1. Chính sách phát triển nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chính sách phát triển nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay là một trong những chính sách lớn, mang tính nhân văn sâu sắc và thể hiện rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế. Trong điều kiện tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu nhà ở của người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp và các đối tượng chính sách xã hội ngày càng tăng cao, trong khi thị trường nhà ở thương mại chủ yếu phục vụ phân khúc trung và cao cấp, thì phát triển nhà ở xã hội trở thành yêu cầu khách quan, cấp thiết nhằm bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự đô thị và phát triển bền vững.
Ngay từ Đại hội IX của Đảng, chủ trương phát triển đa dạng các loại hình nhà ở, có chính sách hỗ trợ đối tượng yếu thế đã được khẳng định và đến Đại hội XIII, quan điểm ấy được nâng lên tầm chiến lược, với định hướng rõ ràng: Đẩy mạnh tuyên truyền mục tiêu giảm nghèo sâu rộng, khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Phát triển và mở rộng các loại hình nhà ở; đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà ở giá rẻ, nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp; tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở theo cơ chế thị trường cho các đối tượng chính sách xã hội. Phấn đấu đến năm 2025, diện tích nhà ở bình quân toàn quốc khoảng 27 - 27,5 m2 sàn/người1.
Luật Nhà ở năm 2014 là nền tảng pháp lý cơ bản cho chính sách phát triển nhà ở xã hội. Luật quy định rõ nguyên tắc, đối tượng, cơ chế hỗ trợ và chính sách ưu đãi đối với việc đầu tư, xây dựng, quản lý và sử dụng nhà ở xã hội. Theo đó, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thông qua cơ chế ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế, thủ tục hành chính và chính sách bảo đảm lợi nhuận hợp lý. Bước sang giai đoạn mới, Quốc hội đã thông qua Luật Nhà ở (sửa đổi) năm 2023, có hiệu lực từ ngày 1/1/2025, đánh dấu bước tiến lớn trong thể chế hóa chủ trương của Đảng. Luật mới đã mở rộng đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội, không chỉ bao gồm người thu nhập thấp, công nhân, viên chức, mà còn mở rộng đến sĩ quan, lực lượng vũ trang, sinh viên, hộ nghèo, cận nghèo, người yếu thế ở khu vực nông thôn. Luật đồng thời rút ngắn thủ tục phê duyệt dự án, tăng cường quyền chủ động cho chủ đầu tư, bổ sung hình thức thuê, thuê mua linh hoạt, miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ưu đãi thuế và lãi suất tín dụng, qua đó tạo sức hấp dẫn lớn hơn cho doanh nghiệp tham gia phát triển phân khúc nhà ở xã hội.
Cùng với Luật Nhà ở, Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2024 được Quốc hội thông qua đã có những điều chỉnh quan trọng nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quản lý đất đai, quy định rõ trách nhiệm của các địa phương trong việc bố trí tối thiểu 20% quỹ đất trong các dự án nhà ở thương mại hoặc khu đô thị mới để phát triển nhà ở xã hội. Trường hợp không bố trí được quỹ đất, chủ đầu tư phải nộp một khoản tài chính tương đương để Nhà nước tạo lập quỹ đất khác cho mục tiêu này. Như vậy, cơ chế pháp lý mới đã khắc phục tình trạng thiếu quỹ đất dành cho nhà ở xã hội, đồng thời tăng tính ràng buộc đối với chủ đầu tư.
Bên cạnh hai đạo luật quan trọng nêu trên, ngày 22/12/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2161/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược phát triển nhà ở đã thể hiện sâu sắc quan điểm, mục tiêu về diện tích, chất lượng, định hướng chính sách và đề ra các nhóm giải pháp toàn diện nhằm phát triển nhà ở, gồm: Nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở phục vụ tái định cư, nhà ở theo chương trình mục tiêu, nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình và cá nhân, cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, quản lý, vận hành nhà chung cư. Đây là chiến lược lớn của Đảng, Nhà nước về vấn đề nhà ở, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nhà ở.
Chiến lược phát triển nhà ở thể hiện rõ quan điểm toàn diện về vấn đề phát triển nhà ở và vai trò của các chủ thể trong việc giải quyết nhu cầu nhà ở của nhân dân, một quyền cơ bản và là điều kiện phát triển con người Việt Nam. Trong đó, nhấn mạnh Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển nhà ở theo cơ chế thị trường đáp ứng mọi nhu cầu của người dân, đồng thời có chính sách để hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở nhằm góp phần ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đô thị, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại.
