Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - Cơ hội, thách thức và những yêu cầu mới

CT&PT - Bài viết phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trong đó nổi bật là sự đan xen giữa cơ hội và thách thức về chính trị, kinh tế, an ninh và khoa học - công nghệ… Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ vai trò then chốt của phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, như một đột phá chiến lược nhằm bảo đảm phát triển nhanh và bền vững đất nước; những yêu cầu mới đối với phát triển nguồn nhân lực, nhấn mạnh các giải pháp về dân số, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và hoàn thiện đồng bộ hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, coi đây là nền tảng quyết định trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.

1. Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên mới

1.1. Những cơ hội 

Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trên thế giới, là khát vọng của nhân loại. 

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mặc dù gặp một số trở ngại nhưng vẫn tiếp tục phát triển, thu hút sự tham gia ngày càng đông đảo của các quốc gia trên thế giới, từ đó xuất hiện ngày càng nhiều cấu trúc và phương thức hợp tác, đa tầng, đa quy mô, song phương, đa phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn thế giới. Chủ nghĩa đa phương phát triển vì lợi ích địa - chính trị; địa - kinh tế; nhiều nước gác lại tranh chấp, đối đầu để cùng hợp tác, khai thác và bổ sung thế mạnh nhằm phân chia lợi ích. Các cường quốc tiếp tục đóng vai trò quyết định trong quan hệ quốc tế; các quốc gia nhỏ và vừa có nhiều cơ hội hơn trong việc giữ vững độc lập, tự chủ và tham gia sâu vào việc định hình các quy tắc, luật lệ và thực hiện các mục tiêu chung trên trường quốc tế. Xu thế dân chủ hóa quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển với vai trò ngày càng quan trọng của các tổ chức đa phương và tác động của thông tin truyền thông, mạng xã hội. Các nước trong khu vực đều có nhu cầu giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác, phát triển; tập trung cho phát triển và cùng có lợi.

Quan hệ hòa bình, hợp tác giữa Việt Nam và các nước.

Chính sách ngoại giao và quan hệ giữa các nước lớn hiện nay cũng như trong những năm tới mở ra cơ hội để Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ với từng nước. Đồng thời, điều này cho phép Việt Nam vận dụng sách lược, không để bất kỳ nước lớn nào chi phối quan hệ đối ngoại, tránh được tình huống các nước lớn liên kết, thỏa hiệp với nhau để gây bất lợi cho nước ta, hoặc đẩy nước ta vào thế phải đối đầu.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động.

Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ và tự do hóa thương mại, đầu tư của các nước vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương được tăng cường. Cùng với đó, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới, tạo thuận lợi đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ vốn đầu tư và công nghệ cho phát triển đất nước. ASEAN tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong hợp tác khu vực và thu hút sự quan tâm của các đối tác lớn ngoài khu vực.

Việt Nam có cơ hội mới từ quá trình điều chỉnh chiến lược, chính sách của các nước lớn và các nước láng giềng.

Cán cân quyền lực và trọng tâm chiến lược toàn cầu đang dịch chuyển sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương khiến các nước lớn điều chỉnh chính sách theo hướng coi trọng khu vực này. Cấu trúc khu vực đa tầng nấc đang hình thành, ASEAN tiếp tục giữ vai trò trung tâm khi vừa khuyến khích sự tham gia của nhiều nước lớn, vừa hạn chế được sự “bá quyền”. Đây là điều kiện thuận lợi để triển khai chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam. Việt Nam có cơ hội tranh thủ vị trí địa chiến lược, tăng cường đan xen lợi ích với các đối tác để phục vụ các mục tiêu bảo đảm an ninh và thúc đẩy phát triển đất nước, đồng thời vẫn giữ được hòa hiếu giữa các bên.

Việt Nam có điều kiện tận dụng cơ hội của nước đi sau trong việc tranh thủ thị trường, nguồn vốn và công nghệ, tham gia vào mạng lưới sản xuất và phân phối ở khu vực và toàn cầu.

