phân loại rác tại nguồn, v.v.
Song song, cần công bố Báo cáo quốc gia về tiêu dùng xanh hằng năm, như một công cụ truyền thông chính sách công khai, minh bạch, qua đó khuyến khích doanh nghiệp và người dân tham gia nhiều hơn. Việc lồng ghép báo cáo này với Chiến lược tăng trưởng xanh và Báo cáo phát triển bền vững quốc gia sẽ giúp Nhà nước có cơ sở điều chỉnh kịp thời, đồng thời nâng cao trách nhiệm xã hội của toàn dân.
Thúc đẩy tiêu dùng xanh không chỉ là việc thay đổi hành vi cá nhân mà là một quá trình chuyển đổi hệ thống kinh tế - xã hội. Đó là sự kết hợp giữa thể chế tiến bộ, công nghệ đổi mới, giáo dục sâu rộng và trách nhiệm cộng đồng. Khi tiêu dùng xanh được định hình như một giá trị xã hội cốt lõi, Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc để xây dựng nền kinh tế xanh - kinh tế của tương lai, nơi tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
1. United Nations Development Programme (UNDP): Vietnam Towards a Green Economy: 2024 Report, Hà Nội, UNDP Vietnam.
2. World Bank: Vietnam Country Climate and Development Report, Washington, DC: World Bank.