1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển khoa học và công nghệ
Sau hơn 10 năm đất nước thống nhất, nền kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), mở ra bước ngoặt mới trong sự nghiệp cách mạng dân tộc. Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có khoa học - kỹ thuật.
Đại hội khẳng định: “Phải làm cho khoa học, kỹ thuật thật sự trở thành một động lực to lớn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”1; phải xác định rõ “vị trí then chốt của cách mạng khoa học - kỹ thuật trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở những việc đã làm được, cần xúc tiến và hoàn thành việc xác định chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật, làm luận cứ khoa học cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định hướng cho công tác khoa học, kỹ thuật”2. Sự lựa chọn về phương hướng khoa học, kỹ thuật phải thống nhất với sự lựa chọn về mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm tới “phải lựa chọn và tổ chức áp dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kỹ thuật thích hợp, nhằm trước hết phục vụ ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”3.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, đưa ra định hướng lớn, trong đó nhấn mạnh: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế. Các chiến lược khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Sử dụng có hiệu quả và tăng nhanh tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật đi đôi với phát triển giáo dục và văn hóa, nâng cao dân trí”4.
Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh quan điểm phát triển khoa học công nghệ cần tập trung vào các phương hướng chủ yếu sau: “Vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ... làm chỗ dựa khoa học cho việc triển khai thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định phương hướng, bước đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng pháp luật, các chính sách, kế hoạch và chương trình kinh tế - xã hội”5. Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa hoạc tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng - an ninh. Chú trọng đúng mức nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, làm chỗ dựa lâu bền cho nghiên cứu ứng dụng, triển khai và tiếp nhận các thành tựu mới về khoa học và công nghệ. Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Xây dựng và thực hiện tốt hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ.
Tại Đại hội IX (năm 2001), bên cạnh việc nhận định thế kỷ XX là thế kỷ khoa học và công nghệ phát triển nhanh chưa từng thấy, với giá trị sản xuất vật chất tăng hàng chục lần so với thế kỷ trước, Đại hội còn đưa ra nhận định trong thế kỷ XXI khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Từ đó, Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ của khoa học và công nghệ: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”6. Khoa học - công nghệ phải hướng vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, ứng dụng một cách sáng tạo những công nghệ nhập khẩu, từng bước tạo ra công nghệ mới. Đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa). Tạo thị trường cho khoa học và công nghệ, đổi mới cơ chế tài chính nhằm khuyến khích sáng tạo; gắn ứng dụng khoa học và công nghệ với sản xuất, kinh doanh, quản lý, dịch vụ. Có chính sách khuyến khích và buộc các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu đổi mới công nghệ. Coi trọng nghiên cứu cơ bản trong khoa học. Tăng đầu tư của ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Đại hội X của Đảng (năm 2006) đề ra mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước 5 năm 2006 - 2010, trong đó có nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ. Phấn đấu đến năm 2010, năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng. Phát triển khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ, tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt là các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và thế mạnh. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng Nhà nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu vực và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm. Đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ, huy động các thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nâng cao chất lượng và khả năng thương mại của các sản phẩm khoa học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp. Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học giỏi ở trong nước và ngoài nước, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Trên cơ sở kết quả 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định phương hướng: phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng. Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu: nâng cao năng lực khoa học, công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ gắn với phát triển văn hóa và nâng cao dân trí. Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới. Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”7.
Tiếp đó, tại Đại hội XII (năm 2016), bên cạnh việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, Đảng ta xác định mục tiêu tổng quát là đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới”8.
Tại Đại hội XII, nội dung “phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” được trình bày độc lập, tương tự như các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội..., trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những nội dung cốt lõi của các nghị quyết Trung ương khóa XI, trong đó quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo xuyên suốt, bao trùm là: Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội.
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc quan điểm của các kỳ đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là: “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”9. Đồng thời xác định nhiệm vụ “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị”10. Đồng thời, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ. Phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, phù hợp với điều kiện, nguồn lực của đất nước. Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ.