Phát huy những thành tựu đạt được trong gần 40 năm đổi mới, Việt Nam có điều kiện để học hỏi và tận dụng lợi thế do thời cuộc đem lại, tránh những thất bại của các nước đi trước, đặc biệt là tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự hội tụ của công nghệ mới dựa trên cơ sở công nghệ số, tiếp tục tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng cao hơn, chi phí thấp hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước hiệu quả. Việt Nam đi sau các nước trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, nhưng hiện nay đang đi cùng các nước và đi thẳng vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nên không mất nhiều chi phí chuyển đổi. Nếu tận dụng tốt điều này, Việt Nam có thể phát triển bứt phá, từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến trên thế giới.

Xu hướng phát triển của các liên kết kinh tế tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu tiếp tục tạo ra những cơ hội cho Việt Nam tranh thủ thị trường, vốn, công nghệ. Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu của các nền kinh tế và các tập đoàn đa quốc gia trong và sau khủng hoảng kinh tế cũng tạo cơ hội gia tăng liên kết giữa các ngành, các doanh nghiệp của Việt Nam vào mạng lưới sản xuất, phân phối ở khu vực và toàn cầu.

Tiềm năng và vị thế của đất nước.

Việt Nam có vị trí địa - kinh tế, địa - chiến lược đặc biệt, nằm trên tuyến đường huyết mạch nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu và Trung Đông, đồng thời cũng nằm trên hệ thống kết nối đường bộ của các quốc gia Đông Nam Á và châu Á. Hiện nay, hơn 90% lượng vận tải hàng hóa của thế giới qua đường biển, trong đó 45% phải đi qua Biển Đông. Việt Nam ở cạnh Trung Quốc, gần với Nhật Bản, Hàn Quốc - những quốc gia có tiềm lực kinh tế, thị trường, tài chính, khoa học - công nghệ mạnh, tạo cơ hội lớn cho sự giao lưu, hợp tác phát triển. Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á - một khu vực có nhiều tiềm năng, có điều kiện phát triển nhanh, năng động nhất thế giới. Với vị trí chiến lược như trên, Việt Nam có nhiều lợi thế để thu hút sự quan tâm của các nước lớn.

Đến năm 2025, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, xây dựng được mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 37 nước, trong đó có tất cả các nước lớn và toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực. Đảng ta cũng đã có quan hệ với 259 chính đảng tại 119 nước1. Tính đến tháng 10/2024, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế hệ mới với các trung tâm kinh tế lớn nhất của thế giới2. Năm 2025, Việt Nam trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới3. Vị thế quốc tế của Việt Nam trên thế giới ngày càng được củng cố và tăng cường, không chỉ tạo cơ hội để Việt Nam tham khảo kinh nghiệm phát triển của các nước tiên tiến và tăng cường hợp tác phát triển, mà còn tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể nhận biết, ngăn ngừa và phòng, chống hiệu quả từ sớm, từ xa những yếu tố có nguy cơ đe dọa từ bên ngoài.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng về chuyển đổi xanh và có triển vọng trở thành trung tâm về năng lượng tái tạo ở Đông Nam Á. Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 8 trong 10 quốc gia có đầu tư vào năng lượng tái tạo cao của thế giới4

Hiện tại, Việt Nam có lợi thế cơ cấu dân số “vàng” và sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu. Đầu năm 2025, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao (khoảng 53 triệu người)5, tỷ lệ người phụ thuộc thấp là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội.  

1.2. Những thách thức chủ yếu

Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng dẫn đến những khó khăn cho Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý quan hệ với từng nước, với các đối tác và đặc biệt là trong duy trì sự đoàn kết, thống nhất trong ASEAN.