Song song với việc hoàn thiện thể chế, Chính phủ đặc biệt chú trọng đến chính sách tín dụng, coi đây là công cụ then chốt thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội. Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19 đã dành 15.000 tỷ đồng hỗ trợ tín dụng thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội để phát triển nhà ở xã hội và nhà ở công nhân. Tiếp đó, Ngân hàng Nhà nước triển khai gói tín dụng 120.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2023 - 2030, dành cho cả doanh nghiệp đầu tư và người dân mua nhà ở xã hội, với lãi suất thấp hơn thị trường từ 1,5 đến 2%. Các ngân hàng thương mại nhà nước như BIDV, Vietcombank, Agribank, VietinBank được giao nhiệm vụ tham gia chương trình này, tạo điều kiện cho người lao động được vay tới 80% giá trị căn hộ với thời hạn 15 - 20 năm. Đây là bước tiến cụ thể hóa chủ trương huy động nguồn lực xã hội, kết hợp vốn công và vốn tư nhân, nhằm phát triển bền vững chính sách nhà ở xã hội.
Chính sách đất đai, quy hoạch và hạ tầng là một hợp phần quan trọng khác của chính sách phát triển nhà ở xã hội. Chính phủ yêu cầu các địa phương phải tích hợp quy hoạch phát triển nhà ở xã hội vào quy hoạch tổng thể đô thị, khu công nghiệp và vùng kinh tế, bảo đảm gắn kết với hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ. Nhà ở xã hội phải được quy hoạch ở vị trí thuận tiện giao thông, có đầy đủ trường học, cơ sở y tế, công viên và các tiện ích công cộng để nâng cao chất lượng sống cho người dân, tránh tình trạng các khu nhà ở xã hội trở thành “khu xa cách” hoặc kém tiện ích. Ngoài ra, các địa phương được phép linh hoạt bố trí quỹ đất hoặc hình thành quỹ tài chính tương đương để phát triển nhà ở xã hội trong trường hợp không đủ quỹ đất trực tiếp. Chính phủ khuyến khích mô hình đô thị công nhân, khu nhà ở tích hợp dịch vụ xã hội, nhà ở xã hội thông minh tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường nhằm đáp ứng tiêu chí phát triển bền vững.
Để bảo đảm công bằng và minh bạch, chính sách phân phối và quản lý nhà ở xã hội cũng được quy định chặt chẽ. Đối tượng được hưởng phải là những người chưa có nhà ở, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ trước đó và có thu nhập không vượt mức trung bình khu vực. Việc xét duyệt do Sở Xây dựng chủ trì, công khai danh sách trên cổng thông tin điện tử, đồng thời áp dụng cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên nhằm tránh tiêu cực, trục lợi. Người mua nhà ở xã hội chỉ được phép chuyển nhượng sau ít nhất năm năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu; nếu vi phạm, Nhà nước có quyền thu hồi. Bộ Xây dựng đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà ở, hướng tới kết nối liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương, qua đó số hóa toàn bộ quy trình quản lý, xét duyệt, phân phối, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao tính minh bạch.
Có thể thấy, trong những năm gần đây, chính sách phát triển nhà ở xã hội của Việt Nam đã đạt được bước tiến lớn cả về thể chế và cơ chế điều hành. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, cơ chế tín dụng ưu đãi được mở rộng, trách nhiệm của địa phương được quy định rõ ràng hơn, vai trò của doanh nghiệp tư nhân được đề cao, và quy trình quản lý ngày càng minh bạch, hiện đại hóa. Tuy nhiên, vẫn còn không ít hạn chế cần tiếp tục tháo gỡ, nhất là ở khâu thực thi. Một số địa phương chưa nghiêm túc dành đủ quỹ đất 20% cho nhà ở xã hội; tiến độ giải ngân các gói tín dụng ưu đãi còn chậm; thủ tục đầu tư, phê duyệt dự án vẫn rườm rà và đặc biệt là sự phối hợp giữa các bộ, ngành chưa đồng bộ.
Để chính sách nhà ở xã hội thực sự đi vào cuộc sống, cần kiên trì hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ giữa Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Đầu tư và Luật Xây dựng; đẩy nhanh tiến độ triển khai Đề án một triệu căn hộ; tăng cường giám sát, kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi lợi dụng chính sách; khuyến khích mô hình hợp tác công - tư, huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội hóa. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xét duyệt, theo dõi, dự báo nhu cầu nhà ở xã hội, nhằm hướng tới quản trị thông minh, hiệu quả và công bằng.