Hiểu rõ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định sự phát triển của các quốc gia hiện nay; đồng thời, là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó yêu cầu: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phát quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới. Theo đó, Nghị quyết đề ra 7 giải pháp nhằm tiếp tục triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng yêu cầu “đẩy mạnh đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng cường chủ động hội nhập quốc tế kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm”11. Để hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo đó, Đảng đề ra phương hướng, nhiệm vụ về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó yêu cầu: “Khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế... Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đạt trình độ tiên tiến... Tạo môi trường thuận lợi để khu vực tư nhân tin tưởng, sẵn sáng tham gia đầu tư, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”12.
2. Một số giải pháp quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển khoa học và công nghệ trong kỷ nguyên mới
Quan điểm của Đảng về phát triển khoa học và công nghệ từ khi tiến hành đổi mới đến nay được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước và quốc tế ở từng giai đoạn cụ thể. Những quan điểm về phát triển khoa học và công nghệ là sự kết tinh trí tuệ, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo những thành tựu, kinh nghiệm của thế giới. Trong thời gian tới, để đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, cần tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra qua các nhiệm kỳ đại hội, đồng thời thực hiện các giải pháp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và nguyện vọng của nhân dân.
Một là, nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân và các tổ chức trong hệ thống chính trị về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của phát triển khoa học và công nghệ.
Mỗi cá nhân, tổ chức phải thay đổi tư duy, nhận thức, coi phát triển khoa học và công nghệ là điều kiện, yêu cầu tất yếu hiện nay, góp phần quyết định sự phát triển nền kinh tế của đất nước.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học và công nghệ.
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học và công nghệ là nhân tố quan trọng, quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới trong gần 40 năm qua, đồng thời góp phần quyết định thành công của công cuộc chuyển đổi số hiện nay ở nước ta. Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học và công nghệ cần được thống nhất từ Trung ương đến cấp ủy đảng ở cơ sở, phát huy vai trò lãnh đạo, tư duy đổi mới, sáng tạo của mỗi cấp ủy. Đảng lãnh đạo các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cùng chung tay thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trực tiếp là Bộ Khoa học và Công nghệ; chủ động tham mưu, xây dựng các đề án, chương trình, kế hoạch đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ. Đảng lãnh đạo các cơ quan liên quan trong phối hợp thực hiện phương hướng, nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ, bảo đảm ứng dụng phù hợp với từng cơ quan. Hoàn thiện cơ chế quản lý, thiết chế tổ chức, khung pháp lý về phát triển khoa học và công nghệ. Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót làm ảnh hưởng đến mục tiêu, nội dung, tiến độ, kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ.
Ba là, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
Đảng, Chính phủ cần có chính sách đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực (lương, thưởng, điều kiện về nơi ở và môi trường làm việc) để họ yên tâm công tác, cống hiến. Tiếp tục liên kết, phối hợp và khuyến khích sự tham gia, gắn bó của các chuyên gia nước ngoài cho sự phát triển của đất nước ta. Đổi mới trong tư duy giáo dục, đào tạo hiện nay. Giáo dục khoa học và công nghệ phải gắn với các sản phẩm đột phá về công nghệ, như internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, robot..., bảo đảm các nghiên cứu có tính ứng dụng và hiệu quả cao trong hiện thực đời sống.
Bốn là, đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động hội nhập quốc tế về phát triển khoa học và công nghệ nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến, sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới.
Hội nhập quốc tế để tiếp thu những thành tựu của nhân loại về phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời có kế hoạch điều chỉnh nhằm hạn chế những khó khăn, bất cập. Tiếp tục xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu chung trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương, đa phương. Khuyến khích hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giữa các doanh nghiệp, các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức, cá nhân trong nước với các đối tác nước ngoài. Thu hút nguồn kinh phí từ nước ngoài thông qua các dự án nghiên cứu tại Việt Nam. Tăng cường tổ chức và phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế tại Việt Nam; tích cực tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học ở nước ngoài. Tổ chức triển lãm giới thiệu các thành tựu khoa học và công nghệ mới, tiên tiến của các nước và Việt Nam.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 78.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr. 78-79.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 79.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. H.2005, tr. 320.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr. 488.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr. 657.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 78.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 199-120.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 115.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 140.
11. “Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 15/10/2025, https://nhandan.vn/du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-post915432.html.
12. “Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Tlđd.