Sự lựa chọn chính sách và xử lý quan hệ với các nước lớn vẫn sẽ là một trong những khó khăn, thách thức lớn nhất đối với an ninh và phát triển của Việt Nam trong thời gian tới. Do đó, Đảng và Nhà nước phải hết sức năng động, linh hoạt và khôn khéo để Việt Nam không bị rơi vào thế “kẹt” trong các “cuộc mặc cả” giữa các nước lớn; đồng thời, đem lại lợi ích lớn nhất cho quốc gia trong quan hệ với các nước lớn.

Việc xử lý thỏa đáng quan hệ giữa Việt Nam với ba nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Campuchia và vấn đề Biển Đông sẽ tiếp tục là thách thức lớn trong những năm tới.

Ảnh hưởng của các nước lớn tới Lào và Campuchia ngày một gia tăng, tạo nên thách thức đối với an ninh ở sườn phía Tây và Tây Nam của Việt Nam. Do đó, việc đề ra chính sách đối ngoại hợp lý để có thể giữ được quan hệ với Lào, Campuchia, bảo đảm an ninh biên giới nhưng không tiêu hao nguồn lực quá lớn là vấn đề rất hệ trọng.

Vấn đề Biển Đông vẫn là thách thức lớn đối với an ninh và phát triển của nước ta, vậy nên cần phải có cách xử lý linh hoạt, thỏa đáng để giữ vững độc lập, chủ quyền của đất nước.

Các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, sắc tộc để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Các thế lực phản động, thù địch không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm đòi chuyển hóa chế độ, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, tự do báo chí, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang...

Một số thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.

Các thách thức an ninh phi truyền thống (biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh tài chính, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, ô nhiễm môi trường, an ninh mạng...) có thể sẽ phức tạp, nghiêm trọng hơn trong khi năng lực ứng phó của đất nước còn nhiều bất cập. Trong những năm tới, các thách thức như: dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, không khí, nguồn nước... tiếp tục diễn ra nghiêm trọng, nhất là vấn đề biến đổi khí hậu và nguồn nước sông Mê Kông. Vấn đề sử dụng sông Hồng và các con sông khác cũng có thể trở thành thách thức đối với an ninh và phát triển của đất nước.

Thách thức trong việc bắt kịp và chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.

Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học và công nghệ, nền kinh tế tri thức, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn phát triển đã tạo ra những thuận lợi nhưng cũng đưa tới nhiều thách thức mới đối với nền độc lập, chủ quyền quốc gia. Một trong những thách thức của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là sự hình thành và phát triển của tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm khủng bố quốc tế và tội phạm sử dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế còn khiến nhiều hoạt động và đời sống con người trở nên kém an toàn, từ an toàn kinh tế, tài chính đến an toàn chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu phải tái cơ cấu nền kinh tế trên diện rộng, chi phí cao, làm giảm mạnh lợi thế lao động giá rẻ, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, với sự áp đảo của các doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam cũng như các doanh nghiệp kinh doanh theo lối truyền thống khó có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Nền kinh tế trong nước phát triển chưa thực sự bền vững, chất lượng và hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp trong khi nguồn nhân lực còn hạn chế.

Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây chưa thật sự ổn định. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư, nhất là vốn đầu tư của Nhà nước còn thấp. Nhiều chỉ tiêu đề ra không đạt về năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhiều sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ, sức cạnh tranh thấp cả ở trong nước và nước ngoài.

Quan hệ sản xuất trên một số mặt chưa phù hợp. Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Kinh tế tập thể chưa mạnh. Những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường chưa được chú ý đúng mức; chính sách phân phối còn nhiều bất hợp lý.

Kinh tế phát triển năng động nhưng chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng chưa cao, kết cấu hạ tầng kém, nguồn nhân lực chưa thích ứng, năng lực điều hành kinh tế vĩ mô và quản trị quốc gia yếu kém đã cản trở sự phát triển của đất nước. Chính thực tế này đã gây ra những nguy cơ tiềm tàng mới, đặc biệt là hệ thống tài chính tiền tệ yếu kém, thị trường vốn phát triển nhanh nhưng dễ đổ vỡ, thị trường bất động sản có những “cơn sốt” cao hoặc “đóng băng” đan xen, tỷ lệ lạm phát cao...