Chính sách phát triển nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay, xét đến cùng, không chỉ là chính sách an sinh, mà còn là chính sách phát triển góp phần tạo dựng nền tảng xã hội ổn định, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững. Khi hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, cơ chế tín dụng và đất đai được khai thông, cùng với quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và sự đồng thuận xã hội, mục tiêu “mỗi người dân có chỗ ở phù hợp, an toàn và bền vững” sẽ trở thành hiện thực, thể hiện sinh động bản chất nhân văn và ưu việt của chế độ ta.
2. Thực trạng triển khai chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay
Sau gần một thập niên thực hiện Luật Nhà ở năm 2014 và các nghị định hướng dẫn, đặc biệt là Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP, cùng với việc triển khai Đề án “Xây dựng ít nhất một triệu căn nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030”, chính sách phát triển nhà ở xã hội ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển đô thị bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng, việc triển khai chính sách vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập về thể chế, nguồn lực, thủ tục và hiệu quả thực thi, đòi hỏi sự điều chỉnh, hoàn thiện và giám sát chặt chẽ hơn trong giai đoạn tới.
Tính đến hết năm 2024, theo báo cáo của Bộ Xây dựng, cả nước đã hoàn thành hơn 315 dự án nhà ở xã hội với tổng số khoảng 157.000 căn hộ, tương đương hơn 8,1 triệu mét vuông sàn xây dựng. Ngoài ra, đang có khoảng 430 dự án khác trong quá trình triển khai, với quy mô hơn 460.000 căn hộ và tổng vốn đầu tư ước tính khoảng 600.000 tỷ đồng. Nếu so sánh với mục tiêu xây dựng ít nhất một triệu căn hộ đến năm 2030 theo Quyết định số 338/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, kết quả đạt được mới chỉ tương đương khoảng 40% kế hoạch, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn nhưng cũng phản ánh rõ những thách thức không nhỏ trong khâu tổ chức thực hiện.

Các địa phương có kết quả nổi bật trong triển khai chính sách là Bình Dương, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Hải Phòng. Trong đó, Bình Dương được xem là hình mẫu tiêu biểu của cả nước về phát triển nhà ở xã hội cho công nhân khu công nghiệp, với mô hình Becamex IDC được Ngân hàng Thế giới và nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao. Mô hình này thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân, bảo đảm tính khả thi và bền vững trong cả tài chính lẫn hạ tầng xã hội. Bình Dương hiện có hơn 50 dự án nhà ở xã hội, cung cấp hàng trăm nghìn chỗ ở cho công nhân với giá thuê hợp lý, hạ tầng đồng bộ, được quản lý chặt chẽ, là hình ảnh điển hình về “đô thị công nhân hiện đại”. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hai trung tâm kinh tế – xã hội lớn nhất nước, cũng đã tích cực triển khai nhiều dự án nhà ở xã hội như Kim Chung (Đông Anh), Đại Mỗ, Tây Nam Linh Đàm, Lê Thành An Lạc, Vĩnh Lộc B... Tuy nhiên, tại hai đô thị này, việc phát triển nhà ở xã hội vẫn gặp khó do quỹ đất hạn chế, chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng lớn và thủ tục đầu tư phức tạp, dẫn tới tiến độ chậm, nguồn cung chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân.
Bên cạnh các kết quả đạt được, việc triển khai chính sách nhà ở xã hội trên phạm vi cả nước vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế đáng lưu ý. Trước hết là vấn đề quỹ đất. Mặc dù quy định pháp luật yêu cầu các chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại, khu đô thị mới phải dành tối thiểu 20% diện tích đất ở đã có hạ tầng kỹ thuật để xây dựng nhà ở xã hội, nhưng thực tế nhiều địa phương chưa thực hiện nghiêm. Một số tỉnh, thành phố chưa xác định cụ thể quỹ đất trong quy hoạch, hoặc chọn bố trí ở những khu vực xa trung tâm, hạ tầng yếu, không thuận lợi cho sinh sống và làm việc, khiến sức hấp dẫn của các dự án thấp. Có nơi, chủ đầu tư xin chuyển nghĩa vụ bằng tiền nhưng lại chậm nộp hoặc không sử dụng nguồn tiền đó để tạo quỹ đất mới cho nhà ở xã hội, làm giảm hiệu quả chính sách.