Xu hướng phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số là nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhu cầu về lao động chất lượng cao tăng lên, do đó nhu cầu đối với lao động phổ thông, trình độ tay nghề thấp giảm đi nhanh chóng. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được thực hiện sẽ tạo ra khoảng 2 triệu việc làm mới trong các ngành công nghệ cao và tự động hóa, nhưng sẽ làm “thất thoát” khoảng 7 triệu việc làm trong các ngành lao động phổ thông và lao động trình độ thấp. Trong khi đó, già hóa dân số ở nước ta cũng đang trở thành vấn đề nổi cộm. Dự báo đến khoảng năm 2040, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ “dân số vàng”, chuyển từ thời kỳ “già hóa dân số” sang thời kỳ “dân số già”. Tình trạng này có tác động tiêu cực đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới.

2. Những yêu cầu mới đối với phát triển nguồn nhân lực

2.1. Bảo đảm đáp ứng yêu cầu về số lượng nguồn nhân lực

Để có nguồn nhân lực vững chắc - nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, nhiệm vụ quan trọng và trực tiếp nhất là công tác dân số. Trong nhiều năm qua, công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tốc độ gia tăng dân số đã được kiểm soát thành công, đạt mức sinh thay thế hợp lý, cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực, dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Từ năm 2007, nước ta bước vào thời kỳ “dân số vàng”, bảo đảm nguồn nhân lực phong phú phục vụ kế hoạch phát triển đất nước.

Tuy nhiên, tình hình dân số ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Đó là việc mất cân bằng giới tính khi sinh đang tăng cao, chưa có giải pháp đồng bộ để phát huy lợi thế của thời kỳ “dân số vàng”, trong khi quá trình già hóa dân số đang là xu hướng tất yếu. Bởi vậy, trong thời gian tới, công tác dân số cần chú trọng toàn diện đến quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững. Chỉ có như vậy mới bảo đảm cung ứng đầy đủ nguồn nhân lực cho phát triển đất nước.

2.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực mà trong đó người lao động có trình độ chuyên môn cao, được trang bị các kiến thức khoa học, công nghệ chuyên sâu và có khả năng thích ứng với các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ chuỗi khối (Blockchain). Người lao động cần có kỹ năng số từ cơ bản đến nâng cao, từ việc sử dụng công cụ văn phòng, nền tảng trực tuyến đến năng lực xử lý dữ liệu, lập trình, quản lý dự án công nghệ, biết sử dụng phần mềm quản lý công việc, công tác trực tuyến, thương mại điện tử; có trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh để có thể làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Người lao động cần có tư duy phản biện, không chỉ thực hiện những công việc được giao mà cần có khả năng phân tích, cải biến, đổi mới và đưa ra các kiến nghị có tính sáng tạo, có khả năng thích nghi với sự thay đổi liên tục của công nghệ và thị trường.

Vấn đề quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc tăng cường đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo. Cần đầu tư, hỗ trợ các trường đại học có đủ cơ sở nghiên cứu, ứng dụng, có khả năng cung cấp những kiến thức khoa học - công nghệ mới nhất. Muốn vậy, các trường trọng điểm của đất nước cần được đầu tư mạnh về thiết bị công nghệ mới, thu hút đội ngũ giảng viên và sinh viên làm nòng cốt cho phát triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho tương lai.