Vấn đề thứ hai là nguồn vốn tín dụng và cơ chế tài chính. Dù Chính phủ đã ban hành nhiều gói hỗ trợ tín dụng quy mô lớn, như gói 30.000 tỷ đồng giai đoạn 2013 - 2016, gói 15.000 tỷ đồng theo Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2022, hay gói 120.000 tỷ đồng triển khai từ năm 2023, song tốc độ giải ngân còn chậm, điều kiện vay vẫn khó khăn, đặc biệt với người thu nhập thấp không có tài sản thế chấp hoặc thu nhập không ổn định. Đối với doanh nghiệp, lãi suất ưu đãi chưa đủ hấp dẫn trong bối cảnh giá đất, giá vật liệu và chi phí nhân công tăng nhanh; lợi nhuận định mức 10% theo quy định cũng không khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân mạnh dạn tham gia. Vì vậy, số lượng doanh nghiệp chủ động đầu tư nhà ở xã hội còn ít, chủ yếu vẫn trông chờ sự hỗ trợ từ Nhà nước.
Thứ ba, thủ tục đầu tư, phê duyệt dự án vẫn còn nhiều tầng nấc, rườm rà. Mặc dù Luật Nhà ở sửa đổi năm 2023 đã hướng tới việc đơn giản hóa quy trình, song trên thực tế, ở nhiều địa phương, dự án nhà ở xã hội vẫn phải trải qua nhiều khâu thẩm định, xin phép, xác nhận ưu đãi, phê duyệt giá bán, giá thuê... kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư, khiến chi phí tài chính tăng và giảm tính khả thi của dự án. Một số doanh nghiệp phản ánh rằng thời gian hoàn tất thủ tục để được công nhận dự án nhà ở xã hội có thể kéo dài từ một đến hai năm, trong khi thị trường bất động sản biến động liên tục, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.
Thứ tư, công tác quản lý, giám sát và phân phối nhà ở xã hội vẫn là điểm yếu. Một số nơi vẫn còn tình trạng người không đúng đối tượng được xét duyệt mua hoặc thuê nhà ở xã hội; có trường hợp được hưởng chính sách nhưng sau đó chuyển nhượng trái phép, hoặc cho thuê lại với giá cao hơn quy định. Hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý chưa hoàn thiện, việc kiểm tra, rà soát đối tượng thụ hưởng còn thủ công, thiếu sự liên thông giữa các cơ quan. Dù Bộ Xây dựng đã triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà ở và thị trường bất động sản, song việc cập nhật và chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương còn chậm, dẫn tới khó kiểm soát tình trạng trục lợi chính sách.
Ngoài ra, trong triển khai chính sách, nhận thức của một bộ phận người dân và cả chính quyền cơ sở về nhà ở xã hội vẫn chưa đầy đủ. Không ít người còn quan niệm rằng nhà ở xã hội đồng nghĩa với nhà giá rẻ, chất lượng thấp, trong khi trên thực tế, nhiều dự án được thiết kế hiện đại, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn và tiện ích. Ở chiều ngược lại, một số chính quyền địa phương vẫn coi phát triển nhà ở xã hội là nhiệm vụ mang tính phúc lợi, chưa xem đây là một lĩnh vực kinh tế – xã hội quan trọng có thể tạo động lực phát triển thị trường bất động sản bền vững. Tư duy quản lý này khiến chính sách khó lan tỏa mạnh mẽ, nhất là khi không có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và các chủ thể kinh tế.
Một vấn đề khác cũng cần được nhìn nhận là sự chênh lệch lớn về tiến độ và hiệu quả triển khai giữa các vùng, miền. Ở các tỉnh, thành phố có tốc độ công nghiệp hóa cao, như Bình Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Đồng Nai, việc phát triển nhà ở xã hội gắn liền với nhu cầu thực tế của công nhân, được quy hoạch gần khu công nghiệp, có sự tham gia tích cực của doanh nghiệp nhà nước và tư nhân. Ngược lại, ở nhiều địa phương miền Trung, miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, các dự án nhà ở xã hội triển khai chậm, quy mô nhỏ, thiếu vốn đầu tư, thiếu hạ tầng và ít người có nhu cầu thuê mua. Điều này dẫn tới sự mất cân đối vùng miền, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển hài hòa và bao trùm mà Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đã đặt ra.
Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành trong quá trình thực hiện chính sách vẫn còn thiếu chặt chẽ. Bộ Xây dựng là cơ quan đầu mối nhưng phụ thuộc nhiều vào quy hoạch, quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chính sách tài chính của Bộ Tài chính, và chính sách tín dụng của Ngân hàng Nhà nước. Ở cấp địa phương, sự phối hợp giữa Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư và chính quyền quận, huyện đôi khi thiếu đồng bộ, dẫn tới ách tắc hoặc chậm tiến độ dự án. Điều này cho thấy nhu cầu cần thiết của việc xây dựng một cơ chế điều phối thống nhất, có tính ràng buộc, bảo đảm thông tin thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Dẫu còn nhiều khó khăn, có thể khẳng định rằng chính sách phát triển nhà ở xã hội của Việt Nam đang đi đúng hướng. Việc Nhà nước ban hành hàng loạt cơ chế ưu đãi, hỗ trợ tài chính và định hướng pháp lý đã tạo hành lang thuận lợi, đồng thời nâng cao nhận thức xã hội về ý nghĩa của chính sách này. Số lượng dự án tăng nhanh trong giai đoạn 2021 - 2024 cho thấy sự chuyển biến tích cực trong thực thi. Một số địa phương đã hình thành quỹ phát triển nhà ở xã hội riêng, thiết lập mô hình quản lý vận hành chuyên nghiệp, áp dụng công nghệ số trong quản lý và minh bạch thông tin. Đây là tín hiệu đáng mừng, tạo nền tảng để hoàn thành mục tiêu 1 triệu căn hộ đến năm 2030.
Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần khắc phục triệt để những hạn chế đã được chỉ ra. Cần có giải pháp quyết liệt hơn trong việc thực hiện quy định về quỹ đất 20%, minh bạch hóa quá trình xét duyệt dự án và phân phối nhà ở xã hội, bảo đảm người dân thực sự có nhu cầu được tiếp cận công bằng. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi theo hướng linh hoạt, mở rộng đối tượng và giảm bớt điều kiện vay, song song với việc tăng cường giám sát, chống trục lợi chính sách.
Nhìn tổng thể, thực trạng triển khai chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam phản ánh một quá trình vừa làm, vừa điều chỉnh, vừa hoàn thiện thể chế trong điều kiện đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thành công bước đầu là không thể phủ nhận, nhưng để đạt được mục tiêu toàn diện và bền vững, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, cùng với quyết tâm chính trị cao, cơ chế giám sát chặt chẽ và tinh thần đổi mới trong tư duy phát triển đô thị và an sinh xã hội. Khi các chính sách được thực thi hiệu quả, nhà ở xã hội sẽ không chỉ là biểu tượng của chính sách nhân văn, mà còn trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, củng cố niềm tin xã hội và khẳng định ưu thế của mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang kiên định xây dựng.
3. Một số khuyến nghị
Một là, cần sự thay đổi về nhận thức, tư duy về chính sách nhà ở xã hội, bỏ hình thức đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, thu hẹp đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội, định nghĩa về người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị, không phải là tư duy về sở hữu nữa mà là sử dụng nhà ở một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu về chỗ ở để phục vụ sinh hoạt, làm việc và sinh sống một cách thực tế. Theo đó, đẩy mạnh phát triển nhà ở cho thuê, trong đó có hình thức nhà ở xã hội chỉ để cho thuê, cho thuê mua, vừa đáp ứng được nhu cầu, vừa phù hợp với khả năng chi trả của đại bộ phận người dân có thu nhập thấp.
Hai là, thiết lập một Ủy ban tầm cỡ quốc gia để điều hành chuyên trách lĩnh vực nhà ở xã hội như mô hình HDB1 của Singapore đã hoạt động hiệu quả và cung cấp nhu cầu nhà ở xã hội cho tới 98% người dân Singapore.
Ba là, thành lập một doanh nghiệp do Ủy ban nói trên điều hành và chủ quản về nguồn vốn để thực hiện các mục tiêu xây dựng quỹ nhà ở xã hội theo yêu cầu, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội.
Bốn là, phát triển các định chế tài chính mới như Quỹ tiết kiệm nhà ở, Quỹ phát triển nhà ở quốc gia để phát triển nhà ở giá rẻ... và yêu cầu có sự đóng góp của người thuê mua nhà ở xã hội.
Năm là, xây dựng hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về dân cư, nhà ở, thu nhập, đăng ký cư trú… phục vụ cho việc dự báo nhu cầu nhà ở của người dân, việc xác nhận thông tin của người dân khi đăng ký thuê, thuê mua nhà ở xã hội.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 138.