Đối với khoa học và công nghệ, cần xây dựng, nâng cao chuẩn mực khoa học trong hệ thống nghiên cứu ứng dụng, đổi mới phương pháp, quy chế thực hiện nghiên cứu khoa học một cách thuận lợi cho các nhà khoa học, nhanh chóng thay đổi các quy định “cứng nhắc” về tài chính và hành chính trong nghiên cứu khoa học. Khuyến khích đầu tư và triển khai nghiên cứu khoa học ở các doanh nghiệp lớn có điều kiện thuận lợi, gắn kết giữa đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp cho người lao động với nhu cầu thực tế của các ngành, nghề, doanh nghiệp và với xu hướng nhu cầu việc làm. Định hướng cho học sinh, sinh viên xác định mục tiêu học tập và lựa chọn nghề nghiệp từ sớm. Chú trọng bồi dưỡng nhân lực ở vùng nông thôn và miền núi.

Bên cạnh công tác giáo dục, đào tạo và các giải pháp khoa học - công nghệ, cần động viên, khuyến khích và tăng cường giáo dục đạo đức, kỷ luật lao động, ý thức công dân và khát vọng vươn lên của người lao động, tạo động lực cho sự phát triển đổi mới, sáng tạo.

2.3. Hoàn thiện đồng bộ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước cần thể hiện sự nhất quán, đồng bộ và dài hạn để phát huy các giá trị văn hóa, con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và tinh thần đoàn kết, nhất trí, đồng thuận.

Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội cần hướng tới phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo môi trường thuận lợi thu hút lao động và tăng hiệu quả sản xuất, lưu thông. Có cơ chế, thể chế, chính sách đặc thù, vượt trội nhằm thúc đẩy nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng, làm chủ công nghệ mới để hình thành hệ thống những cơ sở và doanh nghiệp sản xuất có trình độ cao ngang tầm quốc tế. Phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp tư nhân; lấy doanh nghiệp làm trung tâm nghiên cứu phát triển ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đất nước. Phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng, an toàn trên tài nguyên số và các cơ sở dữ liệu lớn.

Để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện đồng bộ, nhất quán “ba bảo bối” và “bốn cẩm nang”. “Ba bảo bối” chính là ba trụ cột nền tảng: (1) Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; (3) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. “Bốn cẩm nang” là bốn nghị quyết giúp Việt Nam cất cánh: (1) Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; (2) Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; (3) Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (4) Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Đó là những nền tảng trọng yếu, căn bản, thường xuyên, là cơ sở lý luận, thực tiễn cho các chính sách phát triển đất nước, trong đó có chính sách phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới. 


1. Xem Hà Anh: “Nửa đầu năm 2025, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 08/7/2025, https://nhandan.vn/nua-dau-nam-2025-giam-tyle-that-nghiep-va-ty-le-thieu-viec-lam-trong-do-tuoi-lao-dongpost892319.html.

2. Xem Gia Chính: “Việt Nam đứng thứ tám về đầu tư năng lượng tái tạo”, Báo điện tử VnExpress, ngày 23/4/2021, https:// vnexpress.net/viet-nam-dung-thu-tam-ve-dau-tu-nang-luong-taitao-4267099.html.

3. Xem Hòa An: “Suốt chặng đường 80 năm qua, ngoại giao Việt Nam luôn tận tụy phụng sự quốc gia, dân tộc”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 28/7/2025, https://nhandan.vn/suot-chang-duong-80nam-qua-ngoai-giao-viet-nam-luon-tan-tuy-phung-su-quoc-giadan-toc-post897025.html.

4. Xem “Tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 10/2024”, ngày 09/8/2023, https://trungtamwto.vn/thong-ke/12065-tong-hopcac-fta-cua-viet-nam-tinh-den-thang-112018.

5. Xem “Kinh tế Việt Nam - một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới”, Báo điện tử Vietnam Plus, ngày 30/4/2025, https://www. vietnamplus.vn/kinh-te-viet-nam-mot-trong-32-nen-kinh-te-lonnhat-the-gioi-post1035945.vnp.

 

 

 

 

Quý bạn đọc đặt sách/tạp chí vui lòng để lại thông tin